Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về bồi thường thiệt hại theo Hợp đồng tín dụng 1. Khái quát về Hợp đồng tín dụng 1. Khái niệm Hợp đồng tín dụng Hợp đồng, với tư cách là một thuật ngữ pháp lý, được hiểu là sự thỏa thuận bằng lời nói hoặc văn bản hoặc bằng cách khác giữa hai hay nhiều chủ thể có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ nhất định trên cơ sở phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội.
Hợp đồng tín dụng về bản chất là những hợp đồng cho vay tài sản theo quy định của BLDS 2015. Tuy nhiên, chỉ được gọi là hợp đồng tín dụng khi bên cho vay là các tổ chức tín dụng (TCTD). Hợp đồng tín dụng chính là hợp đồng vay, theo đó TCTD là bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Còn những hoạt động cấp tín dụng khác như bảo lãnh, cầm cố, chiết khấu giấy tờ có giá được gọi chung là hợp đồng cấp tín dụng.
Hợp đồng tín dụng là văn bản pháp lý thể hiện mối quan hệ tín dụng giữa TCTD và người đi vay. Đó là cơ sở pháp lý quy định cụ thể các điều khoản và điều kiện để thực hiện việc cho vay/cấp tín dụng, quản lý khoản vay, thu hồi nợ và xử lý các khiếu kiện/tranh chấp (nếu có). Cho vay vốn được ví như việc bán chịu một loại hàng hóa đặc biệt, đó là tiền tệ. Vì vậy, trong quan hệ tín dụng, trước khi giải ngân, thì thế mạnh hoàn toàn thuộc về TCTD và TCTD là bên quyết định việc cho vay hay không cho vay, điều này được thể hiện trong Luật các TCTD năm 2010 và Luật sửa đổi một số điều luật các tổ chức tín dụng năm 2017 để chỉ quá trình chuẩn bị giao kết hợp đồng, đó là những cụm từ “cấp tín dụng” và “xét duyệt cho vay” hay là “yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh” tính khả thi của phương án vay vốn và khả năng trả nợ.
Tuy nhiên, ngay sau khi thực hiện hợp đồng, tức là sau khi TCTD giải ngân cho khách 14 hàng, thì TCTD không còn nắm được ưu thế, khi ấy, bên vay là người nắm vai trò chủ động trong việc trả nợ. Mặc dù TCTD có khá nhiều quyền chi phối theo quy định của pháp luật về hợp đồng tín dụng, nhưng vẫn trở thành bên thụ động – bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng. Vì vậy, hợp đồng tín dụng có thể hiểu như sau: “Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện do luật định (bên vay), theo đó tổ chức tín dụng thỏa thuận ứng trước một số tiền cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm". Đặc điểm Hợp đồng tín dụng.
Bên cạnh những dấu hiệu của hợp đồng nói chung, HĐTD còn có một số đặc điểm đặc trưng sau đây để phân biệt với các loại hợp đồng khác trong giao dịch dân sự và thương mại: - Về chủ thể: một bên tham gia hợp đồng phải là tổ chức tín dụng có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, với tư cách là bên cho vay. Còn chủ thể bên kia có thể là tổ chức, cá nhân thỏa mãn những điều kiện vay vốn do pháp luật và do tổ chức tín dụng quy định, với tư cách là bên đi vay. - Về hình thức: HĐTD phải được lập thành văn bản, trong đó có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận [16]. - Về bản chất: HĐTD là sự kết hợp giữa hợp đồng vay tài sản, hợp đồng song vụ và hợp đồng ưng thuận.
Vì đối tượng của hợp đồng tín dụng là tiền (do vậy tiền là tài sản đặc biệt); Các bên khi tham gia ký kết HĐTD đều phải có nghĩa vụ với nhau, bên cho vay có nghĩa vụ giao khoản tiền nhất định cho bên vay và bên vay có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi, phí phát sinh sau khi trả nợ; Quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh ngay sau khi các bên đã thoả thuận với nhau xong về nội dung chủ yếu của Hợp đồng. 15 - Về đối tượng: đối tượng của HĐTD bao giờ cũng là tiền (đồng tiền cho vay có thể là đồng Việt Nam hoặc bằng ngoại tệ phù hợp với quy định của NHNN và pháp luật có liên quan). Về nguyên tắc, đối tượng của HĐTD bao giờ cũng phải là một số tiền xác định và phải được các bên thỏa thuận, ghi rõ trong văn bản hợp đồng. - Về tính rủi ro: HĐTD luôn tiềm ẩn nguy cơ rủi ro rất lớn ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của các TCTD.
