Tổng quan luận án

Hoạt động cấp tín dụng là một trong ba nghiệp vụ kinh doanh nền tảng và truyền thống của các ngân hàng thương mại (NHTM), song hành cùng hoạt động huy động vốn và dịch vụ thanh toán, ngân quỹ. Về mặt kinh tế và pháp lý, cấp tín dụng là hoạt động mang lại nguồn thu nhập chủ yếu nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro mang tính phản ứng dây chuyền đối với toàn bộ hệ thống tài chính. Tại Việt Nam, sau khi Quốc hội thông qua Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (thay thế Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2004), hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động này đã từng bước được thiết lập. Tuy nhiên, tình trạng nợ xấu gia tăng, các vướng mắc trong xử lý tài sản bảo đảm, cùng sự thiếu vắng của các nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành luật đã tạo ra những khoảng trống pháp lý đáng kể. Trong bối cảnh đó, luận án tiến sĩ luật học của nghiên cứu sinh Nguyễn Ngọc Lương với đề tài "Pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại ở Việt Nam" (chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số 62380107, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2017 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Thị Giang Thu và TS. Nguyễn Văn Tuyến) đã được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu cấp bách của thực tiễn lập pháp và thực thi pháp luật ngân hàng.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về cấp tín dụng và cấu trúc pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng của NHTM; đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng các nhóm quy định pháp luật hiện hành tại Việt Nam; từ đó xác định phương hướng và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế cùng các biện pháp bổ trợ nhằm nâng cao hiệu quả thực thi. Để đạt được mục tiêu này, tác giả xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ các vấn đề lý luận về hoạt động cấp tín dụng, bản chất pháp lý, các nguyên tắc vận hành, đồng thời xác lập và đánh giá mô hình cấu trúc pháp luật điều chỉnh gồm 4 nhóm nội dung cơ bản.
  2. Xác định cơ sở kinh tế - xã hội, tính tất yếu khách quan của sự can thiệp pháp luật và các nhân tố chi phối hoạt động cấp tín dụng của NHTM.
  3. Nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật quốc tế về cấp tín dụng của NHTM tại một số quốc gia tiêu biểu nhằm rút ra bài học tham khảo phù hợp cho Việt Nam.
  4. Đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng pháp luật thực định của Việt Nam theo 4 nhóm nội dung cấu trúc đã xác lập, chỉ ra những kết quả đạt được, những bất cập, mâu thuẫn và hạn chế.
  5. Định hình quan điểm, phương hướng và đề xuất các giải pháp lập pháp cụ thể, kết hợp các giải pháp bổ trợ về quản trị rủi ro và giám sát ngân hàng.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng của NHTM, trọng tâm là Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, các văn bản hướng dẫn thi hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), các quy định về từng hình thức cấp tín dụng (cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, bao thanh toán, phát hành thẻ tín dụng) và các đạo luật liên quan như Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Ngân hàng Nhà nước.

Về phạm vi nghiên cứu, luận án tập trung khảo sát 4 nhóm chế định pháp luật:

  • Nhóm quy định về các hình thức cấp tín dụng NHTM được phép thực hiện;
  • Nhóm quy định về thẩm quyền quyết định cấp tín dụng;
  • Nhóm quy định về nội dung hoạt động cấp tín dụng;
  • Nhóm quy định về các giới hạn an toàn trong hoạt động cấp tín dụng.

Về phạm vi loại trừ, luận án không nghiên cứu địa vị pháp lý chung của NHTM, không nghiên cứu hình thức cho thuê tài chính (do không thuộc thẩm quyền thực hiện trực tiếp của NHTM mà thuộc về công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính trực thuộc), và không nghiên cứu chế tài xử phạt vi phạm hay giải quyết tranh chấp tín dụng (do nội dung này tuân theo thủ tục tố tụng tư pháp chung đã được nhiều công trình khác giải quyết). Về thời gian, luận án khảo sát hệ thống pháp luật từ khi Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực đến năm 2017, với dữ liệu thực tiễn và số liệu hoạt động dựa trên các Báo cáo tài chính hợp nhất sau quyết toán năm 2015 của các NHTM Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tiến hành hệ thống hóa và phân tích khối lượng lớn các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến pháp luật ngân hàng và hoạt động cấp tín dụng. Các công trình được tác giả phân nhóm và đánh giá cụ thể như sau:

Nhóm công trình nghiên cứu Tác giả, công trình và năm công bố tiêu biểu Đóng góp và giới hạn theo đánh giá của luận án
Giáo trình và tài liệu đào tạo chuyên ngành - Khoa Luật, ĐHQGHN (2005), Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam
- Trường ĐH Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam
- Học viện Ngân hàng (2001), Giáo trình Tín dụng ngân hàng
Cung cấp hệ thống lý luận nền tảng về tổ chức và hoạt động của TCTD; tuy nhiên chủ yếu mang tính giới thiệu, thống kê khái quát, chưa đi sâu vào từng chế định chuyên biệt và chưa cập nhật các sửa đổi của Luật Các tổ chức tín dụng 2010.
Luận án, công trình tổng quát về NHTM - Ngô Quốc Kỳ (2003), Luận án TS Luật học về hoàn thiện pháp luật NHTM
- Nguyễn Văn Tuyến (2004), Luận án TS Luật học về các giao dịch thương mại chủ yếu của NHTM
- Trần Đình Triển, Luận án TS về địa vị pháp lý của NHTM quốc doanh
Phân tích toàn diện khung pháp lý và hoạt động kinh doanh ngân hàng thời kỳ đầu đổi mới; tuy nhiên các luận cứ được xây dựng dựa trên bối cảnh kinh tế và văn bản pháp luật cũ (Luật năm 1997, 2004), phạm vi nghiên cứu rộng nên chưa đi sâu chuyên biệt vào hoạt động cấp tín dụng.
Nghiên cứu về quản trị rủi ro và an toàn hệ thống - Hoàng Huy Hà (2012), Đề tài cấp ngành về tiêu chuẩn an toàn Basel
- Nguyễn Anh Tuấn (2012), Luận án TS Kinh tế về quản trị rủi ro theo Hiệp ước Basel
- Nguyễn Thị Minh Huệ (2010), Luận án TS Kinh tế về giám sát của NHNN
- Lê Văn Luyện (2003), Luận án TS Kinh tế về an toàn hệ thống ngân hàng
- Hạ Thị Thiều (2012), Đề tài về sở hữu chéo trong hệ thống NHTM
Tiếp cận dưới góc độ kinh tế học và tài chính - ngân hàng, đề xuất áp dụng các chuẩn mực quốc tế về giám sát an toàn vốn; khía cạnh phân tích quy phạm pháp luật chỉ được đề cập ở mức độ bổ trợ.
Nghiên cứu về từng nghiệp vụ cấp tín dụng cụ thể - Nguyễn Thành Nam (2015), Luận án TS Luật học về bảo lãnh ngân hàng
- Lê Thị Thu Thủy (2006), Đề tài ĐHQGHN về bảo đảm tiền vay bằng tài sản
- Hoàng Thị Hải Yến (2016), Luận văn ThS về pháp luật cho vay
- Tạ Hồng Hạnh (2014), Luận văn ThS về chiết khấu hối phiếu
- Nguyễn Minh Thắng (2007), Luận văn ThS về thẻ tín dụng
- Phạm Thị Thu Trang (2014), Luận văn ThS về bao thanh toán
Đi sâu vào từng nghiệp vụ riêng lẻ, chỉ ra các vướng mắc của từng thông tư chuyên ngành; chưa khái quát hóa thành mô hình lý luận chung cho toàn bộ hoạt động cấp tín dụng của NHTM.
Công trình công bố của chính nghiên cứu sinh - Nguyễn Ngọc Lương, Phạm Thị Giang Thu (2010), Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 6/2010
- Nguyễn Ngọc Lương (2011), Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 3/2011
- Nguyễn Ngọc Lương, Phạm Thị Giang Thu (2011), Tạp chí Luật học số 10/2011
- Nguyễn Ngọc Lương (2014), Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 5/2014
- Nguyễn Ngọc Lương (2014), Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 7/2014
Khảo sát các khía cạnh cụ thể về sửa đổi Luật TCTD, xử lý rủi ro tín dụng, giao dịch bảo đảm, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp và chiết khấu giấy tờ có giá; tạo nền tảng tư liệu trực tiếp để phát triển luận án.
Tài liệu học thuật quốc tế - Roos Cranston, Principles of Banking Law
- Parker Hood, Principles of Lender Liability
- H. Gutteridge (1932, 1955), The Law of Bankers' Commercial Credits
- A. Davis (1954), The Law Relating to Commercial Letters of Credit
- Aubrey L. Diamond (1970), Instalment Credit
- R. Goode (1978, 1982), Consumer Credit, Commercial Law
- Maximilian J. Hall, Banking Regulation and Supervision
- Charles Proctor (2015), International Banking Law
- Norbert Horn, German Banking Law and Practice
Phân tích các nguyên lý cơ bản của thông luật (Common Law) và luật thành văn (Civil Law) về trách nhiệm pháp lý của bên cấp tín dụng, tín dụng tiêu dùng, thư tín dụng thương mại và giám sát an toàn vốn theo chuẩn mực quốc tế.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: Trước năm 2017, chưa có bất kỳ công trình khoa học pháp lý nào nghiên cứu chuyên sâu, trực tiếp và hệ thống về toàn bộ hoạt động cấp tín dụng của NHTM ở Việt Nam kể từ khi Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực. Phần lớn các công trình trước đó hoặc tiếp cận quá rộng về toàn bộ hoạt động ngân hàng, hoặc chỉ phân tích đơn lẻ từng nghiệp vụ kỹ thuật, chưa tìm ra được "mẫu số chung" và cấu trúc tổng thể của hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án được triển khai trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp các phương pháp suy luận logic pháp lý.

