CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 1. Khái niệm và đặc trưng cơ bản của hợp đồng tín dụng 1.1 Định nghĩa hợp đồng tín dụng Đã từ lâu pháp luật về hợp đồng chiếm một vị trí quan trọng trong pháp luật Việt Nam, hầu hết các giao dịch trong xã hội, dù có mục đích kinh doanh hay nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thông thường đều liên quan đến hợp đồng. Chính vì vậy, các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 liên quan đến hợp đồng dân sự nói chung chiếm một phần không nhỏ. Mục đích của pháp luật về hợp đồng nhằm bảo vệ quyền tự do ý chí của các bên.
Hợp đồng hiểu theo nghĩa rộng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về một vấn đề nhất định trong xã hội nhằm làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quyền hay nghĩa vụ của các bên đó. Bộ luật Dân sự 2015 đã đưa ra khái niệm về hợp đồng dân sự một cách khái quát như sau: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ đối với nhau.” (Điều 385, Bộ luật dân sự 2015) Tín dụng là một từ Hán-Việt có nghĩa gốc là “tin dùng” sử dụng với sự tín nhiệm, dần dần từ này được sử dụng với nghĩa là giao vốn, tài sản trên cơ sở của sự tín nhiệm. Về bản chất, tín dụng là quan hệ kinh tế trong đó một chủ thể thỏa thuận đẻ các chủ thể khác được sử dụng một số vốn của mình (dưới hình thức tiền tệ hoặc hàng hóa) trong một khoảng thời gian nhất định với điều kiện có hoàn trả dựa trên cơ sở có sự tín nhiệm. Hợp đồng tín dụng là một dạng của hợp đồng cho vay.
Vì vậy để hiểu được hợp đồng tín dụng là gì thì trước hết phải nghiên cứu khái niệm hợp đồng cho vay, theo đó hợp đồng cho vay là: “Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.” Từ đó ta có thể hiểu khái niệm “Hợp đồng tín dụng là sự thoả thuận bằng văn bản giữa TCTD (bên cho vay) với khách hàng là tổ chức, cá nhân (bên vay) nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ nhất định giữa các bên theo quy định của pháp luật, theo 7 đó TCTD (bên cho vay) chuyển giao một khoản vốn tiền tệ cho khách hàng (bên vay) sử dụng trong một thời hạn nhất định với điều kiện khách hàng sẽ hoàn trả khoản tiền đó (tiền gốc) và lãi vay sau một thời gian nhất định”. Trong quan hệ tín dụng, trước khi giải ngân thì thế mạnh hoàn toàn thuộc về TCTD và TCTD là người quyết định có hay không cho vay. Dấu ấn vẫn đang hiện hữu trong Luật các TCTD năm 2010 để chỉ quá trình chuẩn bị giao kết hợp đồng, đó là những cụm từ “cấp tín dụng” và “xét duyệt cấp tín dụng” hay là “yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh” tính khả thi của phương án vay vốn và khả năng trả nợ. Tuy nhiên, ngay sau khi thực hiện hợp đồng, tức là sau khi TCTD giải ngân, thì xu thế lại hoàn toàn đảo ngược.
Khi ấy, bên vay là người nắm vai trò chủ động trong việc trả nợ. Mặc dù TCTD có khá nhiều quyền chi phối theo quy định của pháp luật về HĐTD, nhưng vẫn trở thành bên thụ động. Hợp đồng tín dụng có vai trò không nhỏ trong nền kinh tế lẫn hệ thống ngân hàng, vì thế việc xây dựng chế định pháp lý chặt chẽ cho HĐTD là vấn đề không chỉ ở Việt Nam mà còn được nhiều nước quan tâm.1 Đặc điểm của hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng mang khá đầy đủ bản chất của hợp đồng vay tài sản theo quy định tại điều 463 BLDS 2015 “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải trả cho bên vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chi trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”. Ngoài ra, HĐTD còn có một số đặc trưng riêng biệt sau: Thứ nhất là, một bên chủ thể của HĐTD luôn là TCTD.
TCTD muốn thực hiện hoạt động cho vay phải hội đủ các điều kiện về thành lập, vốn pháp định, có điều lệ được Ngân hàng Nhà nước chuẩn y và có đại diện hợp pháp khi tham gia ký kết hợp đồng theo quy định của pháp luật. Những điều kiện trên đây không những góp phần hạn chế, loại trừ những TCTD không đủ tiêu chuẩn kinh doanh trên thị trường tài chính mà còn góp phần lành mạnh hóa các quan hệ tín dụng. Ngoài ra, khi TCTD hội đủ các điều kiện trên sẽ góp phần bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, là căn cứ để các thẩm phán, các trọng tài viên tiến hành thẩm định và đánh giá vấn đề hiệu lực của HĐTD. 8 Để thực hiện hoạt động cho vay, TCTD phải tiến hành ký kết hợp đồng nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Trong HĐTD, TCTD luôn tham gia ký kết với tư cách là chủ thể cho vay nhằm phân phối lại nguồn vốn đã huy động từ tổ chức và cá nhân khác trong xã hội. Với tư cách là chủ thể cho vay, TCTD phải thẩm định được phương án vay vốn, tính hiệu quả của việc sử dụng vốn vay. Điều này là vô cùng cần thiết vì nó có khả nẳng hoàn trả nợ vay của bên đi vay. Các TCTD tham gia vào quan hệ tín dụng ngân hàng chủ yếu để thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ vào mục tiêu lợi nhuận, trừ trường hợp các TCTD chính sách thực hiện hoạt động tín dụng vì mục đích xã hội là chính.
