Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Thanh long ruột đỏ (Hylocereus polyrhizus) là loại cây ăn trái nhiệt đới có giá trị dinh dưỡng cao, chứa hàm lượng dồi dào các vitamin (vitamin C, vitamin A), protein, glucid, khoáng chất và đặc biệt là hợp chất chống oxy hóa tự nhiên lycopene cùng sắc tố betacyanin. Tại Việt Nam, vùng chuyên canh thanh long phát triển mạnh tại nhiều địa phương như Bình Thuận, Tiền Giang, Long An và đang mở rộng ra các tỉnh phía Bắc. Tuy nhiên, trong quá trình canh tác và thu hoạch, thời tiết mưa nhiều hoặc hiện tượng quả chín rộ đồng loạt thường dẫn đến tình trạng nứt vỏ quả. Những quả bị nứt vỏ tuy chất lượng thịt quả vẫn còn tốt nhưng hình thức cảm quan suy giảm, khó tiêu thụ tươi trên thị trường, nhanh chóng bị hư hỏng và gây tổn thất kinh tế lớn cho người nông dân.

Việc nghiên cứu chế biến các sản phẩm giá trị gia tăng từ nguồn nguyên liệu thanh long, đặc biệt là sản xuất rượu vang lên men truyền thống, là một hướng giải quyết thiết thực cho bài toán tiêu thụ nông sản. Mặc dù công nghệ lên men rượu vang từ nho và một số loại trái cây khác đã tương đối hoàn thiện, việc nghiên cứu phân lập và tuyển chọn các dòng nấm men bản địa thích hợp cho dịch quả thanh long ruột đỏ vẫn còn hạn chế. Xuất phát từ thực tiễn đó, chuyên đề tốt nghiệp đại học ngành Công nghệ Sinh học với đề tài "Phân lập và tuyển chọn nấm men có khả năng lên men rượu vang Thanh Long ruột đỏ (Hylocereus polyrhizus)" đã được thực hiện.

Mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:

  1. Phân lập các chủng nấm men thuần từ nguồn quả thanh long ruột đỏ lên men tự nhiên.
  2. Khảo sát khả năng sinh khí $\text{CO}_2$ và tốc độ lên men của các dòng nấm men phân lập được trên hai môi trường dịch đường glucose và saccharose.
  3. Tuyển chọn dòng nấm men có hoạt tính lên men tối ưu để ứng dụng lên men rượu vang thanh long ruột đỏ, đồng thời đánh giá chất lượng cảm quan của sản phẩm sau lên men.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các chủng nấm men phân lập từ quả thanh long ruột đỏ (Hylocereus polyrhizus) được thu mua tại chợ Long Xuyên, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Thí nghiệm được tiến hành tại Khu thí nghiệm – trung tâm Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2021 đến tháng 05 năm 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Quá trình sản xuất rượu vang trái cây dựa trên sự chuyển hóa đường có trong dịch quả thành cồn ethylic ($\text{C}_2\text{H}_5\text{OH}$) và khí carbon dioxide ($\text{CO}_2$) dưới tác động sinh hóa của hệ enzyme do nấm men tổng hợp trong điều kiện kỵ khí: $$\text{C}6\text{H}{12}\text{O}_6 \xrightarrow{\text{Enzyme nấm men}} 2\text{C}_2\text{H}_5\text{OH} + 2\text{CO}_2 + Q$$

Các yếu tố công nghệ chính chi phối chất lượng quá trình lên men rượu vang bao gồm:

  • Nguồn cơ chất carbohydrate: Nấm men sử dụng trực tiếp các loại đường đơn như glucose và fructose. Đối với disaccharide như saccharose, nấm men phải tiết enzyme invertase ngoại bào để thủy phân thành glucose và fructose trước khi vận chuyển qua màng tế bào.
  • Độ pH môi trường: Khoảng pH tối thích cho hoạt động của nấm men rượu vang là từ 2,8 đến 4,2; khoảng giá trị này vừa kích thích nấm men phát triển, vừa ức chế sự xâm nhiễm của vi khuẩn gây chua hoặc hư hỏng dịch lên men.
  • Nhiệt độ và điều kiện sục khí: Giai đoạn tăng sinh khối ban đầu đòi hỏi lượng oxy hòa tan nhất định để tổng hợp lipid màng và sterol, sau đó quá trình chuyển sang kỵ khí hoàn toàn ở nhiệt độ phòng ($20 - 30^\circ\text{C}$).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp thực nghiệm vi sinh vật học và phân tích hóa lý kết hợp bố trí thí nghiệm hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD):

