CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 1. Tổng quan về chi Polygala 1. Vị trí phân loại của chi Polygala Theo hệ thống phân loại thực vật, chi Polygala có vị trí phân loại như sau [5-7] Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp: Hai lá mầm (Dicotyledones) Phân lớp: Hoa hồng (Rosidae) Bộ: Đậu (Fabales) Họ: Viễn chí (Polygalaceae) Chi: Polygala Theo 02 tác giả Eriksen B và Persson C, chi Polygala trên thế giới có khoảng 300-350 loài [8]. Các nghiên cứu của Cronquist A và Paiva JA lần lượt báo cáo khoảng 500 loài và 725 loài thuộc chi Polygala [9,10].
Tra cứu tại trang chuyên khảo về thực vật “World Floral”, có 654 tên loài thuộc chi Polygala được chấp nhận. Như vậy có thể thấy, chi Polygala là một chi thực vật với số lượng loài lớn trên thế giới [11]. Đặc điểm thực vật của chi Polygala Các cây trong chi Polygala có thể là cây sống hàng năm hoặc lâu năm, cây bụi hoặc cây thảo, hiếm khi là cây leo thân gỗ. Lá đơn, mọc cách, hiếm khi mọc đối hay mọc vòng; phiến lá không chia thùy, nhẵn hoặc có lông.
Cụm hoa chùm, mọc ở đầu cành hay nách lá. Hoa lưỡng tính, đối xứng hai bên; có 1-3 lá bắc. Năm cánh hoa không đều; bên ngoài có 3 cánh nhỏ; bên trong 2 cánh lớn. Ba cánh hoa bên ngoài ngắn hơn ½, màu trắng, vàng, tím hoặc đỏ.
Nhị 8, đính liền với cánh hoa, bao phấn mở bằng lỗ hoặc khe nứt dọc. Bộ nhụy gồm 2 lá noãn dính nhau. 3 Quả nang, thường có cánh, chứa 2 hạt thường là màu đen, hình trứng, tròn [12,13]. Phân bố của chi Polygala Chi Polygala là chi lớn nhất của họ Viễn chí (Polygalaceae), được phân bố ở khắp mọi nơi trên thế giới, trừ Bắc Cực, Nam Cực và New Zealand [8,14,15].
Nam Mỹ là khu vực có nhiều loài thuộc chi Polygala nhất, tiếp đến là Châu Phi và Châu Á [15,16]. Ở Braxin có 98 loài thuộc chi Polygala, ở Madagascar và Australia lần lượt là 21 và 50 [17,18]. Ở Trung Quốc, có khoảng 44 loài thuộc chi Polygala, trong đó có 21 loài đặc hữu [14,19]. Ở Việt Nam, cũng ghi nhận có nhiều loài Polygala, phân bố chủ yếu ở các vùng núi cao khắp từ Bắc vào Nam.
Theo tài liệu “Cây cỏ Việt Nam” [3], tác giả Phạm Hoàng Hộ có liệt liệt kê 25 loài thuộc chi Polygala với tên gọi Kích nhũ, phân bố từ phía Tây Bắc (Lào Cai, Tam Đảo, Ba Vì) tới Tây Nguyên (Đà Lạt) và Nam Trung Bộ (Đồng Nai). Trong cuốn sách “Từ điển cây thuốc Việt Nam”, tác giả Võ Văn Chi mô tả 13 loài Polygala dùng làm thuốc trong y học dân gian với tên gọi Viễn chí [20]. Tác giả Đỗ Tất Lợi cũng liệt kê ra 07 loài Polygala ở nước ta [5]. Phân bố một số loài thuộc chi Polygala ở Việt Nam TT Tên loài Phân bố Tài liệu 1 P.
arillata Lào Cai (Sa Pa, Ô Quy Hồ) [3,4] 2 P. Kon Tum, Lâm Đồng, Bình Thuận [3,4] 3 P. Ba Vì, Ninh Bình, Thừa Thiên Huế [3] 5 P. Rải rác trong rừng nhiều địa phương [4] 4 Thừa Thiên Huế, Ninh Thuận (Phan 7 P.
[3] Rang), Lâm Đồng (Bảo Lộc) Núi Ngọc Linh, Lâm Đồng (Lang Biang, 8 P. [4,19] Đơn Dương, Bảo Lộc) Lai Châu, Lào Cai, Lạng Sơn, Vĩnh 9 P. [3,4] Phúc, Lâm Đồng 10 P. Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Lào Cai (Sa Pa) [3,4] Lâm Đồng (Bảo Lộc, Di Linh, Lạc 11 P.
[3,4] Dương, Đà Lạt) Lâm Đồng (Di Linh), Kon Tum, Ninh 12 P. Lào Cai (Sa Pa) [4] Thái Nguyên, Ninh Bình, Thanh Hóa, 14 P. Thành phần hóa học của chi Polygala Cho đến nay, đã phân lập được khoảng gần 400 hợp chất từ các loài thuộc chi Polygala. Các hợp chất tinh khiết đã phân lập được thuộc các nhóm xanthon, saponin, oligosaccharid (phenolic glycosid) và một số nhóm chất khác.
Các hợp chất xanthon Xanthon là nhóm hợp chất chính trong các loài thuộc họ Viễn chí (Polygalaceae) nói chung và chi Polygala nói riêng. Cho đến nay đã có 80 hợp chất xanthon được phân lập từ các loài thuộc chi Polygala. Các loài được nghiên cứu nhiều bao gồm P. tenuifolia…Các xanthon chủ yếu có trong 5 bộ phận rễ.
Chúng tồn tại dưới dạng aglycon hoặc glycosid. Trong số 80 xanthon đã phân lập, có 47 xanthon aglycon và 33 xanthon glycosid. Có 67 xanthon tồn tại dưới dạng khung cơ bản , 10 xanthon có nhóm methylendioxy, một số hợp chất có cấu trúc đặc biệt mang nhóm trans-dihydrobenzofuran và acid 2-hydroxymethyl- 5-hydroxyl-2-pentenoic [18]. Khung cơ bản của hợp chất xanthon 1.
Các hợp chất saponin Saponin là nhóm hợp chất chính đã được tìm thấy trong thành phần các loài thuộc chi Polygala. Các saponin đã phân lập và xác định cấu trúc có phần aglycon chủ yếu thuộc khung olean. Đến nay, đã có 105 hợp chất saponin được phân lập từ chi Polygala. Trong đó có 101 hợp chất có phần aglycon mang khung olean, 04 hợp chất có phần aglycon mang khung ursan.
Hợp chất sibiricasaponin E có phần aglycon ít gặp với nhóm CH3 ở vị trí 27 cấu hình β. Hai loài thuộc chi Polygala đã được chứng minh có nhiều saponin nhất trong thành phần là P. Hợp chất sibiricasaponin E được phân lập từ loài Polygala sibirica L. Các hợp chất oligosaccharid Những kết quả đã nghiên cứu cho thấy, các loài chi Polygala có chứa nhiều các hợp chất oligosaccharid.
Một số loài đã được nghiên cứu bao gồm P. Cho đến nay đã có 112 hợp chất oligosaccharid được tìm thấy trong thành phần hóa học của các loài thuộc chi Polygala. Các oligosaccharid đã phân lập được este hóa với các dẫn xuất của acid cinnamic (cả 02 dạng đồng phân cis và trans), dẫn xuất của acid benzoic và acid acetic. Vì vậy, các hợp chất này có thể được xếp vào nhóm hợp chất phenolic glycosid.
Ngoài khung cơ bản sucrose, có 03 hợp chất mang khung polygolitosyl-(2→1)- α-D-galactose với lần lượt các vị 23 trí C-3, C- 4 và C-6 của đường galactose bị este hóa với acid benzoic, có 01 hợp chất mang khung β-D-apiosyl-(1→2)-α-D- glucopyranose, trong đó đường glucose gắn với acid Z-sinapinic thông qua liên kết C1-O-C4. Cả 04 hợp chất đều được phân lập từ rễ của loài P. Bên cạnh đó, 02 hợp chất arillatose A (1) và glomeratose E (2) phân lập được từ loài viễn chí hoa vàng P. arillata đều có cấu 7 trúc khác biệt so với các oligosaccharid đã được tìm thấy trong chi Polygala.
Đối với hợp chất arillatose A (1), mặc dù cũng mang khung chính là sucrose, tuy nhiên vị trí C-3 của đường fructose và vị trí C-6 của đường glucose bị este hóa bởi acid (1S,2R)-1-(4-hydroxy-3,5-dimethoxyphenyl)-1,2-dihydro-7-hydroxy-6,8- dimethoxy-2,3- naphthalendicacboxylic thay vì các dẫn xuất của acid cinnamic (cả 02 dạng đồng phân cis và trans), dẫn xuất acid benzoic và acid acetic như trong các hợp chất oligosaccharid của chi Polygala. Đối với hợp chất glomeratose E (2), 02 đường fructose và glucose cũng bị este hóa bởi 02 phân tử acid E-sinapinic. Tuy nhiên, điều đặc biệt ở chỗ 02 acid này lại được gắn với nhau bởi liên kết C8- C8. Cũng giống như nhóm xanthon, các hợp chất oligosaccharid của chi Polygala chủ yếu được phân lập từ bộ phận rễ [2].