Thứ hai là, HĐTD phải luôn được ký kết dưới hình thức văn bản. Đặc trưng cơ bản của hoạt động tín dụng ngân hàng là đi vay để cho vay, vì vậy, để cho vay lại ngân hàng phải có trách nhiệm bảo toàn nguồn vốn tín dụng của mình. Để thực hiện điều này thì quyền và nghĩa vụ của các bên (TCTD và bên đi vay) phải cụ thể. Pháp luật quy định các chủ thể khi tham gia vào quan hệ tín dụng ngân hàng phải thỏa thuận bằng văn bản các quyền và nghĩa vụ của mình.
Thực ra quy định này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên. Bởi vì HĐTD là cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh các chấp của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. HĐTD được ký kết dưới các hình thức pháp lý là văn bản bao gồm cả văn bản viết và văn bản điện tử dưới dạng thông điệp dữ liệu. Ngôn ngữ, văn phạm khi soạn thảo HĐTD phải chính xác, rõ ràng, ngắn gọn, dứt khoát, đầy đủ.
Dù HĐTD ký kết dưới hình thức nào trên đây đều có giá trị pháp lý ngang nhau và đều là chứng cứ trong quá trình giao dịch (Khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 11, 12, 13 Luật Giao dịch điện tử năm 2005). Và tại Điều 17 quy định về HĐTD tại Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ban hành về quy chế cho vay giữa TCTD đối với khách hàng có hiệu lực ngày 01 tháng 02 năm 2002 cũng nêu rõ “Việc cho vay của TCTD và khách hàng vay phải được lập thành HĐTD”. Thông qua những quy định trên cho thấy HĐTD phải đáp ứng về quy định về hình thức là hợp đồng phải lập thành văn bản, đây là một trong những điều kiện có hiệu lực của HĐTD. Thường HĐTD là hợp đồng mẫu do các tổ chức tín dụng soạn thảo dựa trên quy định của pháp luật và phù hợp với quy chế cho vay của ngân hàng.
Các điều khoản cụ thể trong HĐTD phải đảm bảo xác định cụ thể quyền và nghĩa vụ của bên 9 cho vay và bên đi vay. Khi các bên thỏa thuận cụ thể về quyền và nghĩa vụ của mình trong hợp đồng thì các bên phải thực hiện đúng các điều mà mình đã cam kết. Nếu một trong hai bên vi phạm cam kết gây thiệt hại cho bên kia, họ phải có trách nhiệm bồi thường cho bên bị vi phạm. Như vậy, khi xảy ra tranh chấp thì HĐTD là cơ sở để quy trách nhiệm cho các bên.
Thứ ba là, đối tượng của HĐTD là vốn tiền tệ. Vốn tiền tệ trong HĐTD có thể là tiền đồng Việt Nam, vàng hoặc ngoại tệ. Đối tượng này có thể tồn tại ở vật hiện hữu là tiền mặt hoặc bút tệ. Đây là đặc điểm rất quan trọng trong quan hệ cho vay đối với ngân hàng.
Chính đặc điểm này đã giúp cho hoạt động cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của TCTD và trở thanh một hình thức tín dụng phổ biến trong nền kinh tế thị trường. Từ vốn tiền tệ, bên đi vay họ có thể thỏa mãn bất kì nhu cầu nào của họ kể cả số lượng vốn vay và mục đích vay vốn. Cũng cần lưu ý rằng, bên cho vay là công ty cho thuê tài chính nhưng đối tượng của nó là tài sản thì đây chính là quan hệ cho thuê tài chính (chứ không phải là hoạt động cho vay theo quy định của pháp luật) và các bên phải ký hợp đồng thuê mua tài chính. Như vậy, yếu tố đối tượng vốn tiền tệ là một đặc điểm không thể thiếu được của HĐTD.
Thứ tư là, HĐTD luôn nhằm mục đích sinh lợi. Tính chất sinh lợi của HĐTD luôn được biểu hiện qua tỷ số chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn của TCTD. Lãi suất cho vay luôn cao hơn lãi suất huy động vốn và sự chênh lệch này luôn phụ thuộc vào cung cầu về vốn trên thị trường tùy thuộc vào từng thời điểm cụ thể, hiện nay mức lãi suất trong HĐTD ngân hàng do các bên thỏa thuận. Ngân hàng hoạt động theo các quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật có liên quan nên mục đích tìm kiếm lợi nhuận không chỉ là điều tất yếu mà còn là động lực giúp TCTD duy trì hoạt động kinh doanh của mình.
Khách hàng càng nhiều, hợp đồng càng tăng thì lợi nhuận của TCTD càng sinh sôi, phát triển. Vì vậy, vận mệnh của TCTD luôn gắn với khả năng tạo ra giá trị thặng dư của đồng tiền thông qua việc huy động vốn và kí kết HĐTD.