  • Môi trường nuôi cấy: Sử dụng môi trường YPD lỏng và YPD Agar (thành phần: Yeast extract 10 g/L, Peptone 10 g/L, D-glucose 20 g/L, Agar 20 g/L) đã thanh trùng ở $121^\circ\text{C}$ trong 15 phút.
  • Phân lập và nhận diện hình thái: Cấy trải mẫu dịch quả lên men tự nhiên trên đĩa petri thạch YPD Agar, ủ ở $37^\circ\text{C}$, cấy truyền nhiều lần để thu nhận khuẩn lạc đơn thuần khiết. Quan sát đặc điểm khuẩn lạc và hình thái tế bào (kích thước, kiểu nảy chồi) dưới kính hiển vi quang học ở vật kính 40X và 100X.
  • Khảo sát khả năng lên men đường: Bố trí thí nghiệm 2 yếu tố hoàn toàn ngẫu nhiên với 18 đơn vị thí nghiệm (3 dòng nấm men $\times$ 2 loại đường glucose 2% và saccharose 2% $\times$ 3 lần lặp lại). Theo dõi chiều cao cột khí $\text{CO}_2$ sinh ra trong ống Durham úp ngược tại các mốc thời gian 6, 9, 12 và 24 giờ.
  • Lên men dịch quả thanh long ruột đỏ: Dịch quả thanh long được điều chỉnh về $22^\circ\text{Brix}$, $\text{pH} = 4,5$, xử lý chống tạp khuẩn bằng $\text{NaHSO}_3$ liều lượng $120\text{ mg/L}$ trong 2 giờ, cấy giống men với mật độ $1,8 \times 10^6\text{ tế bào/mL}$, lên men kỵ khí ở nhiệt độ phòng trong 7 ngày.
  • Phương pháp phân tích: Đo hàm lượng chất khô hòa tan bằng Brix kế, đo pH bằng máy đo pH điện tử, xác định độ cồn (% v/v) bằng phương pháp chưng cất và cồn kế ở nhiệt độ chuẩn $20^\circ\text{C}$. Đánh giá chất lượng cảm quan sản phẩm theo tiêu chuẩn TCVN 3215-79 bằng phương pháp cho điểm thị hiếu với hội đồng 5 thành viên.
  • Xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được xử lý thống kê bằng phân tích phương sai ANOVA và kiểm định Duncan ($P < 0,05$).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu

Chương 1 thiết lập tính cấp thiết của đề tài thông qua việc phân tích thực trạng sản xuất và tiêu thụ quả thanh long ruột đỏ tại các tỉnh phía Nam. Tác giả chỉ ra vấn đề thất thoát sau thu hoạch do nứt vỏ và tiềm năng ứng dụng công nghệ lên men để tạo ra sản phẩm rượu vang có giá trị dinh dưỡng cao. Chương này xác định rõ 3 nội dung nghiên cứu trọng tâm và nêu bật 4 đóng góp chính: phân lập được các chủng men mới, đánh giá hoạt tính lên men, tuyển chọn chủng men tối ưu cho dịch quả thanh long và tạo tiền đề nâng cao giá trị kinh tế cho nông sản địa phương.

Chương 2: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 2 tổng hợp hệ thống cơ sở lý thuyết chuyên sâu về công nghệ sản xuất rượu vang, phân loại rượu vang theo nồng độ cồn và hàm lượng đường sót (vang khô, nửa khô, nửa ngọt, ngọt). Tác giả trình bày chi tiết về hình thái học, siêu cấu trúc tế bào nấm men (vỏ tế bào cấu tạo từ glucan và mannan, màng sinh chất, tế bào chất, ti thể, không bào, nhân và các thể vùi glycogen, lipid, volutin) cùng các phương thức sinh sản vô tính (nảy chồi, phân cắt) và hữu tính (bào tử túi).

