Chương 1. Tổng quan về cây cơm xôi (Rourea minor subsp. Đặc điểm thực vật và sự phân bố của cây cơm xôi Cơm xôi hay còn gọi khế rừng, dây lửa, dây khế rai, quai xanh [22] (danh pháp khoa học: Rourea minor subsp., là một loài thực vật có hoa trong thuộc chi Dây khế Rourea, họ Dây trường điều (Connaraceae). Dây leo thân gỗ hay cây bụi leo, thân cứng, có nhiều cành, chiều cao từ 1m– 4 m.
Các cành nhỏ màu nâu, trơn bóng hoặc có ít lông tơ khi còn non. Lá kép lông chim lẻ, rất ít khi gặp 1-lá chét; trục lá và cuống lá chét nhẵn nhụi; lá chét 3-8-13 đôi; phiến lá chét có màu xanh lá cây-phấn xám phía xa trục, bóng phía gần trục, hình trứng hoặc hình mũi mác đến hình mũi mác thuôn dài, 1,5-4 × 0,5–2 cm, giống như giấy đến dai láng gần giống như da, nhẵn nhụi cả hai mặt, gân phụ 4-7 đôi, tỏa rộng, nối lại gần mép lá, đáy hình nêm đến thuôn tròn, thường xiên lệch, mép nguyên, đỉnh tù và nhọn. Cụm hoa ở nách lá ở các nách lá phía xa hoặc giả đầu cành, hình chùy với 1- 5 trục, thường 3–6 cm, các trục trung tâm thường dài hơn, các trục khác ngắn hơn; trục hoa và cuống hoa nhẵn nhụi; lá bắc và lá bắc con không khác biệt. Hoa đường kính 4–5 mm, thơm.
Lá đài hình trứng, 2–3 mm, rộng tương đương với dài, nhẵn nhụi hoặc có lông măng nhỏ dọc theo mép phía xa trục. Cánh hoa màu trắng, ánh vàng, hoặc hồng, hình elip, 4-5 × 1–2 mm, nhẵn nhụi, có sọc theo chiều dọc, đỉnh nhọn. Nhị hoa khoảng 10; chỉ nhị không đều, các nhị dài hơn đến 6 mm, các nhị ngắn hơn đến 4 mm; bao phấn có thùy theo chiều dọc. Lá noãn rời, 3–5 mm; bầu nhụy hình trụ.
Quả: quả đại màu đỏ, hình trụ hoặc hình trứng ngược xiên-hình trụ, hơi cong, 1,2-1,5 × 0,5–1 cm, có sọc dọc, gốc có các lá đài bền, đỉnh nhọn. Hạt màu da cam, thuôn dài, khoảng 1 cm, với vỏ hạt có màng ở đáy. Ra hoa tháng 3- tháng 9, tạo quả tháng 5 - tháng 3 năm sau. 7 Tại Việt Nam, được phân bố chủ yếu ở các tỉnh Sơn La, Hà Nội (Ba Vì), Thanh Hóa (Vườn Quốc gia Bến En), Quảng Trị, Kon Tum (Đắc Giây, Đắc Môn), Lâm Đồng (Hòa Lạt, Bảo Lộc), Khánh Hòa (Ninh Hòa, Hòn Tre), Bình Dương (Thủ Dầu Một), Đồng Nai (Biên Hòa), Thành Phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu (Núi Đinh) 1.
Thành phần hóa học của loài cơm xôi (Rourea minor subsp.) Ngiên cứu của Zhen-Dan He và cộng sự cho thấy, trong cây Rourea minor có thành phần hóa học bao gồm các chất β-sitosterol glucoside (1), dihydrovomifoliol-9-β-D-glucopyranoside (2), 9S,12S, 13S-trihydroxy-10E- octadecenoic acid (3), 1-O- β-D-glucopyranosyl-(2S,3R,4E-8Z)-2-N-(2-O- hydroxypalmitoyl)-octadecasphinga-4,8-dienine (4), 1-(26- hydroxyhexacosanoyl)-glycerol (5), rouremin (6) và rourinoside (7) [22]. 8 Một nghiên cứu gần đây về thành phần hóa học của R. minor cho thấy trong cây có các hợp chất thuộc nhóm phenolic, alkaloid, các axit béo và glucoside, bao gồm các hợp chất bergenin (8), Osyringylbergenin (9), (+)-catechin-3-O-α-L- rhamnopyranoside (10), epicatechin (11), catechin (12), 11-O-(3,4- dimethylgalloyl)bergenin (13), procyanidin A1 (14), 2α,3α-epoxy-5,7,3′,4′- tetrahydroxyflavan-(4β→8)-epicatechin (15), dehydrodicatechin A (16), (2α,3β)- 7-O-methylcedrusin (17), syringaresinol (18), scopoletin (19), fulgidic acid (20), pinellic acid (21) α-dimorphecolic acid (22), 13-oxo-9E,11E-octadecadienoic acid (23), 9-oxo-10E,12Z-octadecadienoicacid (24), and 9-oxo-10E,12E- octadecadienoic acid (25). Hoạt tính sinh học của loài cơm xôi (Rourea minor subsp.) Nghiên cứu của Preeti Kulkarni và cộng sự [13]cho thấy, dịch chiết etanolic và dịch chiết nước của Rourea minor (Gaertn.) thu mẫu tại Ấn Độ có hoạt tính chống đái tháo đường và giảm natri huyết mạnh ở trên chuột mắc bệnh tiểu đường gây ra.
