Chương 1. Tổng quan về hợp đồng tín dụng và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng. Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Agribank Chi nhánh thành phố Uông Bí Tây Quảng Ninh Chương 3. Một số giải pháp nâng cao năng lực giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Agribank Chi nhánh thành phố Uông Bí Tây Quảng Ninh.
TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 1.1 Tổng quan về hợp đồng tín dụng 1.1 Khái niệm về hợp đồng tín dụng Có thể thấy hợp đồng là một khái niệm có nguồn gốc từ lâu đời và là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự. Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”. Như vậy, hợp đồng chính là sự thỏa thuận bằng văn bản hoặc lời nói giữa hai hay nhiều chủ thể có đầy đủ năng lực pháp lý và năng lực hành vi dân sự, nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật và chuẩn mực của đạo đức xã hội. Tín dụng là một trong những chức năng cơ bản, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của các ngân hàng và tổ chức tín dụng.
Tín dụng là phương thức giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các tổ chức tín dụng) với bên đi vay (các cá nhân, tổ chức), theo đó bên cho vay cấp cho bên đi vay tài sản sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có nghĩa vụ hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên đi vay khi đến thời hạn thanh toán. Từ khái niệm về hợp đồng và tín dụng ở trên, có thể thấy hợp đồng tín dụng chính là một dạng cụ thể của hợp đồng vay tài sản đã được quy định tại bộ luật Dân sự 2015: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định” (Điều 463). Hợp đồng tín dụng chính là căn cứ pháp lý mà qua đó, ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác thực hiện hoạt động cho vay theo quy định của pháp luật. Tác giả Lê Văn Tề cho rằng: “Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với tổ chức cá nhân có đủ những điều kiện 10 theo luật định (bên vay), theo đó tổ chức tín dụng thỏa thuận ứng trước một số tiền cho bên vay trong một thời hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm1”.
Tuy hai định nghĩa có sự diễn đạt khác nhau, nhưng cả hai cách diễn đạt trên đều thống nhất về nội dung. Trước hết hợp đồng tín dụng là một loại hợp đồng cho vay, vì thế cần phải có sự tự nguyện, thống nhất về ý chí giữa các bên tham gia hợp đồng. Về phương diện hình thức, hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên cho vay (các ngân hàng, tổ chức tín dụng) và bên đi vay (cá nhân, tổ chức). Về phương diện nội dung, bên cho vay cho phép bên vay sử dụng một khoản tiền vốn nhất định trong thời hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả cả khoản tiền vốn và lãi theo lãi suất đã thỏa thuận, phù hợp với quy định của pháp luật.
Khác với các loại hợp đồng khác, hợp đồng tín dụng có mức độ rủi ro cao, vì thế cần phải có những quy định chặt chẽ về chủ thể, về hình thức của hợp đồng… Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa hợp đồng tín dụng như sau: “Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa một bên là các tổ chức tín dụng (bên cho vay) với một bên là các tổ chức, cá nhân khác (bên vay) đáp ứng đủ yêu cầu theo quy định của pháp luật, theo đó các bên thống nhất rằng bên cho vay chuyển cho bên vay một khoản tiền nhất định, bên vay có nghĩa vụ hoàn trả cả tiền gốc và tiền lãi cho bên cho vay khi kết thúc thời hạn cho vay theo thỏa thuận và theo quy định của pháp luật”.2 Đặc điểm của hợp đồng tín dụng Ngoài những đặc điểm của hợp đồng nói chung, hợp đồng tín dụng có một số đặc điểm riêng sau: − Thứ nhất, chủ thể tham gia hợp đồng tín dụng bao gồm bên cho vay và bên đi vay. Trong đó bên cho vay là các tổ chức tín dụng (có thể là ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng phi ngân hàng). Bên cho vay trong hợp đồng tín dụng phải đáp ứng đủ những điều kiện theo quy định tại Luật các tổ chức tín dụng 2010 (được chỉnh 1 Lê Văn Tề, Tín dụng ngân hàng, NXB Lao động, 2013, tr.56 11 sửa, bổ sung tại luật sửa đổi luật các tổ chức tín dụng 2017). Bên còn lại (bên vay) có thể là cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp.
Nếu chủ thể là pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật. Chủ thể là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật hoặc từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. − Thứ hai, đối tượng của hợp đồng tín dụng là tiền (bao gồm tiền mặt và bút tệ) và sự chuyển nhượng của đối tượng hợp đồng tín dụng chỉ mang tính chất tạm thời. Đây chính là điểm khác biệt giữa hợp đồng tín dụng với các hợp đồng khác.
Trong các hợp đồng khác, đối tượng có thể là hàng hóa, dịch vụ, sản phẩm, tài sản hữu hình… nhưng đối tượng trong hợp đồng tín dụng luôn là tiền. Trong hợp đồng tín dụng luôn xác định rõ số tiền cho vay và đồng tiền cho vay. Số tiền cho vay là khoản tiền mà bên cho vay chuyển cho bên vay theo thỏa thuận. Tính chất chuyển nhượng trong hợp đồng tín dụng chỉ mang tính chất tạm thời được thể hiện ở chỗ.
Bên đi vay chỉ được phép sử dụng số tiền trong khoảng một thời gian nhất định, hết thời hạn này lượng tiền được chuyển nhượng phải được hoàn trả về cho bên cho vay. Xét về bản chất, trong hợp đồng tín dụng chỉ có sự chuyển giao quyền sử dụng tiền mà bên cho vay đang nhàn rỗi cho bên đi cần sử dụng tiền (bên đi vay). Bên cho vay không mất quyền sở hữu đối với lượng tiền cho vay này mà chỉ làm thay đổi tình trạng khách thể của quyền sở hữu. Hay nói cách khác, bên cho vay từ việc sở hữu một khoản tiền, sau khi chuyển nhượng khoản tiền này cho bên đi vay thì bên đi vay là chủ sở hữu tạm thời của khoản tiền đó; đồng thời bên cho vay sở hữu một quyền tài sản là quyền đòi nợ.
Khi đến thời hạn theo thỏa thuận thì bên đi vay phải chuyển trả lại khoản tiền đã vay cho bên cho vay. Tính chất tạm thời của sự chuyển nhượng lượng tiền trong hợp đồng tín dụng là điểm khác biệt cơ bản giữa hợp đồng tín dụng với hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng biếu tặng tài sản. − Thứ ba, hợp đồng tín dụng có mức độ rủi ro cao cho bên cho vay. Theo hợp đồng tín dụng thì bên cho vay chỉ có thể nhận lại được khoản tiền sau một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận.
Khoảng thời gian này càng dài thì nguy cơ rủi ro càng cao. Trong trường hợp bên đi vay bị phá sản hoặc không có khả năng trả nợ 12 thì bên cho vay có nguy cơ khó thu hồi được khoản tiền đã cho vay. − Thứ tư, hợp đồng tín dụng thường có biện pháp bảo đảm kèm theo. Chính vì hợp đồng tín dụng chứa đựng nguy cơ rủi ro cao nên bên đi vay (các tổ chức tín dụng) thường yêu cầu cần có biện pháp bảo đảm kèm theo khoản tiền cho vay như thế chấp tài sản, cầm cố tài sản, bảo lãnh của bên thứ ba…Trước khi cho vay, các tổ chức tín dụng thường tiến hành thẩm định về khả năng trả nợ của người đi vay từ đó xác định có cần thiết phải có biện pháp bảo đảm đi kèm hay không.
− Thứ năm, hợp đồng tín dụng mang tính chất đền bù. Hợp đồng có tính chất đền bù là hợp đồng trong đó, một bên khi nhận được lợi ích từ bên kia mang lại, phải mang lại cho bên đó một lợi ích tương ứng. Trong hợp đồng tín dụng, tính chất đền bù thể hiện ở chỗ, cá nhân tổ chức đi vay sẽ nhận được khoản tiền không phải của mình trong một thời hạn nhất định, hết thời hạn thì phải thực hiện cho các tổ chức tín dụng một khoản tiền lãi tương ứng. Lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng thỏa thuận với khách hàng, tuy nhiên phải phù hợp với khung lãi suất cơ bản mà Ngân hàng Nhà nước quy định.
− Thứ sáu, về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ. Trong hợp đồng tín dụng, bên cho vay có nghĩa vụ chuyển đầy đủ số tiền, đúng thời gian cho vay cho bên đi vay trước (nghĩa vụ giải ngân), đây là cơ sở tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay. Do đó, chỉ khi nào bên cho vay chứng minh là đã chuyển tiền cho bên vay theo nội dung của hợp đồng tín dụng thì khi đó bên cho vay có có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện các nghĩa vụ đối với mình. Bên cho vay có nghĩa vụ kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền vay và trả nợ của khách hàng; đồng thời có quyền yêu cầu bên vay hoàn trả tiền vay và tiền lãi theo đúng thỏa thuận.
Bên vay có quyền yêu cầu bên cho vay thực hiện đúng nghĩa vụ giải ngân theo nội dung hợp đồng tín dụng mà các bên đã giao kết; đồng thời có nghĩa vụ sử dụng tiền vay hiệu quả và đúng mục đích đã thỏa thuận, nghĩa vụ hoàn trả tiền gốc và lãi theo đúng quy định trong hợp đồng tín dụng. Có thể nói, các bên tham gia hợp đồng tín dụng đều có những quyền và nghĩa vụ nhất định.