Chương tổng quan cũng phân tích các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình lên men (nồng độ cồn, thời gian, nhiệt độ, oxy, pH) và điểm danh các loài nấm men công nghiệp điển hình (Saccharomyces cerevisiae, Saccharomyces uvarum, Saccharomyces chevalieri, Saccharomyces oviformis). Về nguyên liệu, tác giả cung cấp nguồn gốc, đặc tính nông học, thành phần hóa học của thanh long ruột đỏ (Hylocereus polyrhizus) và lược khảo các công trình nghiên cứu liên quan trong nước (như nghiên cứu của Phạm Thị Thu Thảo và cs., 2019; Hoàng Quang Bình và cs., 2020) cùng các công bố quốc tế về lên men dịch quả thanh long bằng các chủng nấm men Saccharomyces và Non-Saccharomyces.

Chương 3: Phương tiện và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 mô tả chi tiết toàn bộ hóa chất, dụng cụ, trang thiết bị phòng thí nghiệm (tủ cấy vô trùng, buồng đếm tế bào Bürker-Türk, máy đo pH, Brix kế, cồn kế, hệ thống chưng cất rượu) và quy trình thực hiện 3 thí nghiệm chính:

  • Thí nghiệm 1: Quy trình chuẩn bị 150 g thịt quả thanh long, điều chỉnh độ Brix về 21–22, ủ kỵ khí ở $37^\circ\text{C}$ trong 2–3 ngày để lên men tự nhiên, sau đó cấy trải $0,1\text{ mL}$ dịch lên thạch YPD Agar, ủ $37^\circ\text{C}$ và cấy truyền làm thuần.
  • Thí nghiệm 2: Quy trình nhân giống nấm men thuần trong 300 mL YPD lỏng trên máy lắc 200 vòng/phút, sau đó chủng $1\text{ mL}$ huyền phù men ($1,8 \times 10^6\text{ tế bào/mL}$) vào 10 mL dịch đường glucose 2% và saccharose 2% chứa ống Durham úp ngược, theo dõi chiều cao cột khí sinh ra sau 6, 9, 12, 24 giờ.
  • Thí nghiệm 3: Quy trình chế biến dịch quả thanh long ruột đỏ ($22^\circ\text{Brix}$, $\text{pH} = 4,5$), xử lý sunfit hóa bằng $\text{NaHSO}_3$ $120\text{ mg/L}$, lên men trong 7 ngày ở điều kiện kỵ khí và tiến hành chưng cất đo nồng độ cồn, đo độ Brix sót, pH và tổ chức đánh giá cảm quan 4 chỉ tiêu (màu sắc, độ trong, mùi, vị) theo thang điểm TCVN 3215-79.
Dịch quả thanh long (150 g)
Điều chỉnh cơ chất (22 °Brix, pH 4,5)
Xử lý NaHSO3 (120 mg/L, để bay hơi 2 giờ)
Chủng giống nấm men thuần (1,8 x 10^6 tế bào/mL)
Lên men kỵ khí (Nhiệt độ phòng, 7 ngày)

Chương 4: Kết quả và thảo luận

Chương 4 trình bày và thảo luận toàn bộ các dữ liệu thực nghiệm thu được qua các giai đoạn nghiên cứu:

1. Kết quả phân lập và đặc điểm hình thái nấm men

Từ dịch thanh long ruột đỏ lên men tự nhiên, tác giả đã phân lập và làm thuần được 3 chủng nấm men, ký hiệu là TL1, TL2 và TL3. Đặc điểm hình thái khuẩn lạc và tế bào được ghi nhận chi tiết:

Tiêu chí mô tả Chủng nấm men TL1 Chủng nấm men TL2 Chủng nấm men TL3
Kích thước khuẩn lạc 1,0 mm 1,2 mm 1,0 mm
Hình dạng khuẩn lạc Tròn, nhỏ Tròn, nhỏ Tròn, vừa
Bề mặt khuẩn lạc Trơn bóng Trơn bóng Trơn bóng
Màu sắc khuẩn lạc Trắng sữa Trắng sữa Trắng đục
Mép khuẩn lạc Mịn Mịn Mịn
Kích thước tế bào $5,1 \times 6,8\ \mu\text{m}$ $1,1\ \mu\text{m}$ $3,0 \times 4,2\ \mu\text{m}$
Hình dạng tế bào Hình oval Hình tròn nhỏ Hình oval nhỏ
Cách sắp xếp tế bào Đơn lẻ Đơn lẻ Đơn lẻ
Kiểu nảy chồi Nảy chồi đơn cực Nảy chồi đơn cực Nảy chồi đơn cực

