Chương 1: Giới thiệu chung. Chương này giới thiệu, lý do hình thành đề tài, tính cấp thiết của đề tài, qua đó nêu lên mục tiêu mà đề tài hướng đến. Từ đó định hướng đối tượng, phạm vi nghiên cứu cũng như ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Giới thiệu cơ sở lý thuyết của đề tài, những nghiên cứu liên quan đến rủi ro tín dụng, dựa trên những mô hình tham khảo để đưa ra mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng của khách hàng cá nhân trên địa bàn thành phố Đà Lạt. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày chi tiết phương pháp nghiên cứu. Các bước xây dựng thang đo các biến độc lập và phụ thuộc của mô hình nghiên cửu, cách thức thu thập và phân tích dữ liệu nghiên cứu cũng như trình tự các bước nghiên cứu.
7 / 69 Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày các kết quả nghiên cứu định lượng với việc mô tả dữ liệu thu thập được, phân tích mối tương quan của các biến trong mô hình nghiên cứu, kiểm định sự phù hợp của mô hình nghiên cứu cũng như kiểm định các giả thuyết của mô hình nghiên cứu đề ra Chương 5: Kết luận, đề xuất và kiến nghị Trình bày tóm tắt các kết quả chính của nghiên cứu từ dữ liệu đã thu thập được, từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm giảm thiểu rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng. Cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục. 8 / 69 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài, liên quan đến các vấn đề cho vay, rủi ro tín dụng, thu nợ, phương pháp phân tích đánh giá khả năng trả nợ.
Nội dung của chương sẽ giới thiệu một số mô hình nghiên cứu trong và ngoài nước đã thực hiện để đánh giá các tác động đến rủi ro tín dụng (rủi ro tín dụng ở đây đề cập đến khả năng trả nợ đúng hạn) của khách hàng vay là cá nhân. Từ những mô hình nghiên cứu trước đó đề xuất mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của khách hàng cá nhân.1 Tín dụng Khái niệm: “Tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người cho vay và người đi vay dựa trên nguyên tắc hoàn trả” (Nguyễn Đăng Dờn, 2005). Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các xí nghiệp, tổ chức kinh tế, các tổ chức và các cá nhân được thực hiện dưới hình thức ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay (cấp tín dụng) đối với các đối tượng nói trên. Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các dịch vụ khác.
Theo thuyết kinh tế tiền tệ, cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.2 Một số khái niệm về nợ: Theo điều 2 Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 và Điều 1 Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam qui định: + Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ trong hạn và ngân hàng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn; Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và ngân hàng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc, lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại; + Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu; + Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo qui định; Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; Các khoản nợ phải thực hiện nghĩa vụ theo cam kết quá hạn dưới 30 ngày; + Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; Các khoản nợ phải thực hiện nghĩa vụ theo cam kết quá hạn từ 30 đến 90 ngày; + Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; 10 / 69 Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; Các khoản nợ phải thực hiện nghĩa vụ theo cam kết quá hạn từ 91 ngày trở lên; Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý; * Nợ xấu (NPL): là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5.3 Rủi ro tín dụng Khái niệm: “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng”. (Quyết định số 493 /2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN) Rủi ro tín dụng được định nghĩa là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi cấp tín dụng cho một khách hàng, có nghĩa là khách hàng không trả được nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng ngân hàng cấp cho họ. Như vậy, có thể nói rằng rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà trong đó ngân hàng là chủ nợ, mà khách hàng nợ lại không thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Nó diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán của ngân hàng.
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì rủi ro tín dụng được sử dụng trong luận văn này được giới hạn bởi khả năng trả nợ của khách hàng cho những khoản nợ thuộc nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn), nghĩa là những khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày. 11 / 69 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng có thể phát sinh do nguyên nhân chủ quan và khách quan: - Nguyên nhân chủ quan: là những nguyên nhân rủi ro phát sinh liên quan đến hành vi và ý chí chủ quan của khách hàng, có thể do trình độ quản lý của khách hàng yếu kém dẫn đến việc sử dụng vốn vay kém hiệu quả hoặc thất thoát ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng. cũng có thể do khách hàng thiếu thiện chí trả nợ…. - Nguyên nhân khách quan: là nguyên nhân rủi ro phát sinh do khách hàng gặp phải những thay đổi môi trường kinh doanh không thể lường trước được, thay đổi về môi trường pháp lý….
Nói chung, nguyên nhân khách quan là những nguyên nhân không do khách hàng tạo ra, nó nằm ngoài tầm kiểm soát của khách hàng. Các yếu tố khách quan Rủi ro tín dụng Các yếu tố chủ quan Hình 2.1 Mô hình rủi ro tín dụng từ phía khách hàng, Nguyễn Minh Kiều (2009) Thiệt hại do rủi ro tín dụng * Đối với ngân hàng Một trong những hoạt động chính của ngân hàng thương mại là hoạt động cho vay nên rủi ro tín dụng là một nhân tố hết sức quan trọng, đòi hỏi các ngân hàng phải có khả năng phân tích, đánh giá và quản lý rủi ro hiệu quả vì nếu ngân hàng chấp nhận nhiều khoản cho vay có rủi ro tín dụng cao thì ngân hàng có khả năng phải đối mặt với tình trạng thiếu vốn hay tính thanh khoản thấp. Điều này có thể làm giảm hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận của ngân hàng, thậm chí phá sản. Vì thế bộ phận quản lý tín dụng và quản trị rủi ro là hai bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu tổ chức của bất kỳ 12 / 69 ngân hàng thương mại nào (Theo từ điển bách khoa toàn thư mở, nguồn https://vi.
* Đối với nền kinh tế xã hội Khi rủi ro tín dụng xảy ra ở mức độ vừa phải thì không chỉ ngân hàng chịu ảnh hưởng mà người đi vay bị làm ăn thua lỗ phải phá sản ảnh hưởng tới lợi ích kinh tế - xã hội, dự tính nạn thất nghiệp tăng lên, ảnh hưởng tới người gửi tiền không được đảm bảo như trước nữa làm cho nguồn vốn ngân hàng giảm, dẫn đến ảnh hưởng xấu về đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế. Có thể nói ngân hàng là một mấu chốt quan trọng trong nên kinh tế nhất là như nước ta, mọi hoạt động kinh doanh đều thông qua ngân hàng dưới nhiều hình thức cả trong và ngoài nước, và dù là có những ngân hàng khác nhau nhưng mối quan hệ của các ngân hàng là rất chặt chẽ gắn kết với nhau không thể thiếu, được tạo thanh một hệ thống liên kết với nhau không tách rời. Vì vậy khi rủi ro dụng của một ngân hàng xảy ra có nguy cơ làm ngân hàng đó đổ vỡ sẽ làm ảnh hưởng dây chuyền đến ngân hàng khác, mà hầu như hết các chủ thể kinh tế đều liên quan chặt chẽ đến các ngân hàng sẽ làm rối loạn toàn bộ nền kinh tế. Như vậy, rủi ro tín dụng ở mức độ lớn là một trong những nguyên nhân làm khủng hoảng kinh tế, đa nền kinh tế đi lùi lại sau mấy chục năm.
(Nguồn http://text.org/document/317717-rui-ro-tin-dung-cua-ngan- hang-thuong-mai-trong-nen-kinh-te-thi-truong.