lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương: Chƣơng I: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng bằng bất động sản bảo đảm. Chƣơng II: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng bằng bất động sản bảo đảm của HDbank. Chƣơng III: Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng bằng bất động sản bảo đảm tại HDbank. Luan van 5 CHƢƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG BẰNG BẤT ĐỘNG SẢN BẢO ĐẢM 1.
Tổng quan về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng 1. Một số khái niệm rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng Từ trước đến nay có rất nhiều khái niệm về rủi ro nhưng đơn giản nhất có thể hiểu rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm, tổn thất một cách khách quan, ngoài ý muốn của con người và không thể lường trước được. Trong kinh doanh, rủi ro được hiểu là những thiệt hại mà các doanh nghiệp và các cá nhân phải gánh chịu trong lĩnh vực kinh doanh của mình. Rủi ro trong hoạt động ngân hàng là khả năng sảy ra các sự kiện chưa chắc chắn trong tương lai mà có thể gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận và nguồn vốn của ngân hàng, khiến ngân hàng không đạt mục tiêu hoặc gây tổn thất cho ngân hàng.
Khi gặp rủi ro trong kinh doanh, ngân hàng sẽ bị tổn thất về tài sản, lợi nhuận thực tế bị giảm sút so với dự kiến, hoặc phải bỏ ra một khoản chi phí nhất định để khắc phục. Trong lĩnh vực ngân hàng, khái niệm rủi ro được chia làm ba loại rủi ro chính, đó là rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Rủi ro tín dụng: Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ngày 22/04/2005, rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng được hiểu là “khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Theo khoản 1 điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN: “Rủi ro tín dụng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Tại HDbank, chính sách quản lý rủi ro của ngân hàng cũng xác định rủi ro tín dụng như sau: "Khả năng xảy ra những tổn thất trong hoạt động nghiệp vụ tín dụng của ngâng hàng do khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết". Như vậy, có thể hiểu RRTD là những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra trong Luan van 6 quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, do khách hàng vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ (bao gồm lãi vay và gốc) hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng như đã cam kết trong hợp đồng. Đây là rủi ro gắn liền với hoạt động tín dụng, dẫn đến tổn thất tài chính như giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Quản trị rủi ro tín dụng là một khái niệm rộng với nội hàm gồm nhiều nội dung khác nhau trong quản trị điều hành một NHTM.
Do đó có nhiều cách hiểu, có thể có nhiều khái niệm khác nhau về vấn đề này. Có thể thấy một số khái niệm điểm hình: Theo tài liệu hướng dẫn quản trị RRTD của MAS (Singapore) thì: “Quản trị RRTD là quá trình nhận diện, đo lường, đánh giá, giám sát, kiểm soát và báo cáo RRTD trong một khoảng thời gian nhất định, trên cơ sở đó đảm bảo vốn để chống đỡ RRTD đã xác định”. Trong Khung quản trị RRTD của Ngân hàng Standard Charter (năm 2012); “Quản trị RRTD là quá trình quản trị RRTD thông qua thiết lập Khung các chính sách và thủ tục nhằm kiểm soát việc đo lường và quản lý RRTD”. Theo quan điểm của Ủy ban Basel, “ Quản trị RRTD là việc thực hiện các biện pháp để tối đa hóa tỷ suất sinh lời điều chỉnh Tại HDbank, quản trị rủi ro tín dụng được xác định như sau: "là quá trình ngân hàng tác động đến hoạt động tín dụng thông qua bộ máy, công cụ quản lý để phòng ngừa, cảnh báo, đưa ra các biện pháp khắc phục nhằm hạn chế đến mức tối đa các rủi ro tín dụng phát sinh".
Như vậy có thể hiểu Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được mục tiêu an toàn, phát triển bền vững, tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ xấu, nợ quá hạn trong kinh doanh tín dụng, từ đó tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh trong cả ngắn hạn và dài hạn của ngân hàng thương mại. Theo khái niệm trên thì nội hàm của quản trị rủi ro tín dụng bao gồm một hệ thống: - Chiến lược hoạt động tín dụng - Các chính sách của NHTM trong hoạt động tín dụng - Các biện pháp được triển khai trong toàn bộ hệ thống NHTM nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng. Nội dung quản trị rủi ro tín dụng 1. Xây dựng chính sách tín dụng: Hoạt động tín dụng của ngân hàng rất phong phú, đa dạng nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro.
Xây dựng một chính sách tín dụng nhất quán và hợp lý, phù hợp với đặc điểm của từng ngân hàng sẽ giúp phát huy được các thế mạnh của mỗi ngân hàng, từ đó giúp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng, kiểm soát rủi ro tín dụng ngân hàng. Xây dựng quy trình tín dụng: Quy trình tín dụng là những quy định cụ thể các bước nghiệp vụ từ khi nhận hồ sơ tín dụng cho đến khi quyết định cho vay, thu nợ. Xây dựng một quy trình tín dụng hợp lý sẽ giúp cho công tác quản lý tín dụng được thống nhất, khoa học, đồng thời nâng cao trách nhiệm của từng cán bộ thực hiện vì quy trình tín dụng thường quy định trách nhiệm của từng bộ phận tham gia thực hiện công tác tín dụng. Nhận diện rủi ro liên quan đến khách hàng vay: thông qua quá trình kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay và bằng các kênh thông tin, cán bộ tín dụng phải luôn bám sát, theo dõi khoản vay để kịp thời nhận diện rủi ro, từ đó có những biện pháp tối ưu để khắc phục.
Các dấu hiệu có thể gây ra rủi ro tín dụng từ phía khách hàng như: khách hàng trì hoãn, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc kiểm tra định kỳ hoặc kiểm tra đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng; chậm gửi hoặc hoãn gửi báo cáo tài chính; chậm thanh toán các khoản nợ khi đến hạn. Chấm điểm khách hàng: Chấm điểm khách hàng là quá trình xếp hạng khách hàng theo các cấp độ khác nhau dựa trên các yếu tố định tính và định lượng. Việc chấm điểm khách hàng sẽ giúp ngân hàng sàng lọc được những khách hàng không tốt, từ đó có những chính sách cụ thể đối với mỗi loại khách hàng (chính sách cấp tín dụng, chính sách lãi suất. Phân loại nợ: Việc phân loại các khoản nợ (món vay) của ngân hàng sẽ giúp ngân hàng có điều kiện theo dõi và đánh giá cấp độ rủi ro của từng món vay, từng khách hàng vay để từ đó có các giải pháp kịp thời.
Việc phân loại nợ sẽ là cơ sở cho việc đưa ra mức độ giám sát và mức trích lập dự phòng rủi ro cho từng món vay. Kiểm soát tín dụng: Xây dựng một bộ phận kiểm tra, kiểm soát tín Luan van 8 dụng sẽ giúp phát hiện ra những sai sót trong quá trình thực hiện tín dụng. Từ đó có thể giúp ngăn ngừa rủi ro xẩy ra. Bộ phận kiểm tra, kiểm soát tín dụng phải được xây dựng độc lập với bộ phận thẩm định cho vay để bảo đảm tính khách quan và chính xác trong quá trình kiểm tra tín dụng và phải thực hiện thường xuyên, liên tục.
Hệ thống kiểm tra, kiểm soát phải thực hiện tốt và hiệu quả chức năng giám sát rủi ro bao gồm các công việc như: giám sát thực tiễn sản xuất kinh doanh của khách hàng và việc thực hiện các điều khoản đã có trong hợp đồng tín dụng ký với khách hàng. Việc giám sát nhằm phát hiện ra các dấu hiệu rủi ro thực tiễn, những biến động xấu trong sản xuất kinh doanh của khách hàng để từ đó xác định rủi ro tiềm tàng và có các biện pháp sử lý kịp thời. Phương pháp giám sát rất đa dạng. Sau đây là một số phương pháp thường dùng trong ngân hàng + Giám sát hoạt động tài khoản của khách hàng tại ngân hàng: Sự thay đổi số dư, số phát sinh trong tài khoản tiền gửi và tiền vay của khách hàng phản ánh tình hình tiêu thụ sản phẩm, lưu chuyển tiền tệ, sử dụng vốn vay và trả nợ.
Sự biến đổi bất thường trong tài khoản phản ánh những khó khăn trong quản trị tài chính của khách hàng, dẫn tới khó khăn trong chi trả của khách hàng. + Phân tích báo cáo tài chính định kỳ: Kết quả phân tích sẽ cho thấy, những biểu hiện làm giảm khả năng hoàn trả nợ hay biểu hiện vi phạm hợp đồng của khách hàng. + Kiểm tra các bảo đảm tiền vay: Thông qua các báo cáo thường kỳ về tình trạng các đảm bảo tiền vay, kiểm tra trực tiếp tài sản đảm bảo, cán bộ tín dụng có thể đánh giá được tình trạng của các tài sản đảm bảo. Đối với tài sản thế chấp, ngân hàng còn cần xem xét việc sử dụng tài sản có hợp lý đúng như cam kết hay không.
Còn với đảm bảo bằng bảo lãnh cần xem xét nội dung giám sát người bảo lãnh cũng như đối với khách hàng đi vay. + Giám sát những thông tin khác: Ngoài ra, cần kiểm tra địa điểm cư trú, nơi sản xuất kinh doanh, thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng. Trích lập dự phòng và xử lý rủi ro: Quỹ dự phòng rủi ro là nguồn bù đắp chủ yếu của những khoản tín dụng bị tổn thất. Quỹ thường được trích ra từ lợi nhuận sau thuế.
Với việc lập quỹ dự phòng rủi ro khi rủi ro xảy ra, việc mất vốn cho vay sẽ không gây nhiều tác động tới ngân hàng.