Đặt vấn đề Việt Nam là một nước nông nghiệp có khí hậu nhiệt đới nóng 4m nên thuận lợi cho cây công nghiệp, cây ăn quả phát triển như chuối, cam, bưởi, nhãn,.phục vụ cung cấp trong nước vụ và cho việc xuất khâu. Trong quý I năm 2022, kim ngạch xuất khâu các loại trái cây của Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng 6n định. Theo dit liệu thu thập của BSA (Business Studies and Assistance Center) được tổng kim ngạch xuất khẩu của 11 loại trái cây chính tăng khoảng 10% so với cùng kì năm 2021. Trong đó, các loại trái cây như chuối, mít và sầu riêng ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, từ 30 - 200% giá trị.
Về chuối có kim ngạch xuất khẩu 135 triệu USD, tăng 72% so với cùng kì năm 2021, sản phẩm xuất khâu chủ yếu vẫn và chuối tươi. Thị trường chính của chuối Việt Nam tiếp tục là thị trường Trung Quốc, chiếm đến 80% tổng sản lượng xuất khẩu. Ở nước ta, chuối là cây ăn quả quan trọng, đứng hàng đầu về diện tích và sản lượng. Tuy nhiên sản xuất chuối ở nước ta gặp nhiều trở ngại do các bệnh gây hại đặc biệt là bệnh héo vàng do nam Fusarium oxysporum gây ra.
Đây là một loại bệnh gây ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của chuối, gây bệnh mạnh nhất là giai đoạn cây trưởng thành, ra hoa, tạo quả làm cho cây bị héo vàng rồi chết. Mục tiêu đề tài Xác định được phương pháp chủng bệnh đánh giá các mẫu Fusarium oxysporum phân lập trong vùng rễ chuối vàng lá 1. Nội dung thực hiện Thu thập và phân lập tác nhân gây bệnh héo vàng ở vùng rễ chuối bị vàng lá. Định danh các mẫu nắm bằng đặc điểm hình thái trên môi trường nuôi cấy nhân tạo.
Xác định phương pháp chủng bệnh hiệu qua dé đánh giá các mẫu Fusarium phân lập trong vùng rễ chuối bị bệnh vàng lá. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Tống quan về cây chuối 2. Nguồn gốc và lịch sử về chuối Chuối là tên gọi các loài cây thuộc chi Musa.
Cây chuối là cây thân thảo, là cây ăn qua quan trọng, đứng hàng đầu về điện tích và sản lượng, chúng mang lai giá trị kinh tế, dé trồng và cho sản lượng khá cao đối với thị trường trong nước cũng như trên thé giới. Chuối ban đầu được tìm thấy ở Đông Nam A, chủ yêu ở An Độ. Cho đến nay, người ta đã tìm thấy sự đa dạng về nguồn gen cây chuối không chi ở nơi phat sinh nguồn gốc mà còn ở khu vực Nam Mỹ, Đông Phi và Tây Phi. Việc sản xuất chuối hàng loạt bat đầu vào năm 1834 và thực sự bắt đầu bùng nỗ vào cuối những năm 1880.
Chi chuối (Musa) có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Châu A và được thuần hóa rất sớm ở vùng Đông Nam Á. Nguồn gốc các giống chuối ăn được xuất phát từ 2 loài chuối đại có hạt trong chi Musa là Musa acuminata và Musa balbisiana. Chính sự tai tổ hợp trong điều kiện tự nhiên và qua nhiều đời giữa 2 loài này đã hình thành rất nhiều nhóm giống chuối. Trong đó nhóm Cavendish mang kiểu gen AAA với rất nhiều giống chuối tiêu thương mại được trồng rộng rãi ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ (Simmond và Shepherd, 1955).
Cây chuối sinh trưởng và phát triển quanh năm ở khu vực có kiểu khí hậu nhiệt đới. Ở Việt Nam chuối được trồng từ Bắc vào Nam, cả ở vùng núi và đồng bằng, chuối là cây ăn quả quan trọng. Quả chuối là bộ phận chứa nhiều thành phần dinh dưỡng nhất trong một cây chuối như chất xơ, kali, carbohydrate, các vitamin và khoáng chất tự nhiên. Vào năm 1993, Tran Văn Minh và Nguyễn Văn Uyên đều công nhận hệ thống phân loại cua Simmonds va Shepherd, sơ bộ phân loại chuối trồng theo một số nhóm theo đặc tinh đi truyền và mức độ hòa hợp của 2 loài: Musa acuminata Colla và Musa balbisiana Colla trong mỗi giỗng.
Theo Trần Văn Minh (1993) cho rằng các giống chuối nước ta gồm 4 kiểu gen là AA (chuối ngự, chuối cau), AAA (chuối tiêu), AAB (chuối Tây, chuối sáp), BB (chuối hột). Tình hình sản xuất và tiêu thụ chuối 2. Sản xuất và tiêu thụ chuối trên thế giới Chuối là một trong những loại trái cây được sản xuất, buôn bán và tiêu thụ nhiều nhất trên toàn cầu. Hơn 1000 giống chuối tồn tại trên thế giới, cung cấp các chất dinh dưỡng quan trọng cho người dân ở các nước sản xuất cũng như nhập khâu.
Trong đó loại được giao dịch nhiều nhất là chuối Cavendish, chiếm gần một nửa sản lượng toàn cầu với khối lượng sản xuất hang năm ước tính là 50 triệu tan. Chuối có thé đóng góp không chỉ vào an ninh lương thực hộ gia đình như một loại lương thực chính mà còn tạo thu nhập như một loại cây công nghiệp. Chuối được sản xuất chủ yếu ở Châu Á, Châu Mỹ Latinh và Châu Phi. Các nhà sản xuất lớn nhất cho tiêu dùng nội địa là Ấn Độ và Trung Quốc.
Theo Tổ chức Nông lương thế giới (FAO), sản lượng chuối thế giới năm 2021 khoảng 117 triệu tấn. Trong đó, Trong đó dẫn đầu là An Độ 33 triệu tan, tiếp đến là Trung Quốc 11,7 triệu tan, Indonesia 8,7 triệu tan, Brazil 6,8 triệu tan, Ecuador 6,68 triệu tan,. Việt Nam 2,3 triệu tan. Nhập khẩu chuối tập trung ở các nước Mỹ, Bi, Anh, Nhật Ban, Trung Quốc, Liên Bang Nga, Canada.
Thị trường ở các nước này chiếm 70% sản lượng chuối nhập khẩu trên thé giới. Trong đó những thị trường mới nổi, nhập khẩu nhiều là Trung Quốc và Liên Bang Nga. Sản xuất chuối ở Việt Nam Các loại cây ăn quả có diện tích và sản lượng lớn ở Việt Nam như chuối, xoài, vải, dứa, nhãn, cam, bưởi. Trong đó chuối là cây ăn quả có quy mô sản xuất lớn nhất.
Năm 2020, sản xuất chuối đạt tổng diện tích 136.569 ha với sản lượng 2.520 tấn cao hơn so với các loại cây ăn quả khác. Theo Hoàng Bằng An và ctv (2010), ở nước ta chuối là loại trái cây có điện tích và sản lượng cao. Diện tích trồng chuối lại không tập trung, do đây là loại cây ngắn ngày, có nhiều công dụng và ít tốn điện tích nên chuối được trồng ở rất nhiều nơi trong các vườn cây ăn trái và hộ gia đình. Một số tỉnh miền Trung và miền Nam có diện tích trồng chuối khá lớn (Thanh Hóa, Nghệ An, Khánh Hòa, Đồng Nai, Sóc Trăng, Cà Mau có diện tích từ 3000 ha đến gần 8000 ha).
Trong đó, ở các tỉnh miền Bắc có diện tích trồng chuối lớn nhất như Hải Phòng, Nam Định, Phú Thọ diện tích trồng chuối chưa đạt đến 3000 ha. Diện tích và sản lượng các loại cây ăn quả 2020 TT Chúng loại Diện tích (ha) Sản lượng (tan) ⁄ Chuối 136.049 Ễ Vải, chôm chôm 94. Kết quả điều tra cho thấy bệnh này có mặt trên phạm vi cả nước, tính riêng miền Nam có tới 70% diện tích bị nhiễm trong đó nhiều vùng thiệt hại tới hơn 85% năng suất Vakili và cộng sự (1968). Năm 1995, Pegg và ctv thông báo giống chuối Tây và Tây tía (ABB) là những giống man cảm với nam Foc chủng 1.