2. Khả năng sinh khí $\text{CO}_2$ trong môi trường dịch đường

Khảo sát sự tích tụ khí $\text{CO}_2$ trong ống Durham cho thấy cả 3 dòng men đều có khả năng chuyển hóa đường tốt, tốc độ sinh khí trên môi trường glucose diễn ra nhanh hơn so với saccharose do không mất thời gian cho phản ứng thủy phân disaccharide ngoại bào. Sau 24 giờ, cột khí ở tất cả các mẫu đều đạt mức tối đa 2,5 cm:

Loại môi trường Chủng men Chiều cao cột khí 6h (cm) Chiều cao cột khí 9h (cm) Chiều cao cột khí 12h (cm) Chiều cao cột khí 24h (cm)
Dịch Glucose 2% TL1 $0,7^\text{e}$ $1,2^\text{i}$ $2,3^\text{m}$ $2,5^\text{n}$
TL2 $0,3^\text{b}$ $0,5^\text{d}$ $1,1^\text{h}$ $2,5^\text{n}$
TL3 $0,5^\text{cd}$ $1,2^\text{i}$ $1,9^\text{k}$ $2,5^\text{n}$
Dịch Saccharose 2% TL1 $0,4^\text{bc}$ $1,0^\text{g}$ $1,8^\text{j}$ $2,5^\text{n}$
TL2 $0,1^\text{a}$ $0,3^\text{b}$ $1,2^\text{i}$ $2,5^\text{n}$
TL3 $0,3^\text{b}$ $0,9^\text{f}$ $2,1^\text{l}$ $2,5^\text{n}$

(Ghi chú: Các chữ cái mũ khác nhau trong cùng một chỉ tiêu biểu thị sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức $P < 0,05$).

3. Khả năng lên men dịch quả thanh long ruột đỏ

Sau 7 ngày lên men dịch thanh long ruột đỏ ở điều kiện ban đầu ($22^\circ\text{Brix}$, $\text{pH} = 4,5$, mật độ giống $1,8 \times 10^6\text{ tế bào/mL}$), các chỉ số hóa lý thay đổi rõ rệt giữa 3 chủng:

Chủng nấm men Độ Brix sau lên men ($^\circ\text{Brix}$) Độ pH sau lên men Độ cồn đạt được (% v/v)
TL1 $18,66^\text{b}$ $3,79^\text{b}$ $6,00^\text{a}$
TL2 $17,66^\text{b}$ $3,66^\text{a}$ $7,66^\text{ab}$
TL3 $16,33^\text{a}$ $3,94^\text{c}$ $8,66^\text{b}$

Chủng TL3 thể hiện ưu thế vượt trội với hàm lượng đường sót thấp nhất ($16,33^\circ\text{Brix}$), độ pH ổn định ở mức 3,94 và hàm lượng ethanol thu được cao nhất đạt $8,66%\text{ v/v}$.

4. Đánh giá cảm quan sản phẩm lên men từ chủng TL3 (TCVN 3215-79)

Sản phẩm rượu vang lên men từ chủng TL3 được hội đồng 5 thành viên (A, B, C, D, E) đánh giá chất lượng cảm quan:

Chỉ tiêu cảm quan Điểm thành viên A Điểm thành viên B Điểm thành viên C Điểm thành viên D Điểm thành viên E Tổng điểm Điểm trung bình Hệ số quan trọng Điểm có trọng lượng
Màu sắc 4 4 4 4 4 20 4,0 0,4 1,60
Độ trong 4 3 4 4 3 18 3,6 0,8 2,88
Mùi 4 3 3 4 3 17 3,4 1,2 4,08
Vị 3 4 3 3 3 16 3,2 2,0 6,40
Tổng cộng - - - - - - - 4,0 14,96

Sản phẩm đạt tổng điểm chất lượng cảm quan có trọng lượng là 14,96 điểm, sở hữu màu đỏ tươi tự nhiên, mùi thơm đặc trưng của thanh long ruột đỏ, độ trong tương đối, vị ngọt thanh nhẹ hòa hợp với nồng độ cồn $8,66^\circ$.

