Luận Văn Thạc Sĩ Về Pháp Luật Chuyển Nhượng Quyền Sử Dụng Đất Của Tổ Chức Kinh Tế Tại Quảng Ninh

Tài liệu nghiên cứu Pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế qua thực tiễn thi hành tại tỉnh, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2019

92
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Pháp Luật Chuyển Nhượng Quyền Sử Dụng Đất ở Quảng Ninh

Đất đai là tài sản đặc biệt của quốc gia, là cơ sở vật chất quan trọng và nguồn vốn to lớn. Tại Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, vấn đề chuyển nhượng và lưu thông đất đai đã được đặt ra, từ đó ra đời các quy định về quyền sử dụng đất và chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Luật Đất đai năm 1993 có bước đột phá quan trọng khi cho phép chuyển quyền sử dụng đất. Chuyển quyền sử dụng đất là một giao dịch dân sự đặc thù, có điều kiện. Có nhiều hình thức chuyển quyền sử dụng đất, như: chuyển nhượng, chuyển đổi, thừa kế, tặng cho, góp vốn. Trong đó, hình thức chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hình thức phổ biến.

1.1. Khái niệm và đặc điểm chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Chuyển nhượng quyền sử dụng đất là đòi hỏi tất yếu, khách quan trong nền kinh tế thị trường, đối với cá nhân, hộ gia đình và đặc biệt là đối với các tổ chức kinh tế. Tại Việt Nam, tổ chức kinh tế là chủ thể sử dụng đất rất quan trọng trong các chính sách và pháp luật về đất đai của nhà nước. Việc pháp luật trao quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho các tổ chức kinh tế trong nước trong khuôn khổ quy định của pháp luật chính là việc xác định quyền sử dụng đất là một quyền tài sản và được coi như một loại tài sản đặc biệt của thị trường lưu thông quyền sử dụng đất ấy.

1.2. Vai trò của chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Quảng Ninh

Việc pháp luật xác lập quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất tạo điều kiện cho doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế huy động nguồn vốn, nội và ngoại lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh, góp phần tăng nguồn thu ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện, các quy định của pháp luật về quyền này vẫn còn một số bất cập, đặc biệt khi thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trong các dự án đầu tư xây dựng, kinh doanh nhà ở. Những bất cập này cũng gây ra nhiều khó khăn trong quá trình thực thi pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại tỉnh Quảng Ninh.

II. Thách Thức Pháp Lý Chuyển Nhượng Đất Đai ở Quảng Ninh Hiện Nay

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy có nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp về pháp luật chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ở những mức độ và phạm vi khác nhau. Các công trình này hoặc nghiên cứu về chuyển nhượng các dự án kinh doanh bất động sản, có đề cập đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhưng không đi sâu tìm hiểu quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất của riêng tổ chức kinh tế, hoặc đã được thực hiện với thời gian khá lâu, hoặc tuy được thực hiện gần đây nhưng có phương pháp tiếp cận và nghiên cứu khác với đề tài của tác giả. Xuất phát từ đó, có thể cho rằng việc nghiên cứu tìm hiểu và hoàn thiện pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế trong tình hình hiện nay là một đề tài mới và có tính ứng dụng cao.

2.1. Bất cập trong quy định pháp luật về chuyển nhượng đất

Luận văn của Lê Thùy Dương, trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2011 về Hoàn thiện pháp luật về chuyển nhượng dự án đầu tư kinh doanh bất động sản ở Việt Nam hiện nay đã nêu lên được những vấn đề pháp lý chuyên sâu và bất cập của pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bất động sản tại thời điểm Luật Kinh doanh Bất động sản năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành có hiệu lực. Mặc dù Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 đã thay thế Luật Kinh doanh Bất động sản năm 2006, tuy nhiên nghiên cứu này vẫn có giá trị tham khảo cho các nghiên cứu sau đó.

2.2. Khó khăn trong thực thi pháp luật tại Quảng Ninh

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Ngọc Biện Thùy Hương, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, năm 2017: “Pháp luật về chuyển nhượng dự án đầu tư kinh doanh bất động sản”. Luận văn nghiên cứu đến các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động chuyển nhượng dự án đầu tư kinh doanh bất động sản. Tác giả Thùy Hương đã tập trung vào phân tích một số vấn đề cốt lõi trong chuyển nhượng dự án đầu tư kinh doanh bất động sản gồm: điều kiện chuyển nhượng, điều kiện về chủ thể, trình tự và thủ tục chuyển nhượng, hợp đồng và nghĩa vụ tài chính trong hoạt động chuyển nhượng.

2.3. Thiếu nghiên cứu chuyên sâu về tổ chức kinh tế

Bài viết của tác giả Lưu Quốc Thái,với tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong điều kiện kinh tế thị trường (đăng trên Tạp chí Khoa học Pháp lý số 4/2014). Bài viết đã phân tích, đánh giá và đưa ra những so sánh những quy định của pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Luật Đất đai năm 2003 và Luật đất đai năm 2013. Từ đó, tác giả đã đưa ra những đề xuất, kiến nghị điều chỉnh Luật đất đai cho phù hợp.

III. Điều Kiện Chuyển Nhượng Quyền Sử Dụng Đất tại Quảng Ninh

Một trong những chủ thể sử dụng đất là tổ chức kinh tế. Tổ chức kinh tế là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong đời sống cũng những trong các văn bản pháp luật. Khái niệm tổ chức kinh tế được sử dụng nhằm biểu đạt về một loại hình chủ thể hoạt động trong sản xuất – kinh doanh, dịch vụ với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Dù quy định tổ chức kinh tế là một trong những chủ thể sử dụng đất, nhưng pháp luật đất đai lại không đưa ra định nghĩa về tổ chức kinh tế. Liên quan đến tổ chức kinh tế, Luật Đất đai 2003 quy định: Tổ chức trong nước ba...

3.1. Điều kiện về chủ thể chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Việc pháp luật trao quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho các tổ chức kinh tế trong nước trong khuôn khổ quy định của pháp luật chính là việc xác định quyền sử dụng đất là một quyền tài sản và được coi như một loại tài sản đặc biệt của thị trường lưu thông quyền sử dụng đất ấy. Việc pháp luật xác lập quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất tạo điều kiện cho doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế huy động nguồn vốn, nội và ngoại lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh, góp phần tăng nguồn thu ngân sách Nhà nước.

3.2. Điều kiện về loại đất được phép chuyển nhượng

Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện, các quy định của pháp luật về quyền này vẫn còn một số bất cập, đặc biệt khi thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trong các dự án đầu tư xây dựng, kinh doanh nhà ở. Những bất cập này cũng gây ra nhiều khó khăn trong quá trình thực thi pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại tỉnh Quảng Ninh.

IV. Thủ Tục Chuyển Nhượng Quyền Sử Dụng Đất tại Quảng Ninh

Luận văn đã đánh giá thực trạng pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế theo 4 vấn đề là: Điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trình tự và thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó đã và đánh giá thực trạng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế tại Quảng Ninh từ những phân tích về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh, từ thực trạng sử dụng các loại đất hiện nay trên địa bàn tỉnh và từ kết quả chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trong giai đoạn từ 2013-2018 của tỉnh Quảng Ninh.

4.1. Hồ sơ và giấy tờ cần thiết cho chuyển nhượng

Trên cơ sở phân tích tình hình về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế tại Quảng Ninh, chỉ ra những điểm tích cực và những khó khăn, hạn chế trong việc thực thi pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Quảng Ninh, luận văn đã đề xuất hai nhóm giải pháp: (1). Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất và (2). Nhóm giải pháp đề các tổ chức kinh tế tại tỉnh Quảng Ninh tăng cường khả năng thực thi pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong thời gian tới.

4.2. Quy trình thực hiện chuyển nhượng tại cơ quan nhà nước

Luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế. Một số giải pháp và kiến nghị trong luận văn có giá trị tham khảo đối với các cơ quan lập pháp khi sửa đổi các quy định của pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

4.3. Thời gian và chi phí thực hiện thủ tục chuyển nhượng

Luận văn là tài liệu có khả năng nghiên cứu để ứng dụng trong thực tiễn hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế nói chung và tại tỉnh Quảng Ninh nói riêng. Luận văn cũng là tài liệu tham khảo để Chính quyền các cấp tại tỉnh Quảng Ninh đổi mới, cải cách hệ thống thủ tục hành chính liên quan đến công tác quản lý đất đai nói chung và chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói riêng.

V. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Chuyển Nhượng Đất ở Quảng Ninh

Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là: - Nghiên cứu để làm rõ những vấn đề lý luận về chuyển nhượng quyền sử dụng đất và pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế trong nước. - Phân tích thực trạng pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế trong nước, nhằm nêu bật những thành tựu đã đạt được cũng như những bất cập và nguyên nhân của các bất cập đó. - Phân tích thực tiễn thực thi pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế tại tỉnh Quảng Ninh trong thời gian vừa qua và những vướng mắc, khó khăn.

5.1. Sửa đổi bổ sung các quy định hiện hành

  • Đề xuất giải pháp nhằm sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế trong nước. - Đề xuất các kiến nghị để các tổ chức kinh tế tại tỉnh Quảng Ninh thực thi tốt, đầy đủ các quy định của pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại tỉnh Quảng Ninh.

5.2. Nâng cao năng lực thực thi pháp luật

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là những vấn đề liên quan đến quyền sử dụng đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế và pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế. Đối tượng nghiên cứu của luận văn còn bao gồm việc phân tích thực tiễn chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế tại tỉnh Quảng Ninh.

VI. Ứng Dụng Nghiên Cứu Chuyển Nhượng Đất Đai tại Quảng Ninh

Trong khuôn khổ của Luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu các quy định của Luật Đất đai năm 2013, Luật Kinh doanh Bất động sản 2014, Bộ luật Dân sự 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế trong nước, không nghiên cứu các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Luận văn cũng nghiên cứu quy định có liên quan của Luật Doanh nghiệp, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh Bất động sản.

6.1. Áp dụng trong hoạt động kinh doanh bất động sản

Khi nghiên cứu về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế được phân tích trong luận văn là các pháp nhân thương mại (không nghiên cứu hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã) tồn tại chủ yếu dưới hình thức là các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, chuyển nhượng quyền sử dụng đất là vấn đề phức tạp có nội dung rộng lớn.

6.2. Hỗ trợ quản lý nhà nước về đất đai

Trong phạm vi nghiên cứu giới hạn ở việc phân tích 4 vấn đề là : (i).Điều kiện chuyển nhượng; (ii). Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; (iii). Trình tự và thủ tục chuyển nhượng; (iv). Quyền và nghĩa vụ của các tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Khi phân tích thực trạng thực thi pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế tại tỉnh Quảng Ninh, luận văn phân tích thực trạng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế và nguyên nhân của những hạn chế trong vấn đề này.

06/06/2025
Pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế qua thực tiễn thi hành tại tỉnh quảng ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế ở Việt Nam Chương 2: Thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế tại tỉnh Quảng Ninh Chương 3:Giải pháp hoàn thiện pháp luật và kiến nghị tăng cường thực thi pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế tại Quảng Ninh 8 CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN NHƢỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC KINH TẾ TẠI VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của tổ chức kinh tế trong sử dụng đất 1. Khái niệmvề tổ chức kinh tế Một trong những chủ thể sử dụng đất là TCKT.

TCKT là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong đời sống cũng những trong các văn bản pháp luật. Khái niệm TCKT được sử dụng nhằm biểu đạt về một loại hình chủ thể hoạt động trong sản xuất – kinh doanh, dịch vụ với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Dù quy định tổ chức kinh tế là một trong những chủ thể SDĐ, nhưng pháp luật đất đai lại không đưa ra định nghĩa về TCKT. Liên quan đến TCKT, Luật Đất đai 2003 quy định: Tổ chức trong nước bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế – xã hội, tổ chức sự nghiệp công, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của Chính phủ (sau đây gọi chung là tổ chức) được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền SDĐ; tổ chức kinh tế nhận chuyển quyền SDĐ 1.

Quy định này chỉ mang tính liệt kê với nghĩa nhấn mạnh rằng, TCKT được xác định là một trong số các tổ chức trong nước được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền SDĐ. Mục đích của quy định này trong Luật đất đai năm 2003 là nhằm để phân biệt các tổ chức trong nước, kể cả các TCKT trong nước với tổ chức nước ngoài. Tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài là chủ thể SDĐ tại Việt Nam được xác định là chủ thể SDĐ riêng, có thể SDĐ cho quan hệ ngoại giao, hoặc SDĐ cho hoạt động đầu tư. Cụ thể, Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ 1 Khoản 1 Điều 9 Luật Đất đai 2003.

9 quan đại diện của tổ chức liên chính phủ được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất 2 và Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo pháp luật về đầu tư được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất 3. Năm 2013, khi Luật đất đai mới ra đời thì TCKT đã được nhắc đến tại Khoản 27 Điều 3, nhưng không phải là một khái niệm mà với cách liệt kê, theo đó liệt kê rằng: Tổ chức kinh tế bao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã và TCKT khác theo quy định. Điều này cho thấy điểm mới của Luật đất đai 2013 là đã liệt kê các tổ chức được gọi là TCKT trong nước phân biệt với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Nói cách khác, theo Luật đất đai năm 2013, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài vẫn là những chủ thể SDĐ riêng cho quan hệ ngoại giao hoặc cho hoạt động đầu tư.

Điểm khác biệt là đối với chủ thể nước ngoài SDĐ để đầu tư tại Việt Nam, Luật Đất đai 2013 không gọi tên là tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam như Luật Đất đai 2003, mà xác định theo một tên gọi phù hợp hơn là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và xác định rõ bao gồm doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật về đầu tư 4. Như vậy, TCKT trong nước (hay TCKT) theo pháp luật đất đai của Việt Nam là TCKT được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền SDĐ với ý nghĩa là một loại chủ thể có quyền SDĐ hoặc một doanh nghiệp có quyền SDĐ được hình thành từ nguồn vốn của các tổ chức, cá nhân trong nước, không bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Pháp luật đất đai định danh chủ thể SDĐ là TCKT, dù có hay không cụm từ trong nước đi kèm sau đó, chính là đề cập đến TCKT trong nước. Vì vậy, trong Luận văn, việc tác giả sử dụng thuật ngữ tổ chức kinh tế cũng chính là đề cập đến tổ chức kinh tế trong nước , hoặc ngược lại.

2 Khoản 5 Điều 9 Luật Đất đai 2003. 3 Khoản 7 Điều 9 Luật Đất đai 2003. 4 Khoản 5 và Khoản 7 Điều 5 Luật Đất đai 2013. 10 Cũng theo quy định tại Khoản 27 Điều 3 của Luật đất đai 2013, TCKT và cách hiểu về TCKT phải được hiểu theo pháp luật dân sự Việt Nam.

Theo pháp luật dân sự Việt Nam, TCKT là một pháp nhân5. Năm 2014, khi Luật Đầu tư năm 2014 ra đời, khái niệm về TCKT đã được xác định rõ tại Khoản 16 Điều 3: Tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh. Từ những phân tích ở trên, tác giả cho rằng TCKT là pháp nhân được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật. Còn TCKT có quyền SDĐ là các pháp nhân trong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền SDĐ.

Đặc điểm của tổ chức kinh tế TCKT trong SDĐ là một tổ chức có quyềnSDĐ. Song không phải bất cứ tổ chức nào SDĐ cũng là tổ chức kinh tế SDĐ. Bên cạnh các đặc điểm chung của tổ chức trong SDĐ, TCKT trong SDĐ có một số đặc điểm riêng sau: Thứ nhất,phần lớn TCKT trong SDĐ được Nhà nước giao đất có thu tiền SDĐ, được Nhà nước cho thuê đất. Chỉ các doanh nghiệp công ích SDĐ vào mục đích công cộng như xây dựng vườn hoa, công viên, nơi vui chơi giải trí công cộng không nhằm mục đích kinh doanh … mới được Nhà nước giao đất không thu tiền SDĐ.

Sở dĩ pháp luật quy định như vậy là bởi vì TCKT là chủ thể kinh doanh tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc cung ứng dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi. Đất đai là một trong những yếu tố đầu vào không thể thiếu được của hoạt động sản xuất - kinh doanh, dịch vụ. Điều này có nghĩa là có nghĩa là đất đai tham gia trực tiếp vào quá trình kinh doanh của tổ chức kinh tế để thu lợi nhuận. Đất đai được tính ra giá trị kinh tế để đem trao đổi trên thị trường, được sử dụng làm tài sản bảo đảm trong quan hệ thế chấp, vay vốn, tín dụng hoặc đem góp vốn liên doanh … Dođó, yếu tố đầu vào là đất đai (bao gồm tiền SDĐ, tiền thuê đất, thuế SDĐ và giá 5 Khoản 1 Điều 74 BLDS 2015 11 trị quyền SDĐ) được tính vào giá trị của sản ph m hàng hóa.

Muốn vậy, quyền SDĐ phải là tài sản của doanh nghiệp, TCKT. Điều này được thực hiện thông qua việc TCKT được Nhà nước giao đất có thu tiền SDĐ, được Nhà nước cho thuê đất. Thứ hai, căn cứ vào mục đích SDĐ mà TCKTSDĐ được pháp luật quy định về nghĩa vụ tài chính khác nhau khi tiếp cận đất đai. Điều này thể hiện ở 02 điểm dưới đây: (1).TCKT được miễn, giảm tiền SDĐ, tiền thuê đất khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho người có thu nhập thấp hoặc cho người nghèo; đầu tư tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn v.

Trong khi đó, TCKT SDĐ để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại không được miễn, giảm tiền SDĐ, tiền thuê đất khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất. Doanh nghiệp công ích SDĐ vào mục đích công cộng thì được Nhà nước giao đất không thu tiền SDĐ; trong khi đó, doanh nghiệp SDĐ vào mục đích sản xuất - kinh doanh, dịch vụ được Nhà nước giao đất có thu tiền SDĐ hoặc được Nhà nước cho thuê đất. Thứ ba, căn cứ vào năng lực tài chính, doanh nghiệp nhà nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất tại các khu công nghiệp, khu kinh tế để thực hiện dự án đầu tư với quy mô lớn lên đến hàng chục hec ta đất. Trong khi đó, các doanh nghiệp ngoài nhà nước thường là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, do hạn chế về năng lực tài chính, nên chỉ được giao đất hoặc thuê đất trong các cụm công nghiệp, làng nghề với quy mô từ một đến vài hec ta.

Thứ tư, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài SDĐ phụ thuộc vào giấy phép đầu tư, lĩnh vực đầu tư. Điều này có nghĩa là việc SDĐ của chủ thể này dựa trên phạm vi, lĩnh vực, số vốn đầu tư đăng ký… được ghi trong giấy phép đầu tư. Trong khi đó, TCKT trong nước SDĐ dựa trên giấy phép kinh doanh. Nếu kinh doanh không thuộc lĩnh vực pháp luật cấm và đáp ứng các điều kiện kinh doanh thì 12 TCKTtrong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc nhận chuyển nhượng quyền SDĐ của tổ chức, hộ gia đình.

Vai trò của tổ chức kinh tế TCKT có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản ph m trong nước (GDP). Những năm gần đây, hoạt động của TCKT trong nước đã có bước phát triển đáng kể, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất kh u, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Pháp Luật Về Chuyển Nhượng Quyền Sử Dụng Đất Tại Quảng Ninh" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp luật liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại tỉnh Quảng Ninh. Tài liệu này không chỉ phân tích các quy định hiện hành mà còn nêu rõ thực tiễn áp dụng, giúp người đọc hiểu rõ hơn về quy trình và các vấn đề pháp lý có thể phát sinh trong quá trình chuyển nhượng.

Đặc biệt, tài liệu mang lại lợi ích cho những ai đang tìm hiểu về quyền sử dụng đất, từ các nhà đầu tư đến các chuyên gia pháp lý, bằng cách cung cấp thông tin chi tiết và thực tiễn. Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về giải quyết tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thực tiễn thực hiện tại toà án nhân dân thành phố gia nghĩa tỉnh đắk nông, nơi cung cấp cái nhìn về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng chuyển nhượng, hoặc Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về đấu giá quyền sử dụng đất từ thực tiễn thi hành tại tỉnh quảng ninh, giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình đấu giá quyền sử dụng đất. Cuối cùng, bạn cũng có thể tham khảo Luận văn pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình qua thực tiễn áp dụng tại cà mau để có cái nhìn tổng quát hơn về chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong bối cảnh hộ gia đình. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các khía cạnh khác nhau của pháp luật đất đai.