Bởi lẽ, trên cơ sở các nghĩa vụ đã cam kết trong HĐTD, các TCTD chỉ có thể đòi tiền của bên vay sau một khoảng thời gian nhất định. Nếu thời hạn cho vay càng kéo dài thì nguy cơ xảy ra thiệt hại càng lớn. Do đó, các tranh chấp phát sinh từ HĐTD cũng thường xảy ra phổ biến hơn, với tần suất và số lượng cao hơn so với các loại tranh chấp phát sinh từ hợp đồng khác. - Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ: trong HĐTD, nghĩa vụ giải ngân tiền vay của các TCTD luôn được thực hiện trước, trên cơ sở đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của bên vay.
Vì vậy, khi TCTD chứng minh về việc đã giải ngân cho bên vay theo đúng cam kết trong HĐTD thì khi đó TCTD có quyền yêu cầu bên vay thực hiện các nghĩa vụ đối với mình. Khái quát về bồi thường thiệt hại theo Hợp đồng tín dụng 1. Khái niệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng tín dụng Theo quy định của phần lớn hệ thống pháp luật trên thế giới, các hình thức trách nhiệm theo hợp đồng bao gồm: Bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm hợp đồng. Bồi thường thiệt hại vì vậy là một hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng.
Theo đó, nó là hậu quả bất lợi mà bên vi phạm trong quan hệ hợp đồng phải gánh chịu trước phía bên kia.Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định về trách nhiệm theo hợp đồng trong BLDS và Luật thương mại. Theo đó, Bộ luật dân sự quy định hai hình thức trách nhiệm theo hợp đồng bao gồm: “Bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm”; còn Luật thương mại thì quy định sáu hình thức chế tài thương mại (về bản chất cũng là trách nhiệm hợp đồng) gồm: “Buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, buộc bồi thường thiệt hại, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng”. 16 Trong các biện pháp chế tài do vi phạm hợp đồng thì bồi thường thiệt hại là một trong những chế tài phức tạp nhất về các điều kiện áp dụng. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một dạng của trách nhiệm pháp lý, việc xem xét trách nhiệm pháp lý của các bên phải dựa trên căn cứ nhất định.
Chế tài là đặc trưng cơ bản của pháp luật nói chung và pháp luật về hợp đồng nói riêng là một phương tiện để thi hành quyền hoặc ngăn cản việc vi phạm quyền hay khắc phục hậu quả của sự vi phạm quyền. Trong quan hệ hợp đồng, chế tài được hiểu là các quyền trao cho một bên bởi pháp luật hoặc bởi hợp đồng mà bên được trao quyền có thể thi hành đối với phía bên kia khi có sự vi phạm. Khi một bên trong quan hệ hợp đồng vi phạm nghĩa vụ sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích vật chất của bên kia. Do đó, bên vi phạm gây thiệt hại phải có trách nhiệm bù đắp những lợi ích vật chất và thỏa mãn những quyền lợi chính đáng mà bên kia đáng lẽ phải được hưởng.
Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015 quy định, trách nhiệm bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm chung và được áp dụng trong trường hợp một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng mà gây thiệt hại. Thậm chí cả trong trường hợp bên có quyền bị vi phạm đã áp dụng các hình thức trách nhiệm khác thì họ vẫn không đương nhiên mất quyền đòi bồi thường thiệt hại. Vì thế có thể coi bồi thường thiệt hại là một giải pháp vạn năng cho mọi trường hợp vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Tất nhiên hình thức trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng không phải là hình thức riêng có ở Việt Nam mà còn có ở hệ thống pháp luật khác.
Trong Bộ luật dân sự Pháp, tại Điều 1147 quy định: “Người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do không thực hiện hoặc thực hiện chậm nghĩa vụ”. Trong Bộ luật dân sự Nhật Bản, tại Điều 415 quy định: “Người có quyền có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ phù hợp với tinh thần và mục đích của nó”. Trong Công ước Viên 1980 và Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế năm 2004 tương ứng tại Điều 74 và Điều 7. quy định: “Quyền bồi thường thiệt hại phát sinh ngay cả khi xảy ra vi phạm bất kỳ một nghĩa vụ nào của hợp đồng”.
Và cuối cùng, trong hệ thống pháp luật hợp đồng Common law: “Mọi 17 vi phạm nghĩa vụ hợp đồng đều là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại”[29]. Theo quy định của BLDS 2015 thì bồi thường thiệt hại được thực hiện theo hướng bồi thường do vi phạm nghĩa vụ vì hợp đồng là một căn cứ chủ yếu để phát sinh nghĩa vụ. BLDS với tư cách là luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự, trên cơ sở đó, các văn bản luật khác quy định về chế độ bồi thường thiệt hại được coi là pháp luật chuyên ngành, do vậy nguyên tắc áp dụng pháp luật sẽ áp dụng luật chuyên ngành trước, trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Theo Điều 229, Khoản 1 Luật thương mại: “Bồi thường thiệt hại là việc bên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả tiền bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng gây ra” .