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Chương 5 đúc kết các kết quả định lượng chính: đã phân lập thành công 3 dòng nấm men thuần (TL1, TL2, TL3) từ quả thanh long ruột đỏ và xác định TL3 là chủng men tối ưu nhất cho lên men rượu vang với nồng độ cồn đạt $8,66%\text{ v/v}$. Tác giả đưa ra các khuyến nghị về việc tối ưu hóa hơn nữa các thông số công nghệ lên men và mở rộng nghiên cứu định danh phân tử.


Kết quả và đóng góp

Kết quả định lượng chính

  • Đã phân lập và làm thuần thành công 3 dòng nấm men bản địa ký hiệu TL1, TL2 và TL3 từ nguồn quả thanh long ruột đỏ tự lên men.
  • Cả 3 chủng đều có khả năng đồng hóa và sinh khí $\text{CO}_2$ mạnh mẽ trên môi trường đường glucose 2% và saccharose 2%, đạt chiều cao cột khí cực đại 2,5 cm trong ống Durham sau 24 giờ.
  • Trong điều kiện lên men dịch quả thanh long ruột đỏ ($22^\circ\text{Brix}$, $\text{pH} = 4,5$, mật độ $1,8 \times 10^6\text{ tế bào/mL}$, 7 ngày ở nhiệt độ phòng), chủng TL3 cho hiệu suất lên men cao nhất:
    • Độ cồn đạt: $8,66%\text{ v/v}$ (cao hơn đáng kể so với TL1 đạt $6,00%$ và TL2 đạt $7,66%$).
    • Mức tiêu thụ đường cao nhất với độ Brix sót giảm xuống $16,33^\circ\text{Brix}$.
    • Độ pH đạt 3,94, nằm trong khoảng an toàn cho rượu vang thành phẩm.
    • Điểm đánh giá cảm quan theo TCVN 3215-79 đạt 14,96 điểm, sản phẩm giữ được màu đỏ tươi đặc trưng của thịt quả và hương vị hài hòa.

Đóng góp thực tiễn và khoa học

  • Cung cấp dữ liệu thực nghiệm về đặc tính hình thái và động học lên men của các chủng nấm men bản địa phân lập trực tiếp từ thanh long ruột đỏ An Giang.
  • Đề xuất giải pháp công nghệ tận dụng nguồn nguyên liệu thanh long ruột đỏ bị nứt vỏ trong mùa mưa hoặc thời điểm thu hoạch rộ, góp phần giảm thiểu tổn thất nông sản sau thu hoạch và đa dạng hóa các sản phẩm đồ uống lên men từ trái cây Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên phạm vi và nội dung trình bày trong tài liệu, đề tài còn tồn tại một số hạn chế và định hướng phát triển sau:

  • Định danh chủng vi sinh vật: Nghiên cứu mới dừng lại ở bước nhận diện và phân loại sơ bộ nấm men dựa trên đặc điểm hình thái tế bào, hình thái khuẩn lạc và khả năng lên men đường; chưa thực hiện phân tích giải trình tự sinh học phân tử vùng gen 26S rDNA hay vùng ITS để xác định chính xác tên loài khoa học cho các chủng TL1, TL2, TL3.
  • Quy mô và điều kiện thử nghiệm: Quá trình lên men mới được khảo sát ở quy mô phòng thí nghiệm nhỏ (mẫu 150 g dịch quả), chưa khảo sát động học lên men qua từng ngày để xây dựng đường cong sinh trưởng chi tiết.
  • Đánh giá cảm quan: Hội đồng thử nếm cảm quan quy mô hẹp (5 thành viên); chưa phân tích chuyên sâu các thành phần hương hữu cơ bay hơi (este, cồn bậc cao) bằng phương pháp sắc ký khí khối phổ (GC-MS) cũng như chưa khảo sát độ bền màu của sắc tố betacyanin trong quá trình tàng trữ và bảo quản rượu vang thành phẩm.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tư liệu thực nghiệm hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên ngành Công nghệ Sinh học, Công nghệ Thực phẩm, Sau thu hoạch: Tham khảo chi tiết về quy trình bố trí thí nghiệm vi sinh vật học (phân lập, làm thuần, thử nghiệm ống Durham sinh khí $\text{CO}_2$), quy trình tính toán xử lý sunfit hóa ($\text{NaHSO}_3$), phương pháp lên men dịch quả và phương pháp xử lý số liệu thống kê ANOVA/Duncan.
  • Cán bộ kỹ thuật và nhà nghiên cứu chế biến thực phẩm: Tham khảo các thông số công nghệ nền tảng (nồng độ đường ban đầu $22^\circ\text{Brix}$, $\text{pH} = 4,5$, mật độ tế bào cấy $1,8 \times 10^6\text{ tế bào/mL}$) để phát triển các dòng sản phẩm rượu vang lên men từ thanh long ruột đỏ hoặc các loại trái cây nhiệt đới giàu đường và sắc tố tự nhiên.

Câu hỏi thường gặp

1. Chủng nấm men nào đạt hiệu quả lên men rượu cao nhất trong chuyên đề và các thông số cụ thể là gì?

Chủng nấm men TL3 đạt hiệu quả lên men tốt nhất. Sau 7 ngày lên men dịch quả thanh long ruột đỏ, chủng TL3 tạo ra nồng độ cồn cao nhất đạt $8,66%\text{ v/v}$, độ Brix sót giảm xuống mức thấp nhất là $16,33^\circ\text{Brix}$, độ pH đạt 3,94, và điểm đánh giá cảm quan đạt 14,96 điểm theo TCVN 3215-79.

2. Các chủng nấm men phân lập được có đặc điểm hình thái tế bào như thế nào?

Cả 3 chủng đều có kiểu sinh sản nảy chồi đơn cực và tế bào sắp xếp đơn lẻ:

  • TL1: Tế bào hình oval, kích thước $5,1 \times 6,8\ \mu\text{m}$.
  • TL2: Tế bào hình tròn nhỏ, kích thước $1,1\ \mu\text{m}$.
  • TL3: Tế bào hình oval nhỏ, kích thước $3,0 \times 4,2\ \mu\text{m}$.

3. Quy trình chuẩn bị dịch quả thanh long ruột đỏ trước khi lên men ở Thí nghiệm 3 được thực hiện ra sao?

Thịt quả thanh long ruột đỏ được cắt nhỏ, xay nhuyễn (150 g), bổ sung đường saccharose để nâng độ ngọt lên $22^\circ\text{Brix}$, điều chỉnh $\text{pH} = 4,5$. Sau đó, bổ sung $\text{NaHSO}_3$ với nồng độ $120\text{ mg/L}$ và để yên trong 2 giờ cho khí $\text{SO}_2$ dư bay hơi nhằm ức chế tạp khuẩn và nấm men dại trước khi cấy nấm men thuần.

4. Vì sao tốc độ sinh khí $\text{CO}_2$ của nấm men trên môi trường saccharose lại chậm hơn so với glucose ở các mốc thời gian đầu?

Do glucose là đường đơn (monosaccharide) nên nấm men có thể hấp thu và chuyển hóa trực tiếp qua con đường đường phân. Ngược lại, saccharose là đường đôi (disaccharide), nấm men bắt buộc phải tiết enzyme invertase để thủy phân saccharose thành glucose và fructose trước khi vận chuyển vào trong tế bào, dẫn đến tốc độ sinh khí $\text{CO}_2$ ban đầu (6–12 giờ) chậm hơn.


Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp đại học của sinh viên Đinh Thị Bảo Hòa đã phân lập thành công 3 dòng nấm men thuần khiết (TL1, TL2, TL3) từ quả thanh long ruột đỏ tự lên men tại An Giang. Qua các thử nghiệm sinh hóa và lên men dịch quả, chủng nấm men TL3 được tuyển chọn là dòng tối ưu nhất với khả năng tạo nồng độ cồn đạt $8,66%\text{ v/v}$, tiêu thụ cơ chất tốt và tạo ra sản phẩm rượu vang có màu sắc đỏ tươi, hương vị đặc trưng hài hòa. Công trình đã cung cấp cơ sở thực nghiệm vững chắc cho việc ứng dụng công nghệ vi sinh nhằm gia tăng giá trị kinh tế và giải quyết bài toán tiêu thụ cho nguồn nông sản thanh long ruột đỏ sau thu hoạch.