Nói chung, những phát hiện chỉ ra rằng sự tái sinh của tế bào β có thể là một góp phần vào khả năng chống đái tháo đường của nó. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hiện tại nhằm mục đích phát triển phytomedicine mạnh cho điều trị bệnh đái tháo đường từ cây Rourea minor. Một nghiên cứu khác của Anu Chaudhary và cộng sự [8] cho thấy dịch chiết methanol của cây Rourea minor có tác dụng hạ đường huyết được gây ra bởi tăng nồng độ insulin trong huyết thanh và do đó các nghiên cứu sâu hơn đang được tiến hành để phân lập (các) nguyên tắc hoạt động và làm sáng tỏ cơ chế hoạt động chính xác của dịch chiết loài Rourea minor. Giới thiệu chung về chi Dây khế Rourea 1.
Đặc điểm thực vật về chi Dây khế Rourea Hiện nay, các công trình nghiên cứu chi Dây khế (Connaraceae) trên thế giới nói chung và ở Việt Nam chưa nhiều, chưa đi sâu vào tìm hiểu hoạt tính sinh học các chất cũng như ứng dụng của chúng. Quá trình nghiên cứu, phân loài về chi Dây khế Rourea ở nước ngoài và Việt Nam. Năm 1775 , ở miền bắc Nam Mỹ nhà bác học người Pháp Aublet công bố chi Rourea với một loài là Rourea frutescens. 13 Năm 1850, nhà thực vật học người Pháp Planchon bổ sung 24 loài mới hay các kết hợp danh pháp mới từ châu Mỹ, châu Á và châu Phi.
[13] Năm 1870, nhà khoa học người Pháp Baillon đã kết hợp các chi Roureopsis và Bernardinia của Planchon cũng như chi Byrsocarpus của Schumacher với Rourea. Khái niệm về Rourea là gần như giống với khái niệm trong bài và đã được các tác giả như Baker, Hiem, De Wildeman và Dilg tuân sử dụng. [13] Cho đến nay các đề tài khoa học nghiên cứu chi Dây khế (Connaraceae) nói chung và chi Dây khế (Connaraceae) ở Việt Nam còn rất ít. Ông là nhà khoa học đầu tiên nghiên cứu về chi dây khế Rourea ở Việt Nam.
Ông xếp loài này vào nhóm 10 nhị với 1 vòi nhụy.Vidal trong công trình "Flore du Cambodge, du Laos et du Vietnam” [21]đã mô tả 5 loài thuộc chi Rourea là: Rourea oligophlebia, Rourea acropetala, Rourea minor, Rourea mimosoides và Rourea harmandiana và 2 phân loài: Rourea minor ssp. microphylla và Rourea minor ssp. Trong công trình “Cây cỏ Việt Nam” và công trình được tái bản năm 1999 [4] , Phạm Hoàng Hộ đã mô tả 5 loài thuộc chi Rourea và 2 phân loài: - Rourea acropetala Pierre. - Dây lửa cánh hoa nhọn.
- Rourea harmandiana Pierre. - Dây lửa Harmand. - Rourea minor (Gaertn. Minor - Đóc chó, tróc cẩu.
- Rourea minor subsp.) - Khế leo, đóc chó đơn hùng. - Rourea minor subsp. - Cơm xôi, Dây lửa, Quai xanh. - Rourea mimosoides Planch.
- Dây lửa lá trinh nữ. - Rourea oligophlebia Merr. - Dây lửa ít gân, Mú từn. 14 Năm 2003, Nguyễn Tiến Bân [1]trong “ Danh lục các loài thực vật Việt Nam” đã mô tả chi Rourea với 5 loài Rourea oligophlebia, Rourea acropetala, Rourea minor, Rourea mimosoides, Rourea harmandiana và 2 phân loài: Rourea minor ssp.
microphylla và Rourea minor ssp. Năm 2003, Đỗ Tất Lợi đã mô tả về đặc điểm phân bố và nêu công dụng của loài Rourea minor microphylla trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”. Năm 2004 Đỗ Huy Bích và nhóm nghiên cứu đã mô tả về đặc điểm phân bố và nêu công dụng của Rourea microphylla trong công trình “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” [2]. Một số loài cây thuộc chi Dây khế Rourea ở Việt Nam.
+ Cây Rourea minor (Gaertn. Minor - Đóc chó, tróc cẩu. Trong dân gian còn gọi là: Dây khế cánh nhọn, dây lửa cánh hoa nhọn, độc chó, óc chó, tróc cẩu, dây độc ( có ở Hòn Tre tên khoa học: Rourea minor) là một loài thực vật có hoa trong họ Connaraceae. Loài này được Joseph Gaertner nghiên cứu đầu tiên năm 1788 dưới danh pháp Aegiceras minus.
[22]Năm 1931 Arthur Hugh Garfit Alston chuyển nó sang chi Rourea. [11] 15 + Cây Rourea minor subsp. microphylla Vidal - Cơm xôi Khế rừng hay còn gọi cơm xôi, dây lửa, dây khế rai, quai xanh [22] (danh pháp khoa học: Rourea microphylla) là một loài thực vật có hoa trong họ Connaraceae. Năm 1833 William Jackson Hooker và George Arnott Walker Arnott lần đầu tiên đã mô tả khoa học dưới danh pháp Connarus microphyllus.
[11]Năm 1850 Jules Émile Planchon chuyển nó sang chi Rourea. [13] [8] Theo Phạm Hoàng Hộ (1999) thì tại Việt Nam có trong các rừng hậu lập vùng duyên hải, từ Hải Ninh đến Phú Quốc. Có tác dụng làm thuốc sắc cho phụ nữ sau sinh kém ăn, trị tiểu khó hay nước tiểu vàng. [22]Người dân lấy vỏ thân, thân và lá làm thuốc.
Thu hái bốn mùa. Có thể dùng tươi hay khô, nhưng thường là dùng tươi. + Cây Rourea oligophlebia Merr. 16 Ở Việt Nam, nó phân bố nhiều tỉnh: Tuyên Quang, Thái Nguyên, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng… + Cây Rourea mimosoides (Vahi) Planch.
Phân bố: Đồng Nai (Biên Hòa), Kiên Giang (Phú Quốc). Còn có ở Ấn Độ, Campuchia, Việt Nam (Đảo Phú quốc), quần đảo Andaman và Nicobar, Nam Mianma, Thái lan, quần đảo Malaixia, Inđônêxia. + Cây Rourea minor (Gaertn. Minor Cây Rourea minor (Gaertn.
Minor hay còn gọi là cây đóc chó, tróc cẩu. 17 + Cây Rourea harmandiana Pierre. Cây dây lửa harmand phân bố ở (Đà Nẵng), Đá Bạc (Khánh Hòa), Khu vực sông Mê Kông (Nam Bộ). Thành phần hóa học một số loài chi Dây khế (Rourea) a.
Rourea cuspidate Nghiên cứu của Laikowski và cộng sự cho thấy thành phần hoá học của Rourea cuspidata phân bố ở Brazil có khả năng ức chế bệnh đái tháo đường, đã được công bố vào năm 2017. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật phổ khối phân giải cao HRMS đã được xác định 6 hợp chất có trong thành phần hóa học bao gồm: Proanthocyanidin A2 (26), Octadecanamide (27), Zingerone (28), Guaijaverin (29), Catechin (30), Hyperin (31), và. Dịch chiết thu được từ cây Rourea cuspidate thể hiện hoạt tính hạ đường huyết tương tự như glibenclamide[17]: 19 b. Rourea oligophlebia Loài Rourea oligophlebia còn có tên gọi khác là Mú từn Dây lửa ít gân.
Trong tinh dầu thu được từ rễ và lá cây Rourea oligophlebia tương ứng là 0,05% và 0,07% về khối lượng. Trong tinh dầu rễ có 30 cấu tử chiếm 91,7% tổng thành phần tinh dầu. Thành phần hóa học chủ yếu của tinh dầu rễ là spathulenol (12,7%), myrcene (15,9) và nerolidol (22,7%). Đã xác định được hợp chất hóa học trong thành phần của lá, chiếm 90,8% tổng thành phần cấu tử của tinh dầu.
Các thành phần hóa học chính của tinh dầu lá là neral (6,6%), myrcene (7,05%), spathulenol (10,3%), nerolidol (45,2%)[3]. Nhóm nghiên cứu của Đinh Ngọc Thức và cộng sự gần đây đã công bố các thành phần hóa học của lá và thân cây Rourea oligophlebia thu mẫu từ Vườn quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hóa, đã phân lập được 5 hợp chất từ thân cây bao gồm: friedelinol (32); friedelin (33); 7α-hydroxyl-3β-sistosterol (34) coniferyl alcohol (35) và scopoletin (36) [10]. 20 Từ lá của cây Rourea oligophlebia đã phân lập được 6 hợp chất từ lá bao gồm: 3β-Hydroxystigmast-5-en-7-on (37); phytol (38); 3β,16α,17-trihydroxy-ent- kauran (39), sitoindoside I (40) ); sitostenone (41) và bis-(2-ethylhexyl) terephthalate (42) [5_6]. Rourea doniana Patrícia V.