CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm và đặc điểm của phân bón vô cơ Phân bón vô cơ hay phân hóa học là loại phân bón cung cấp trực tiếp cho cây trồng các hợp chất chứa các yếu tố dinh dưỡng dưới dạng khoáng (La Văn Bình và Trần Thị Hiền, 2007; Roba, 2018). Chất lượng của phân bón vô cơ không chỉ quyết định bởi hàm lượng nguyên tố dinh dưỡng trong phân, dạng hợp chất của các nguyên tố dinh dưỡng, tỷ lệ của các nguyên tố dinh dưỡng đối với từng loại cây trồng, từng loại đất mà còn phụ thuộc vào tính chất vật lý như kích thước hạt phân, khối lượng riêng, độ cứng của hạt phân (Nguyễn Hoa Toàn, 2011). Ưu điểm của phân vô cơ là phân chứa tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết sẵn sàng cho cây sử dụng và hàm lượng dinh dưỡng khá cao.
Phần lớn chúng ở dạng dễ hòa tan (trừ một số phân lân) nên cây dễ hấp thụ và có hiệu quả. Phân vô cơ giúp tái lập độ phì nhiêu cho đất rất nhanh và cây trồng có thể hấp thu được ngay chất dinh dưỡng khi phân được hòa tan trong đất. Bón phân vô cơ đúng liều lượng có thể làm tăng chất hữu cơ của đất nhờ khối lượng rễ và tàn dư cây trồng cao hơn (Nguyễn Lân Hùng và Nguyễn Duy Minh, 2005; Matsumoto và Yamano, 2009; Han và ctv, 2016; Roba, 2018). Nhược điểm của phân vô cơ là khi bón phân quá mức có thể dẫn đến các tác động tiêu cực tới đất, sức khỏe của con người và môi trường tự nhiên.
Phân làm tăng quá trình phân hủy chất hữu cơ trong đất dẫn đến suy thoái kết cấu đất, giảm tính liên kết của đất dẫn đến các chất dinh dưỡng dễ bị thất thoát khỏi đất và có thể làm giảm hiệu quả sử dụng phân. Sử dụng quá nhiều phân vô cơ còn ảnh hưởng tới hệ vi sinh vật có ích trong đất. Bón phân vô cơ liên tục nhiều vụ, nhiều năm dễ làm cho đất hóa chua (Nguyễn Lân Hùng và Nguyễn Duy Minh, 2005; Han và ctv, 2016; Roba, 2018). Tính tan và yêu cầu của phân bón vô cơ Mức độ hòa tan của phân vô cơ khi bón vào đất quyết định khả năng hấp thụ và hiệu quả của phân đối với cây trồng.
Để đánh giá tính tan của phân bón thì nước và acid hữu cơ yếu thường là dung môi được lựa chọn để đánh giá tùy theo loại phân bón. Đối với phân đạm, phân kali hòa tan trong nước dễ dàng, còn đối với phân lân thì tùy theo loại, có loại hòa tan trong nước, loại hòa tan trong amonium citrate. Dựa vào độ tan của phân bón mà có thể chia phân vô cơ thành: loại tan trong nước, loại tan trong amonium citrate và loại tan chậm (La Văn Bình và Trần Thị Hiền, 2007; Nguyễn Hoa Toàn, 2011). Phân vô cơ cần đạt các yêu cầu sau: đảm bảo chất dinh dưỡng trong đất để cung cấp cho cây trồng, phân không hút ẩm hoặc ít hút ẩm và ít bị hao hụt khi sử dụng (La Văn Bình và Trần Thị Hiền, 2007).
Mặt khác, khi đối diện với các vấn đề về môi trường bị ảnh hưởng bởi việc lạm dụng phân vô cơ thì ngoài các yêu cầu trên thì các yêu cầu mới đối với phân vô cơ hiện nay cũng được đề ra là: hiệu quả sử dụng của phân phải tăng, giảm tác động xấu của phân tới môi trường, giảm lượng phân bón nhưng vẫn đảm bảo năng suất cây trồng, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng trong suốt thời gian sinh trưởng và phải phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cây (Shaviv, 2001; Xiang và ctv, 2008; Ruark, 2012; Vejan và ctv, 2021). Phân loại phân bón vô cơ Theo La Văn Bình và Trần Thị Hiền (2007); QCVN 01 -189:2019/BNNPTNT, thì dựa vào thành phần chất dinh dưỡng là nguyên tố đa lượng hoặc liên kết hóa học của các nguyên tố dinh dưỡng thì phân bón vô cơ được chia thành phân đơn, phân phức hợp, phân hỗn hợp, phân bón đa - vi lượng, phân bón đa -trung - vi lượng. Phân đơn: là loại phân bón vô cơ trong thành phần chