phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chƣơng sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động bảo lãnh tín dụng cho DNNVV Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động bảo lãnh tín dụng cho DNNVV ở Việt Nam Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp thúc đẩy hoạt động bảo lãnh tín dụng cho DNNVV ở Việt Nam đến năm 2020. 5 z CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀLÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TÍN DỤNG CHO DNNVV 1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm DNNVV Đối với mỗi trình độ phát triển kinh tế khác nhau lại có những quan điểm về DNNVV là khác nhau.
Theo tiêu chí đánh giá là ngành nghề kinh doanh và số lƣợng lao động, các nƣớc thuộc EC định nghĩa các doanh nghiệp có dƣới 9 lao động gọi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến 99 lao động là doanh nghiệp nhỏ, từ 100 đến 499 lao động là doanh nghiệp vừa và các doanh nghiệp trên 500 lao động là doanh nghiệp lớn. Theo tiêu chí về đặc điểm ngành,vốn và số lƣợng nhân công bộ luật cơ bản về luật doanh nghiệp ở Nhật Bản qui định: Trong lĩnh vực công nghiệp và chế biến khai thác, các DNVVN là những doanh nghiệp thu hút vốn kinh doanh dƣới 100 triệu Yên ( tƣơng đƣơng với khoảng 1triệu USD). Theo thời gian , quan điể m của Viê ̣t Nam về DNNVV có sƣ̣ thay đổ i. Ngày 20-6-1998, Chính phủ đã xác định tiêu chí DNNVV theo Công văn số 681/CP-KTN, trong đó quy định DNNVV là những doanh nghiệp có vốn dƣới 5 tỷ đồng và có số lao động dƣới 200 ngƣời, không phân biệt ngành công nghiệp hoặc dịch vụ.
Ngày 23/11/2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNV, trong đó định nghĩa: "Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ VND hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 ngƣời". 6 z Để phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế cả nƣớc nói chung và từng địa phƣơng nói riêng, chính phủ đã ban hành Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 về trợ giúp phát triển DNNVV thay thế nghị định 90/2001/NĐ- CP. Trong đó chỉ rõ khái niệm về DNNVV: “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, đƣợc chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tƣơng đƣơng tổng tài sản đƣợc xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ƣu tiên)”. Theo đó các DNNVV sẽ đƣợc phân loại dựa trên các tiêu chí về quy mô vốn, số lƣợng lao động và khu vực nhƣ bảng phân loại sau: Bảng 1.1:Phân loại DNNVV Quy mô Doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nghiệp siêu nhỏ Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao Khu vực động nguồn động nguồn vốn động vốn I.
Nông, lâm 10 ngƣời 20tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên nghiệp và thủy trở xuống trở xuống ngƣời đến đồng đến 200 ngƣời sản 200 ngƣời 100 tỷ đồng đến 300 ngƣời II. Công nghiệp 10 ngƣời 20tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên và xây dựng trở xuống trở xuống ngƣời đến đồng đến 200 ngƣời 200 ngƣời 100 tỷ đồng đến 300 ngƣời III. Thƣơng mại 10 ngƣời 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 và dịch vụ trở xuống trở xuống ngƣời đến đồng đến 50 ngƣời đến 50 ngƣời tỷ đồng 100 ngƣời Nguồn: Nghị định 56/NĐ-CP ngày 30/06/2009. 7 z Nghị định cũng quy định rõ đối với các điều kiện trên có thể đƣợc áp dụng một cách linh hoạt tùy theo điều kiện của từng địa phƣơng.Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xin đi sâu nghiên cứu về DNNVV theo định nghĩa của nghị định 56/NĐ-CPngày 30/06/2009.
Đặc điểm DNNVV Phần lớn các DNNVV hoạt động trong các lĩnh vực thƣơng mại,dịch vụ và sản xuất kinh doanh nhỏ. DNNVV có những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất,DNNVV có quy mô vốn thấp, lao động ít. Đặc trƣng cơ bản nhất của DNNVV là quy mô vốn SXKD nhỏ. Đặc trƣng này quyết định những đặc trƣng khác của DNNVV.
Tất cả các quốc gia trên thế giới dù phân chia DNNVV đều có đặc trƣng này. Đặc điểm này cho thấy rõ năng suất lao động của các DNNVV thƣờng không cao, mặt khác các DNNVV cũng gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, rõ nét nhất là trong hoạt động huy động vốn trên thị trƣờng. Thứ hai,DNNVV có tính linh hoạt cao, dễ thích ứng với các thay đổi của thị trƣờng. Với ƣu thế quy mô nhỏ, gọn, năng động, dễ quản lý, các DNNVV dễ cơ động, dễ thích ứng với sự thay đổi của nhu cầu thị trƣờng về khả năng thay đổi phƣơng án SXKD, thay đổi mặt hàng nhanh, phù hợp với xu hƣớng thay đổi tập quán tiêu dùng của dân cƣ.
Theo số liệu của các nƣớc thành viên OECD, DNNVV là khu vực doanh nghiệp có sự linh hoạt, năng động cao hơn hẳn so với các DN quy mô lớn. "Số lƣợng các DN thành lập mới và đóng cửa hàng năm ở tất cả các nền kinh tế là rất lớn. Số liệu từ 9 nƣớc Châu Âu thành viên chỉ ra rằng hàng năm có từ khoảng 12% đến 19% DN phi nông nghiệp gia nhập và rút khỏi thị trƣờng. 8 z Thứ ba, tổ chức bộ máy linh hoạt.