Khung lý thuyết và khái niệm trung tâm của luận án bao gồm:

  • Khái niệm cấp tín dụng theo Khoản 14 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010: Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác.
  • Bản chất pháp lý của quan hệ cấp tín dụng: Luận án xác định đây là giao dịch chuyển giao quyền sở hữu tài sản (tiền tệ) từ NHTM sang khách hàng trên cơ sở hợp đồng, mang tính song vụ, đền bù, thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi, gắn liền với bản chất của hợp đồng vay tài sản quy định tại Điều 464 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Cấu trúc pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng: Tác giả xây dựng mô hình phân tích gồm 4 nhóm quy phạm độc lập nhưng có mối liên kết chặt chẽ: (1) quy định về các nghiệp vụ cấp tín dụng; (2) quy định về thẩm quyền cấp tín dụng; (3) quy định về nội dung hoạt động cấp tín dụng; (4) quy định về các tỷ lệ và giới hạn an toàn.

Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, tác giả sử dụng các phương pháp định tính chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp lịch sử: Được sử dụng tại Chương 1 và Chương 2 nhằm phân tích quá trình hình thành, biến đổi của các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng của NHTM qua các thời kỳ, bảo đảm tính kế thừa khoa học.
  • Phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật: Được sử dụng chủ đạo tại Chương 3 để mổ xẻ nội dung, cấu trúc các điều luật, chỉ ra những mâu thuẫn, chồng chéo, xung đột giữa Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 với Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại và các thông tư của NHNN.
  • Phương pháp so sánh luật học: Được áp dụng tại Chương 2 nhằm đối chiếu quy chế pháp lý về cấp tín dụng và an toàn vốn của các hệ thống pháp luật tiêu biểu trên thế giới (Anh, Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản), qua đó chắt lọc những kinh nghiệm lập pháp phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
  • Phương pháp tổng hợp và quy nạp: Được sử dụng tại Chương 4 để từ các đánh giá thực trạng rút ra những luận cứ khoa học, định hình phương hướng và đề xuất các giải pháp sửa đổi luật thực định.

Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; các báo cáo tổng kết ngành ngân hàng (như Báo cáo số 49/BC-NHNN tổng kết 10 năm thi hành Luật Các TCTD năm 1997); Báo cáo tài chính hợp nhất kiểm toán năm 2015 của các NHTM Việt Nam; các ấn phẩm học thuật trên tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Tạp chí Luật học, Tạp chí Ngân hàng, Harvard Business Law Review, The Cambridge Law Journal.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Chương 1 thực hiện tổng thuật chi tiết toàn bộ các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trong nước trước đây tập trung vào hai thái cực: hoặc nghiên cứu chung về vị trí pháp lý của NHTM (như các luận án của Ngô Quốc Kỳ, Nguyễn Văn Tuyến), hoặc nghiên cứu rất sâu về một công cụ bảo đảm hay một nghiệp vụ đơn lẻ (như công trình của Lê Thị Thu Thủy về bảo đảm tiền vay, Nguyễn Thành Nam về bảo lãnh, Hoàng Thị Hải Yến về cho vay, Tạ Hồng Hạnh về chiết khấu). Đối với tài liệu quốc tế, tác giả phân tích các trường phái tiếp cận từ thông luật của Anh, Hoa Kỳ đến luật thành văn của Đức, nhấn mạnh các án lệ và quy chuẩn an toàn vốn Basel. Từ đó, chương này khẳng định tính cấp thiết của việc xây dựng một công trình nghiên cứu hệ thống, cập nhật theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, xác lập câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học về sự cần thiết phải hoàn thiện cấu trúc pháp luật điều chỉnh cấp tín dụng theo hướng an toàn, minh bạch và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Chương 2: Những vấn đề chung về cấp tín dụng và pháp luật về hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại

Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về cấp tín dụng của NHTM. Tác giả phân tích bản chất kinh tế - pháp lý của cấp tín dụng, chỉ ra 5 đặc điểm cốt lõi:

  1. Là giao dịch song vụ mang tính đền bù, xác lập quyền và nghĩa vụ vật chất rõ ràng giữa bên cấp và bên nhận tín dụng;
  2. Dựa trên nguyên tắc hoàn trả có điều kiện và mục tiêu lợi nhuận (giá trị thu hồi lớn hơn giá trị ban đầu);
  3. NHTM luôn là một bên chủ thể bắt buộc mang tính chuyên nghiệp;
  4. Luôn chứa đựng yếu tố sinh lời song hành cùng rủi ro pháp lý và rủi ro tài chính;
  5. Nghĩa vụ hoàn trả của khách hàng là vô điều kiện khi đến hạn.

Chương này làm rõ 4 nguyên tắc hoạt động cơ bản: nguyên tắc tự do ý chí và bình đẳng thỏa thuận không trái pháp luật; nguyên tắc hoàn trả đầy đủ gốc và lãi; nguyên tắc sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận; nguyên tắc bảo đảm an toàn tín dụng (phân tán rủi ro theo quy tắc "không bỏ trứng vào cùng một giỏ"). Tác giả cũng giới thiệu kinh nghiệm quản trị tín dụng tại Hoa Kỳ với mô hình 6C (Character, Capacity, Cash, Collateral, Conditions, Control). Về mặt nghiệp vụ, chương phân loại chi tiết các hình thức cấp tín dụng theo Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010: cho vay (chiếm khoảng 70% lợi nhuận ngân hàng), chiết khấu giấy tờ có giá, bảo lãnh ngân hàng, phát hành thẻ tín dụng, bao thanh toán và các nghiệp vụ phái sinh tín dụng khác. Tác giả phân tích bước chuyển từ Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN khi bãi bỏ nguyên tắc bắt buộc phải có tài sản bảo đảm, trao quyền tự chủ đánh giá rủi ro cho các NHTM.

Chương 3: Thực trạng pháp luật về hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Chương 3 là chương trọng tâm thực chứng của luận án, đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật thực định và thực tiễn thi hành tại các NHTM theo 4 nhóm nội dung cấu trúc:

  • Quy định về các nghiệp vụ cấp tín dụng: Phân tích cơ chế thực hiện cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, bao thanh toán, thẻ tín dụng. Chỉ ra sự thiếu đồng bộ giữa các thông tư của NHNN với Bộ luật Dân sự, đặc biệt là các quy định về hợp đồng tín dụng, lãi suất cho vay, thời điểm chuyển giao quyền sở hữu tiền vay và cơ chế phạt vi phạm.
  • Quy định về thẩm quyền quyết định cấp tín dụng: Khảo sát sự phân định thẩm quyền giữa Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc và Hội đồng tín dụng tại các NHTM. Đánh giá tình trạng lạm quyền, xung đột lợi ích giữa người quản trị với cổ đông lớn dẫn đến các khoản vay dưới chuẩn.
  • Quy định về nội dung hoạt động cấp tín dụng: Đánh giá các quy định về điều kiện cấp tín dụng, hồ sơ thủ tục, biện pháp bảo đảm nghĩa vụ (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh của bên thứ ba, tài sản hình thành trong tương lai). Chỉ ra những vướng mắc lớn trong đăng ký giao dịch bảo đảm, kê biên và xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ xấu.
  • Quy định về giới hạn an toàn: Phân tích các chuẩn mực về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR), giới hạn cấp tín dụng đối với một khách hàng và nhóm khách hàng liên quan, giới hạn cho vay đối với các đối tượng không được cấp tín dụng hoặc hạn chế cấp tín dụng, các tiêu chí phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro. Tác giả sử dụng số liệu từ Báo cáo tài chính hợp nhất kiểm toán năm 2015 để chứng minh nhiều NHTM gặp khó khăn trong việc đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn và xử lý nợ xấu tồn đọng.