Bentley và ctv (1998) công bố kết qua thu thập 21 mẫu bệnh ở cả miền Bắc, miền Trung và miền Nam bằng phân tích ADN trên chuối Tây bị bệnh, các mẫu nam này được cho là thuộc chủng 1. Tổng quan về bệnh héo vàng Fusarium oxysporum trên chuối 2. Bệnh Fusarium oxysporum trên các cây trồng Chi Fusarium bao gồm nhiều loại nam gây bệnh thực vật quan trọng nhất. Nó được xếp hạng thứ năm trong danh sách các loại nắm gây bệnh thực vật hàng đầu dựa trên tầm quan trọng về mặt khoa học và kinh tế (Ploetz, 2005b).
Các loài thuộc chi Fusarium như Fusarium oxysporum, Fusarium solani thường gây bệnh cho thực vật, người và động vật gây thiệt hại đáng kể đến ngành nông nghiệp ở các quốc gia. Trong các loài nam gây hai thì Fusarium oxysporum là một trong những nhóm nắm nguy hiểm nhất (Smith va ctv, 1988). Chúng có thé tồn tại dưới dang sợi nam, các dạng bào tử lớn, bào tử nhỏ và bào tử hau(Agrios, 1997). Theo mô tả của Srivastava va ctv, (2018) F.
oxysporum trên môi trường PDA có màu trắng đến tím, được đặc trưng bởi sự sinh sản đồi dào các tiểu bao tử và bao tử hậu ở đầu giả hoặc đơn thé bình. Dai bao tử dang hình trụ với hai đầu nhọn, có 3 vách ngăn mỏng và mật độ lớn trên quả thể màu cam khi nuôi cấy trên môi trường CLA. Tiểu bảo tử hình bầu dục, elip hoặc hình hạt đậu, thường không có vách ngăn. Tản nam của F.
solani trên môi trường PDA có màu trang đến kem, mặt sau đôi khi có màu xanh lục. Đại bào tử hình lưỡi liềm tương đối thăng, có 3 — 7 vách ngăn, có mật độ lớn trên các quả thể màu kem trên CLA. Tiểu bào tử hình bầu dục, elip hoặc hình hạt đậu, thường không có vách ngăn. Tiểu bào tử và bao tử hậu đính trên đầu giả của sợi nam, bào tử hậu này đôi khi đính theo cặp.
Nam Fusarium oxysporum cô phạm vi ky chủ lớn và tồn tại nhiều dang khác nhau trong đất. Các bệnh héo Fusarium do các dang loài của F. oxysporum gây ra. Mỗi dang loài thường chi có thé gây hại trên một loài ký chủ.
lycopersici gây héo trên cây cà chua, héo Fusarium trên chuối do F. zingiberi trên gừng. dianthi gây héo trên cây cam chướng. Lịch sử nghiên cứu bệnh héo vàng Fusarium oxysporum trên cây chuối 2.
Trên thế giới Theo Bancroft (1876), báo cáo và mô tả ban đầu về bệnh héo chuối do Fusarium oxysporum trên thé giới là từ Uc vào năm 1874. Có khả năng căn bệnh này đã ảnh hưởng đến các giống chuối man cảm ở nhiều nơi trên thế giới vào thời điểm nó được mô tả lần đầu tiên trên giống cây trồng “Silk” (bộ gen AAB) rất man cảm ở Úc vào thế kỷ 19. Sau khi việc sản xuất thương mại giống “Gros Michel” (bộ gen AAA) bắt đầu ở khu vực Mỹ Latinh/Caribe vào cuối thế kỷ 19 thì căn bệnh này mới trở nên nghiêm trọng. Vào giữa thé ky 20, căn bệnh này đã phố biến ở Gros Michel và có tác động tan phá đối với ngành trồng chuối trong khu vực.
Vào năm 1910, lần đầu tiên tiến sỹ Erwin Smith đã phân lập được tác nhân gây bệnh từ mô cây bị bệnh tai Cu Ba và đặt tên là Fusarium cubense E. Vào năm 1919, Brandes đã có những nghiên cứu đầu tiên dé xác định quan thé nam và nhận biết một số đặc điểm hình thái trên một số môi trường nuôi cấy. Ở Đài Loan các giống chuối Cavendish cũng được phát hiện thấy nhiễm bệnh héo vàng, bệnh đã hủy khoảng 23.