Công thức cấu tạo các hợp chất oligosaccharid được phân lập từ các loài thuộc chi Polygala 1. Các nhóm hợp chất khác Ngoài các nhóm hợp chất chính đã nêu ở trên, trong thành phần hóa học của các loài thuộc chi Polygala còn có nhiều nhóm chất khác như flavonoid, 8 anthraquinon, coumarin, benzophenon, sterol, styrylpyron, lignan. Cho đến nay, đã có khoảng gần 100 hợp chất thuộc nhiều nhóm khác nhau đã được phân lập từ chi Polygala. Các nhóm chất bao gồm flavonoid, anthraquinon, coumarin, benzophenon, sterol, styrylpyron, lignan.
Những loài được nghiên cứu chính có thể kể đến như P. Các flavonoid đã phân lập có 02 khung chính là flavonol và flavanol. Chúng tồn tại dưới cả dạng aglycon và glycosid. Những kết quả nghiên cứu đã cho thấy, thành phần hóa học của các loài thuộc chi Polygala rất đa dạng.
Công dụng theo y học cổ truyền của một số loài thuộc chi Polygala Các loài thuộc chi Polygala được sử dụng làm thuốc trong y học cổ truyền ở nhiều quốc gia từ lâu đời. Chúng được sử dụng làm thuốc bổ, chủ yếu trong điều trị các bệnh suy giảm trí nhớ, mất ngủ, ho, viêm họng, viêm thấp khớp… P. arvensis được sử dụng trong y học cổ truyền của Việt Nam và một số quốc gia Châu Á như Ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Campuchia. Toàn cây có vị cay, tính bình, có tác dụng giải độc, phá huyết, giảm đau, chống ho, tán ứ; được sử dụng trong trường hợp ho tức ngực, ho gà, phong thấp, rắn cắn và giải độc thuốc phiện [4].
crotalarioides được dùng để trị các bệnh ngoài da ở Ấn Độ; rễ được nghiền nhỏ, hòa với nước uống để tiêu đờm. fallax là cây thuốc của Trung Quốc và Việt Nam. fallax có vị ngọt, hơi đắng, tính bình, có tác dụng bồi bổ sức khỏe, lợi tiểu, kích thích sự tuần hoàn, điều hòa kinh nguyệt [4]. fallax được sử dụng chữa suy nhược cơ thể 9 sau khi ốm dậy, thiếu máu, đau lưng, mỏi gối.
Ngoài ra, dược liệu này còn thường được sử dụng để chữa viêm gan, viêm thận, thủy thũng, các bệnh phụ nữ thường gặp như sa tử cung khí hư, kinh nguyệt không đều. Lá cây tươi giã đắp để điều trị đòn ngã, vết thương chảy máu. Một số nơi, người dân lấy rễ cây bỏ vào vại nước ăn để phòng bệnh vàng da [4]. paniculata được phân bố chủ yếu ở các quốc gia Nam Mỹ, Châu Á và Châu Đại Dương.
Ở nước ta, loài này mọc ở Lâm Đồng, được biết đến với tên gọi Viễn chí lá nhỏ. Người dân thường dùng nước sắc toàn cây để trị sổ mũi, chứng đầy hơi. Lá có thể vò ra trong nước dùng để tắm. Rễ ngâm rượu dùng xoa bóp chữa tê thấp, nhức mỏi [4].
Loài này được sử dụng trong y học cổ truyền các quốc gia Nam Mỹ để điều trị hen, viêm phế quản mãn tính, viêm khớp, đau thận, đau dạ dày và tiêu chảy [22]. Tác dụng dược lý của cao chiết và một số hợp chất phân lập được từ một số loài thuộc chi Polygala Các kết quả nghiên cứu dược lý chỉ ra rằng các loài trong chi Polygala có tác dụng chống viêm, tác dụng trên hệ thần kinh trung ương, tác dụng giải độc, chống ung thư, giảm đau, chống oxy hóa, hạ đường huyết. ● Tác dụng chống viêm: Thử nghiệm trên chuột cho thấy, cao chiết của loài P. japonica gây ức chế đáng kể tính thấm của phúc mạc và mao dẫn trên da được gây ra bởi acid acetic và phosphat histamin, cũng như có khả năng ức chế sự phù chân ở chuột do phosphat histamin gây nên.
Do đó, người ta cho rằng cao chiết loài P. japonica có tác dụng chống viêm nhiễm đáng kể do dịch chiết có khả năng ức chế sự giải phóng histamin. Vì vậy dịch chiết của loài P.