Chương 4: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Dựa trên các phân tích lý luận và thực trạng, Chương 4 đưa ra các quan điểm, định hướng và nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế:

  • Quan điểm và phương hướng hoàn thiện: Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật; tôn trọng quyền tự chủ kinh doanh của NHTM đi đôi với tăng cường quản lý nhà nước; tiếp cận từng bước các chuẩn mực quốc tế (như Hiệp ước Basel); bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và các bên tham gia giao dịch.
  • Các giải pháp lập pháp cụ thể:
    1. Ban hành Nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 về hoạt động cấp tín dụng;
    2. Hoàn thiện các quy định về từng hình thức cấp tín dụng (cho vay, chiết khấu, bao thanh toán, bảo lãnh) nhằm giải quyết xung đột pháp luật với Bộ luật Dân sự năm 2015;
    3. Minh bạch hóa quy định về thẩm quyền phê duyệt tín dụng, kiểm soát chặt chẽ quan hệ sở hữu chéo và nhóm khách hàng liên quan;
    4. Sửa đổi cơ chế pháp lý về giao dịch bảo đảm, đăng ký tài sản và cơ chế xử lý nhanh tài sản bảo đảm thu hồi nợ xấu;
    5. Hoàn thiện các quy định về tỷ lệ an toàn vốn, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo hướng tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
  • Các giải pháp bổ trợ: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tính độc lập của cán bộ tín dụng; xây dựng hệ thống chấm điểm tín dụng cá nhân và xếp hạng tín dụng doanh nghiệp nội bộ; nâng cao hiệu quả thanh tra, giám sát chuyên ngành của NHNN; củng cố hoạt động của Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia (CIC).

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã đạt được những kết quả nghiên cứu và đóng góp khoa học cụ thể sau:

Về phương diện lý luận, luận án đã xác lập một cách hệ thống mô hình cấu trúc pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng của NHTM gồm 4 nhóm quy phạm cấu thành: (1) nghiệp vụ cấp tín dụng; (2) thẩm quyền quyết định cấp tín dụng; (3) nội dung quy trình cấp tín dụng; (4) các giới hạn an toàn. Luận án đã làm sáng tỏ bản chất pháp lý của quan hệ cấp tín dụng dưới góc độ luật kinh tế, chỉ rõ sự khác biệt giữa hoạt động cấp tín dụng của NHTM (vì mục tiêu lợi nhuận, sử dụng vốn huy động) với hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nhà nước (thực thi chính sách tiền tệ và tài khóa) và hoạt động cho vay dân sự thông thường.

Về phương diện thực tiễn, luận án đã phác thảo bức tranh toàn cảnh về thực trạng thi hành Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 trong giai đoạn 2010–2017. Nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân gốc rễ của những bất cập trong quản trị tín dụng và xử lý nợ xấu bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ giữa các văn bản dưới luật, sự lúng túng trong xử lý tài sản bảo đảm và các quy định về an toàn vốn chưa bám sát thực tế thị trường. Hệ thống các giải pháp lập pháp và giải pháp bổ trợ do luận án đề xuất có tính khả thi, cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp phục vụ quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Các tổ chức tín dụng và xây dựng các thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do giới hạn phạm vi nghiên cứu đã công bố, luận án không đi sâu phân tích toàn diện các quy định về tố tụng giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án và Trọng tài thương mại; không nghiên cứu hoạt động cho thuê tài chính; đồng thời số liệu tài chính thực chứng dừng lại ở kỳ báo cáo quyết toán năm 2015 (do tại thời điểm hoàn thành công trình năm 2017 chưa có đủ báo cáo tài chính hợp nhất kiểm toán năm 2016 của toàn bộ hệ thống NHTM).

