Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẤT LÂM NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT LÂM NGHIỆP 1. Những vấn đề lý luận về đất lâm nghiệp 1.Khái niệm đất lâm nghiệp Đất đai luôn đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng. Là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia. Như Các - Mác đã từng viết “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp”[4].
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên ban tặng cho loài người, là cơ sở quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, của mọi sinh vật trên trái đất. Đất đai là điều kiện vật chất cần thiết, là cơ sở đầu tiên, là nơi tìm được công cụ lao động, nguyên liệu lao động của mọi quá trình sản xuất. Đất đai càng đóng vai trò đặc biệt hơn trong sản xuất nông, lâm nghiệp ở nước ta. Với nền kinh tế chủ yếu phát triển về nông, lâm nghiệp nên diện tích đất nông nghiệp chiếm đa số trong đó ĐLN chiếm diện tích đáng kể.
ĐLN có quan niệm rất khác nhau trong mỗi giai đoạn phát triển của đất nước. Trước đây việc phân loại đất đai xuất phát từ nhiều tiêu chí khác nhau. Do đó, theo LĐĐ năm 1987 thì đất đai ở Việt Nam được chia thành 6 loại trong đó có ĐLN. Theo sự phân loại này, ĐLN là đất được xác định chủ yếu dùng vào sản xuất lâm nghiệp như trồng rừng, khai thác rừng, khoanh nuôi, tu bổ, cải tạo rừng, nghiên cứu thí nghiệm về lâm nghiệp; đất rừng cấm, vườn quốc gia; đất trồng rừng để phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ đất, cải tạo môi trường [36].
Đến LĐĐ năm 1993, căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu thì vẫn còn tồn tại với tên gọi ĐLN. Cụ thể tại Điều 43 LĐĐ năm 1993 quy định: “ĐLN được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất lâm nghiệp bao gồm đất có rừng tự nhiên, đất đang có rừng trồng và đất để sử dụng vào mục đích lâm nghiệp như trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ để phục hồi tự nhiên, nuôi dưỡng làm giàu rừng, nghiên cứu thí nghiệm về lâm nghiệp”. 8 Theo Điều 13 LĐĐ năm 2003 về phân loại đất, thì căn cứ vào mục đích sử dụng đất, không còn gọi là ĐLN nữa. ĐLN hiện nay chỉ là tên gọi quen thuộc từ trước khi LĐĐ năm 2003 có hiệu lực thi hành.
Theo LĐĐ 2003, chúng ta có thể hiểu ngắn gọn ĐLN là loại đất thuộc nhóm đất nông nghiệp. Ở thời kỳ này đất đai chia thành 3 nhóm gồm nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng. Do đó, không còn khái niệm ĐLN là một cơ cấu độc lập mà nằm trong một thể thống nhất của nhóm đất nông nghiệp. Nhóm đất theo quan niệm của LĐĐ năm 2003 và 2013 gồm nhiều loại đất khác nhau nằm trong một tổ hợp nhóm đất.
Bởi vậy ĐLN được hợp thành trong nhóm đất nông nghiệp. Căn cứ vào mục đích sử dụng đất có thể phân chia chi tiết ĐLN bao gồm 3 loại chính gồm: đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ và đất rừng sản xuất1. Cụ thể: + Rừng đặc dụng: loại rừng này được xác định nhằm mục đích bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái, nguồn gen thực vật và động vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa danh lam thắng cảnh, phục vụ nghỉ ngơi, du lịch. Vì vậy, đất rừng đặc dụng là loại đất có các rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng có di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng được xác định ở trên.
+ Rừng phòng hộ: Loại rừng này được xác định với mục đích sử dụng chủ yếu để xây dựng và phát triển rừng cho mục đích bảo vệ và điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, hạn chế thiên tai (chống gió bão, cản sóng bảo vệ đê ngăn nước mặn vùng ven biển…) điều hòa khí hậu, bảo đảm cân bằng sinh thái và an ninh môi trường. Như vậy đất rừng phòng hộ là loại đất có các rừng phòng hộ ven biển, các khu vực xung yếu, bảo vệ đê điều nhằm mục đích là bảo vệ môi trường sinh thái và điều hòa khí hậu. + Rừng sản xuất: Loại rừng này được xác định chủ yếu để xây dựng, phát triển rừng cho mục đích sản xuất, kinh doanh lâm sản (trong đó đặc biệt là gỗ và các loại đặc sản rừng) và kết hợp phòng hộ môi trường, cân bằng sinh thái. 1 Khoản 1 Điều 13 LĐĐ năm 2003; khoản 1 Điều 10 LĐĐ năm 2013 9 Theo Phụ lục 01 Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT2 thì ĐLN gồm: Đất rừng sản xuất (gồm đất có rừng tự nhiên sản xuất, đất có rừng trồng sản xuất, đất khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất, đất trồng rừng sản xuất); Đất rừng phòng hộ (gồm đất có rừng tự nhiên phòng hộ, đất có rừng trồng phòng hộ, đất khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ, đất trồng rừng phòng hộ); Đất rừng đặc dụng (gồm đất có rừng tự nhiên đặc dụng, đất có rừng trồng đặc dụng, đất khoanh nuôi phục hồi rừng đặc dụng, đất trồng rừng đặc dụng).
Trên cơ sở các phân tích trên có thể định nghĩa: ĐLN là loại đất thuộc nhóm đất nông nghiệp với mục đích sản xuất, kinh doanh lâm sản hoặc bảo vệ đất, nguồn nước chống xói mòn, phòng chống thiên tai, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.Đặc điểm của đất lâm nghiệp 1.1 Đặc điểm tự nhiên của đất lâm nghiệp a) Đặc điểm chung: Cũng giống như những loại đất đai khác, ĐLN có những đặc điểm tự nhiên chung sau đây: - Đất đai nói chung và ĐLN nói riêng bị giới hạn về mặt diện tích, hay nói cách khác nó bị cố định về số lượng. Đây là đặc điểm quan trọng nhất của đất đai nói chung, đòi hỏi trong quá trình sử dụng, quản lý phải đảm bảo tiết kiệm, có hiệu quả, phải xem xét kỹ lưỡng khi bố trí sử dụng nhưng đồng thời cũng phải đảm bảo tính cân bằng tương đối về cung cho các loại đất. - ĐLN có vị trí cố định, không thể di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác. Tính cố định của đất đai gắn liền với môi trường mà đất đai chịu chi phối (nguồn gốc hình thành, khí hậu sinh thái và những tác động khác của thiên nhiên).
Vị trí của ĐLN có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế trong quá trình khai thác sử dụng. b) Đặc điểm đặc trưng: Ngoài những đặc điểm chung của đất đai nêu trên, ĐLN còn có một số đặc điểm riêng cơ bản sau đây: 2 Mục đích sử dụng đất được ghi trên bản đồ địa chính (mục 13 phụ lục số 01 Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT 10 - Thứ nhất, ĐLN là loại đất thường có địa hình phức tạp, đi lại khó khăn; độ dốc cao, dễ bị sạt lở, xói mòn, nắn dòng chảy, thay đổi mặt phẳng của đất; - Thứ hai, trên ĐLN thường có cây lâm nghiệp rậm rạp, chiều cao che khuất tâm nhìn của con người; đứng ở một vị trí nhất định trên đất, rất khó để quan sát vị trí khác cách xa hàng trăm mét nên rất khó xác định được các đường đồng mức (đường bình độ), các sườn, các đỉnh và các lũng, khe trên khu đất. - Thứ ba, vị trí ĐLN thường cách xa các đô thị, các khu dân cư nên việc xác định mốc giới đất theo vị trí các công trình dân dụng là rất khó khăn và thiếu chính xác. - Thứ tư, độ màu mỡ, phì nhiêu của đất phụ thuộc rất lớn vào quá trình bảo vệ và cải tạo đất, đồng thời cũng rất dễ bị bạc màu, xói mòn.
- Thứ năm, ĐLN và rừng cung cấp góp phần chủ yếu vào công tác bảo vệ môi trường sống của con người; là phương tiện hữu hiệu làm giảm bớt thiên tai như lũ lụt, hạn hán .; đồng thời là nguồn chủ yếu cung cấp oxi và nước cho sinh hoạt của con người.2 Đặc điểm chính trị, kinh tế - xã hội của đất lâm nghiệp - Đất đai nói chung và ĐLN nói riêng là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ quốc gia, nó gắn liền với chủ quyền của một đất nước. - Ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Theo đó, chủ thể được giao ĐLN có quyền và nghĩa vụ sử dụng đất đúng mục đích theo quy hoạch ĐLN đã được cơ quan, Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân với lợi ích về an ninh, quốc phòng của quốc gia, dân tộc và lợi ích về môi trường của xã hội, cộng đồng. - Các quan hệ đất đai vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội sâu sắc.
Các quan hệ liên quan đến ĐLN cũng không nằm ngoài đặc điểm trên. Dưới góc độ kinh tế: ĐLN là sản phẩm của tự nhiên, là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá; đồng thời là tư liệu sản xuất đặc biệt và là nguồn lực để phát triển đất nước. ĐLN vừa là tài sản đặc biệt của đất nước nhưng cũng là hàng hóa về giá trị sử dụng; do đó QSD ĐLN ở Việt Nam cũng được tham gia thị trường theo những quy luật vận động của kinh tế hàng hóa. Vì vậy, chính sách pháp luật về ĐLN đai 11 phải bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, người đầu tư và người sử dụng đất, QSD đất là hàng hóa đặc biệt và là tài sản của người sử dụng đất.
Nhất là khi chúng ta cơ bản vẫn là nước nông nghiệp hầu hết bộ phận dân cư vẫn sinh sống ở nông thôn, sinh kế ổn định chủ yếu vẫn dựa vào nông nghiệp có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội. Dưới góc độ xã hội: Đất đai nói chung và ĐLN nói riêng là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay.Vai trò của đất lâm nghiệp ĐLN là tài nguyên quý báu của đất nước, có khả năng tái tạo rừng và là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái.