Tổng quan nghiên cứu
Công tác thi đua, khen thưởng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo giữ vai trò là đòn bẩy quan trọng nhằm thúc đẩy chất lượng giảng dạy, đổi mới phương pháp sư phạm và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tại tỉnh Nghệ An, hệ thống giáo dục có quy mô lớn với 51.659 cán bộ, giáo viên, nhân viên quản lý 759.954 học sinh tại 2.086 cơ sở giáo dục, bao gồm 552 trường mầm non, 537 trường tiểu học, 407 trường trung học cơ sở, 89 trường trung học phổ thông, 21 trung tâm giáo dục thường xuyên và 480 trung tâm học tập cộng đồng. Địa bàn tỉnh trải rộng trên 21 đơn vị hành chính với 16.498,5 km2, trong đó vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chiếm trên 83% diện tích tự nhiên, gồm 107 xã đặc biệt khó khăn và 4 huyện nghèo thuộc diện hỗ trợ theo Nghị quyết số 30a của Chính phủ.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật thi đua, khen thưởng trong ngành giáo dục Nghệ An giai đoạn 2015-2020 đã bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Tình trạng chạy theo thành tích, bình xét mang tính cào bằng, hình thức và sự mất cân đối trong cơ cấu đối tượng thụ hưởng khen thưởng làm suy giảm động lực cống hiến thực chất của đội ngũ nhà giáo trực tiếp đứng lớp. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh còn bộc lộ sự mâu thuẫn, thiếu đồng bộ giữa các quy định của Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2005 và 2013) với các thông tư chuyên ngành của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận nền tảng, khảo sát và phân tích toàn diện thực trạng thi hành pháp luật thi đua, khen thưởng trong ngành giáo dục Nghệ An. Trên cơ sở đường lối của Đảng tại Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế tổ chức thực hiện, hướng tới nâng cao trên 30% hiệu quả khuyến khích thực chất, chuẩn hóa 100% quy trình bình xét tại địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc. Trong học thuyết Mác - Lênin, thi đua nảy nở trong quá trình hợp tác lao động, là đòn bẩy thúc đẩy năng suất và phát triển con người toàn diện. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển quan điểm này thành đường lối chính trị cách mạng với luận điểm: Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua, và những người thi đua là những người yêu nước nhất. Bên cạnh đó, luận văn vận dụng lý thuyết quản lý nhà nước bằng pháp luật, coi pháp luật thi đua, khen thưởng là công cụ điều chỉnh hành vi xã hội thông qua phương pháp thuyết phục kết hợp khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần.
Về mặt khái niệm, thi đua được xác định là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo Khoản 1 Điều 3 Luật Thi đua, Khen thưởng. Khen thưởng là việc cơ quan có thẩm quyền ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất theo Khoản 2 Điều 3 của luật này. Các khái niệm cốt lõi khác gồm: danh hiệu thi đua (như Chiến sĩ thi đua cơ sở, Cờ thi đua), hình thức khen thưởng (với 7 hình thức cơ bản quy định tại Điều 8 Luật Thi đua, Khen thưởng), và tỷ lệ khống chế cán bộ quản lý không vượt quá 33,3% (1/3) theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 22/2018/TT-BGDĐT.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp thống kê xã hội học và phương pháp so sánh đối chiếu. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ hệ thống báo cáo tổng kết năm học của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nghệ An, Ban Thi đua - Khen thưởng tỉnh, 21 phòng Giáo dục và Đào tạo cấp huyện và 89 trường trung học phổ thông trong mốc thời gian 5 năm, từ năm 2015 đến năm 2020.
Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu tiến hành khảo sát chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên có chủ đích đối với 1.200 hồ sơ thi đua, khen thưởng của cán bộ, giáo viên thuộc 5 cụm thi đua đại diện cho các vùng sinh thái giáo dục của Nghệ An: vùng đồng bằng đô thị, vùng đồng bằng ven biển, vùng trung du và 5 huyện miền núi vùng cao (Quế Phong, Quỳ Châu, Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông). Lý do lựa chọn phương pháp phân tích quy phạm kết hợp định lượng thực chứng là nhằm đối chiếu trực tiếp giữa các quy định của Luật Thi đua, Khen thưởng, Nghị định số 91/2017/NĐ-CP, Thông tư số 22/2018/TT-BGDĐT với hồ sơ thực tế, từ đó phát hiện chính xác các mâu thuẫn về thẩm quyền, sự sai lệch về tiêu chí đánh giá và những vướng mắc phát sinh từ đặc thù địa bàn miền núi.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phát hiện thứ nhất: Sự mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu khen thưởng giữa cán bộ quản lý và giáo viên trực tiếp đứng lớp. Dù Điều 4 Thông tư số 22/2018/TT-BGDĐT đã quy định số lượng cán bộ quản lý được công nhận danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở và các hình thức khen thưởng cấp Bộ không được vượt quá 33,3%, nhưng số liệu thực tế tại Nghệ An cho thấy tỷ lệ cán bộ quản lý nhận các danh hiệu thi đua, khen thưởng bậc cao như Bằng khen cấp tỉnh, Bằng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo vẫn chiếm từ 55% đến 65% tổng số đối tượng được khen thưởng. Giáo viên trực tiếp giảng dạy tại các cơ sở giáo dục vùng khó khăn chỉ chiếm khoảng 35% đến 45% tổng số khen thưởng bậc cao.
Phát hiện thứ hai: Tiêu chí sáng kiến kinh nghiệm và đề tài nghiên cứu khoa học đang trở thành rào cản hành chính lớn. Khoảng 70% giáo viên tại 107 xã đặc biệt khó khăn không thể đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở do không có đủ điều kiện nghiên cứu, thực nghiệm sáng kiến kinh nghiệm theo chuẩn chung của vùng đồng bằng. Thực trạng này dẫn đến việc sao chép sáng kiến kinh nghiệm, nảy sinh hiện tượng mua bán hoặc khai khống đề tài để hợp thức hóa hồ sơ thi đua.
Phát hiện thứ ba: Bệnh thành tích và hiện tượng cào bằng trong bình xét thi đua định kỳ. Tỷ lệ các tập thể trường học đạt danh hiệu Tập thể lao động tiên tiến tại một số huyện đồng bằng duy trì ở mức cao từ 90% đến 95% liên tục trong 3 năm học, tạo nên bức tranh thi đua thiếu tính phân loại và không phản ánh đúng mức độ chuyển biến chất lượng giáo dục đại trà.
Phát hiện thứ tư: Áp lực và sự chậm trễ trong quy trình xét duyệt hồ sơ theo niên độ. Quy định nộp hồ sơ xét khen thưởng cấp Nhà nước trước ngày 15 tháng 10 hàng năm theo Nghị định số 91/2017/NĐ-CP và trước ngày 30 tháng 8 đối với cấp Bộ theo Thông tư số 22/2018/TT-BGDĐT tạo ra sự dồn ứ cục bộ. Có trên 80% hồ sơ thi đua toàn ngành dồn vào thời điểm tháng 8 và tháng 9, dẫn đến tình trạng thẩm định vội vàng, tỷ lệ sai sót hồ sơ kỹ thuật phải đính chính chiếm khoảng 12% đến 15%.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên bắt nguồn từ cơ chế quản lý hành chính bao cấp kéo dài, tư duy bình xét thi đua theo chỉ tiêu phân bổ từ trên xuống thay vì xuất phát từ hiệu quả đóng góp thực tế. Quy định pháp luật còn nhiều khoảng trống, chưa lượng hóa rõ ràng tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả áp dụng sáng kiến và thiếu chế tài xử lý người đứng đầu khi để xảy ra tiêu cực trong bình xét.
Khi so sánh với các công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với thi đua khen thưởng tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng hay khu vực Tây Nam Bộ của các tác giả trong giai đoạn 2012-2017, có thể thấy hiện tượng mất cân đối tỷ lệ khen thưởng và bệnh thành tích là vấn đề mang tính quy luật trên diện rộng. Tuy nhiên, tại Nghệ An, tính chất phức tạp gia tăng do yếu tố phân hóa địa bàn giữa miền xuôi và 11 huyện miền núi rộng lớn.
Để minh họa trực quan các kết quả nghiên cứu, dữ liệu có thể được chuẩn hóa qua biểu đồ cột thể hiện tương quan phân bổ danh hiệu giữa cán bộ quản lý (chiếm 60%) và giáo viên trực tiếp (chiếm 40%), kết hợp cùng bảng ma trận đối chiếu 5 tiêu chí xét tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua các cấp theo quy định hiện hành nhằm chỉ ra các tiêu chuẩn cần được lượng hóa bằng thang điểm cụ thể.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, sửa đổi và bổ sung các quy định quy phạm pháp luật về tiêu chuẩn thi đua, khen thưởng ngành giáo dục. Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp Bộ Nội vụ sửa đổi Điều 4 Thông tư số 22/2018/TT-BGDĐT theo hướng miễn hoặc thay thế tiêu chuẩn sáng kiến kinh nghiệm đối với giáo viên công tác từ 5 năm trở lên tại 107 xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới bằng thành tích duy trì sĩ số học sinh hoặc đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp huyện. Mục tiêu đến năm 2023 giảm 100% các điều kiện hình thức không phù hợp với thực tiễn vùng sâu, vùng xa.
Thứ hai, đổi mới quy trình thẩm định và chuyển đổi số công tác thi đua, khen thưởng. Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An và Sở Giáo dục và Đào tạo cần xây dựng phần mềm quản lý hồ sơ thi đua trực tuyến kết nối 21 phòng Giáo dục và Đào tạo cùng các đơn vị trực thuộc. Việc số hóa toàn bộ quy trình xét duyệt giúp cắt giảm tối thiểu 50% thời gian xử lý thủ tục hành chính, rút ngắn thời hạn thẩm định từ 20 ngày làm việc xuống còn 10 ngày làm việc và loại bỏ hoàn toàn tình trạng thất lạc, chỉnh sửa hồ sơ. Thời gian triển khai hoàn thành trong giai đoạn 2021-2024.
Thứ ba, siết chặt trách nhiệm của người đứng đầu và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành. Thiết lập cơ chế đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của hiệu trưởng gắn liền với tính chính xác, công bằng của công tác thi đua tại đơn vị. Thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp Ban Thi đua - Khen thưởng tỉnh tổ chức kiểm tra định kỳ tối thiểu 30% số cơ sở giáo dục hàng năm, kiên quyết hủy bỏ quyết định khen thưởng và thu hồi 100% hiện vật, tiền thưởng đối với các trường hợp gian dối thành tích hoặc khai khống hồ sơ.
Thứ tư, chuẩn hóa và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác thi đua, khen thưởng. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nghệ An cần tổ chức các khóa tập huấn nghiệp vụ pháp lý chuyên sâu định kỳ 6 tháng một lần cho hơn 500 cán bộ phụ trách công tác thi đua tại các phòng giáo dục và các trường trung học phổ thông, đảm bảo 100% cán bộ nắm vững các quy định của Luật Thi đua, Khen thưởng và văn bản hướng dẫn thi hành trước năm 2025.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm thứ nhất: Các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tham mưu chính sách như Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các tỉnh, thành phố. Nghiên cứu cung cấp luận cứ thực tiễn sâu sắc từ một tỉnh có quy mô giáo dục lớn thứ tư cả nước với 51.659 cán bộ, giúp xây dựng và sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù.
Nhóm thứ hai: Cán bộ quản lý tại các cơ sở giáo dục, hiệu trưởng các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Luận văn cung cấp khung hướng dẫn chuẩn xác về quy trình, thủ tục, giúp người đứng đầu đơn vị thực hiện bình xét công khai, minh bạch, tránh vi phạm các quy định về khống chế tỷ lệ khen thưởng 33,3% dành cho cán bộ quản lý.
Nhóm thứ ba: Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật học, Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, Quản lý công và Quản lý giáo dục. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa khoa học pháp lý và phân tích số liệu thực chứng trên mẫu khảo sát 1.200 hồ sơ.
Nhóm thứ tư: Đội ngũ giáo viên, nhân viên đang công tác trong toàn ngành giáo dục. Tài liệu giúp nhà giáo nắm vững quyền lợi, nghĩa vụ, tiêu chuẩn của từng danh hiệu thi đua và 7 hình thức khen thưởng, từ đó chủ động xây dựng lộ trình phấn đấu chuyên môn và bảo vệ quyền lợi chính đáng của bản thân.
Câu hỏi thường gặp
Tỷ lệ cán bộ quản lý được xét công nhận danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở trong ngành giáo dục được quy định như thế nào? Theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 22/2018/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, số lượng cán bộ quản lý được đề nghị xét công nhận danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở và các hình thức khen thưởng cấp Bộ đảm bảo không vượt quá 33,3% (1/3) tổng số cá nhân được đề nghị khen thưởng của đơn vị. Quy định này nhằm bảo đảm quyền lợi cho giáo viên trực tiếp giảng dạy.
Thời hạn nộp hồ sơ đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước đối với ngành giáo dục được quy định ra sao? Theo Điều 9 Thông tư số 22/2018/TT-BGDĐT và Điều 48 Nghị định số 91/2017/NĐ-CP, hồ sơ đề nghị công nhận danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng cấp Nhà nước đối với các đơn vị xét theo năm học phải gửi về Bộ Giáo dục và Đào tạo trước ngày 15 tháng 10 hàng năm; đối với đơn vị xét theo năm công tác phải gửi trước ngày 28 tháng 02 hàng năm.
Giáo viên công tác tại vùng sâu, vùng xa có được miễn hoặc thay thế tiêu chuẩn sáng kiến kinh nghiệm không? Theo quy định hiện hành, các tiêu chuẩn sáng kiến cấp cơ sở có thể được thay thế bằng việc biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy hoặc đạt giải tại các hội thi giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, cấp huyện. Luận văn đề xuất miễn hoàn toàn sáng kiến cho giáo viên tại 107 xã đặc biệt khó khăn nếu hoàn thành tốt nhiệm vụ duy trì sĩ số học sinh.
Quy trình thẩm định hồ sơ hiệp y khen thưởng được thực hiện trong bao nhiêu ngày? Căn cứ Điều 47 Nghị định số 91/2017/NĐ-CP, khi có văn bản xin ý kiến hiệp y khen thưởng của Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương, cơ quan được xin ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị. Nếu quá thời hạn mà không có văn bản trả lời thì cơ quan quản lý tiến hành các bước tiếp theo.
Mức tiền thưởng cho các danh hiệu thi đua trong ngành giáo dục được tính toán dựa trên căn cứ nào? Tiền thưởng kèm theo các danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng được tính theo hệ số nhân với mức lương cơ sở do Chính phủ quy định tại thời điểm ban hành quyết định khen thưởng, căn cứ theo khung quy định chi tiết từ Điều 68 đến Điều 75 Nghị định số 91/2017/NĐ-CP.
Kết luận
- Công trình đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thi đua, khen thưởng và pháp luật thi đua, khen thưởng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Phân tích chi tiết thực trạng áp dụng pháp luật thi đua, khen thưởng tại tỉnh Nghệ An trên mẫu dữ liệu 51.659 cán bộ, giáo viên và 759.954 học sinh thuộc 2.086 cơ sở giáo dục trên toàn tỉnh.
- Nhận diện chính xác 4 hạn chế then chốt gồm: cơ cấu khen thưởng nghiêng về cán bộ quản lý (chiếm từ 55% đến 65%), rào cản sáng kiến kinh nghiệm tại 107 xã khó khăn, bệnh thành tích cào bằng và áp lực dồn ứ hồ sơ hành chính.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp giữa sửa đổi quy phạm pháp luật, số hóa quy trình bình xét, tăng cường thanh tra xử lý vi phạm và chuẩn hóa hơn 500 cán bộ phụ trách công tác thi đua.
- Khẳng định giá trị thực tiễn của đề tài trong việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục nước nhà.
Về lộ trình triển khai tiếp theo trong giai đoạn 2021-2025, ngành giáo dục cần ưu tiên chuẩn hóa quy trình số hóa hồ sơ và sửa đổi các thông tư hướng dẫn thi đua chuyên ngành. Các nhà quản lý giáo dục, nhà nghiên cứu và cơ quan hoạch định chính sách hãy tham khảo toàn văn luận văn để áp dụng các giải pháp cải cách thi đua khen thưởng một cách thực chất, minh bạch và hiệu quả.