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở bao gồm:

  • Khảo sát sự tương thích và tác động của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng (được ban hành sau năm 2017) và các cơ chế thí điểm xử lý nợ xấu (như Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội);
  • Nghiên cứu cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với các hình thức cấp tín dụng mới phát sinh từ công nghệ tài chính (Fintech), cho vay ngang hàng (P2P Lending) và tín dụng số tại các NHTM;
  • Đánh giá lộ trình áp dụng toàn diện chuẩn mực Basel II và Basel III trong quản trị rủi ro cấp tín dụng tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Các cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước (Quốc hội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tư pháp): Tham khảo luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế tài chính - ngân hàng, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật về giao dịch bảo đảm và an toàn hoạt động tín dụng.
  • Các ngân hàng thương mại: Tham khảo để rà soát quy chế nội bộ, hoàn thiện quy trình phê duyệt tín dụng, thiết lập hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và kiểm soát giới hạn an toàn.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Ngân hàng: Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên khảo về cấu trúc pháp lý của hoạt động cấp tín dụng và phương pháp tiếp cận so sánh luật học trong lĩnh vực tài chính.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định cấu trúc pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng gồm những nhóm nội dung nào?
Luận án xác định cấu trúc pháp luật điều chỉnh gồm 4 nhóm quy phạm cơ bản: (1) Nhóm quy định về các hình thức, nghiệp vụ cấp tín dụng được phép thực hiện; (2) Nhóm quy định về thẩm quyền quyết định cấp tín dụng; (3) Nhóm quy định về nội dung hoạt động cấp tín dụng; (4) Nhóm quy định về giới hạn an toàn trong hoạt động cấp tín dụng.

2. Bản chất pháp lý của hoạt động cấp tín dụng của NHTM được luận án giải thích như thế nào?
Luận án xác định bản chất pháp lý của cấp tín dụng là việc chuyển nhượng quyền sở hữu một lượng tài sản (tiền tệ) từ NHTM sang khách hàng trên cơ sở hợp đồng, mang tính song vụ, đền bù, nhằm mục đích lợi nhuận và tuân thủ nguyên tắc hoàn trả vô điều kiện cả gốc và lãi khi đến hạn theo thỏa thuận.

3. Tại sao luận án không nghiên cứu hình thức cho thuê tài chính và giải quyết tranh chấp tín dụng?
Luận án loại trừ cho thuê tài chính vì theo luật định đây không phải là nghiệp vụ do NHTM trực tiếp thực hiện mà do công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính trực thuộc thực hiện. Nhóm quy định về vi phạm và giải quyết tranh chấp được loại trừ vì đã có nhiều công trình nghiên cứu riêng và thuộc phạm vi áp dụng của các quy trình tố tụng chung trong dân sự, thương mại và hình sự.

4. Khung thời gian và nguồn dữ liệu thực chứng của luận án được xác định ra sao?
Luận án nghiên cứu các quy định pháp luật từ khi Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực đến năm 2017. Dữ liệu thực chứng về tình hình tuân thủ và hoạt động của các NHTM được căn cứ trên Báo cáo tài chính hợp nhất sau quyết toán năm 2015 (thời điểm năm 2016 chưa có báo cáo tài chính hợp nhất đầy đủ khi luận án hoàn thành).

5. Hoạt động cho vay đóng vai trò như thế nào trong cơ cấu lợi nhuận của NHTM theo phân tích của tác giả?
Theo số liệu được luận án trình bày, hoạt động cho vay là nghiệp vụ kinh doanh cơ bản và chủ yếu nhất của NHTM, mang lại nguồn thu nhập chủ đạo chiếm khoảng 70% tổng lợi nhuận hàng năm của các ngân hàng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Ngọc Lương là công trình nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại tại Việt Nam dưới hiệu lực của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Bằng việc thiết lập mô hình phân tích dựa trên 4 nhóm quy phạm cấu thành, luận án đã làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng, đánh giá khách quan các hạn chế thực định và khoảng trống pháp luật giai đoạn 2010–2017. Các giải pháp lập pháp và bổ trợ được luận án đề xuất mang giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn, đóng góp cơ sở lý luận quan trọng cho việc hoàn thiện pháp luật ngân hàng và quản trị rủi ro tín dụng tại Việt Nam.