DNNVV đƣợc xây dựng chủ yếu trên nền tảng của mối quan hệ gia đình, bạn bè, số lao động sử dụng trong DN không nhiều nên không có khoảng cách lớn giữa ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động.Giữa các bộ phận trong nội bộ DN dễ dàng trao đổi thảo luận công việc trực tiếp với nhau, điều này cho phép tránh đƣợc sai lệch thông tin trong DN thông tin không phải truyền qua các kênh chính thức và quan liêu thƣờng thấy trong những DN có quy mô lớn. Thứ tư, trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ thấp. Tại các quốc gia đang phát triển, phần lớn công nghệ các DNNVV đang sử dụng đã lạc hậu hàng chục năm, có khi vài chục năm; nhiều DNNVV sử dụng thiết bị thải loại của các DN lớn, thiết bị tự chế tạo với trình độ thiết kế và gia công thấp, hoặc bị sử dụng những thiết bị không đồng bộ. Hậu quả là sản phẩm của nhiều DNNVV làm ra không đáp ứng đƣợc yêu cầu về mẫu mã, chất lƣợng, năng suất lao động thấp,… làm giảm sức cạnh tranh trên thị trƣờng.
Thứ năm, trình độ quản lý, trình độ tay nghề của lao động thấp. Lao động trong các DNNVV chủ yếu là lao động phổ thông, ít đƣợc đào tạo cơ bản. Bên cạnh đó, trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý cũng còn yếu kém. Không ít các chủ DN không đƣợc đào tạo một cách chính quy và cơ bản nên thiếu những kỹ năng cần thiết về quản lý và điều hành, luật pháp, cơ chế chính sách.
Vai trò của DNNVV trong sự phát triển kinh tế xã hội Sự phát triển của DNNVV đã góp phần quan trọng giải quyết những mục tiêu kinh tế - xã hội, đƣợc thể hiện thông qua các vai trò sau: 9 z Thứ nhấ t, DNNVV có đóng góp quan trọng cho sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc gia. Khu vực doanh nghiệp này đóng góp phần lớn vào GDP. Theo Báo cáo tại hội nghị của OECD về DNNVV, Istanbul năm 2004 thì các DNNVV đóng góp trên 55% GDP ở các nƣớc có thu nhập cao, trên 60% GDP của các quốc gia có thu nhập thấp và khoảng 70% GDP cho các quốc gia có thu nhập trung bình. Năm 2010, ở Viê ̣t Nam có khoảng trên 500.000 DNNVV với mƣ́c đóng góp hàng năm khoảng 30% GDP, 30% giá trị tổng sản lƣợng công nghiệp, gần 80% tổng mức bán lẻ, 64% tổng lƣợng vận chuyển hàng hóa.
Thứ hai , DNNVV giữ vai trò quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm, tạo nguồn thu nhập ổn định và thường xuyên cho một bộ phận lớn dân cư góp phần ổn định chính trị xã hội. Do đặc điểm của DNNVV nhu cầu về lao động nhiều, yêu cầu về trình độ của ngƣời lao động không cao, phù hợp với trình độ của lao động phổ thông. Do vậy, khu vực doanh nghiệp này giải quyết vấn đề lao động rất hiệu quả, thƣờng thu hút khoảng hai phần ba lực lƣợng lao động xã hội tạo nguồn thu nhập ổn định và thƣờng xuyên cho một bộ phận lớn dân cƣ. Theo Báo cáo tại hội nghị của OECD về DNNVV, Istanbul năm 2004 thì các DNNVV tạo trên 65% công ăn việc làm ở các nƣớc có thu nhập cao, trên 70% tổng lao động của các quốc gia có thu nhập thấp và tạo trên 95% công việc cho các quốc gia có thu nhập trung bình.
Ở Việt Nam ƣớc tính năm 2010, tổng số lao động trong khu vực này đạt hơn 6,6 triệu. Với đặc tính phân bố rải rác, các doanh nghiệp này thƣờng phân tán nên có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều vùng địa lý và nhiều đối tƣợng lao động, góp phần giảm bớt chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các bộ phần dân cƣ, giữa các vùng, các địa phƣơng; đồng thời tạo ra sự phát triển tƣơng đối đồng đều giữa các vùng 10 z Thứ ba, DNNVV góp phần quan trọng trong khai thác và sử dụng các nguồn lực, phát huy các tiềm năng còn tiềm ẩn trong xã hội. Dựa trên những ƣu thế của DNNVV với số lƣợng lớn, lại đƣợc phân bố tƣơng đối rộng khắp các vùng, các địa phƣơng nên các DNNVV đặc biệt có lợi thế trong huy động và sử dụng các nguồn tài chính phân tán và nhỏ lẻ trong dân cƣ. Bên cạnh đó, các DNNVV có khả năng tập trung vốn, trí tuệ vào các ngành kinh tế có khả năng phát triển hay những ngành kinh tế đòi hỏi hàm lƣợng tri thức cao cũng nhƣ có khả năng lấp đầy những khoảng trống trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh không cần nhiều vốn và có mức lợi nhuận thấp, thƣờng phổ biến sử dụng các công nghệ trung gian, từng bƣớc hiện đại hóa, là cầu nối giữa công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại.
Ngoài ra, DNNVV còn có nhiều thuận lợi trong khai thác các tiềm năng về trí tuệ, tay nghề tinh xảo, bí quyết nghề nghiệp. Thứ tư, DNNVV là một “mắt xích” quan trọng trong dây chuyền công nghệ của các tập đoàn sản xuất lớn trên thế giới.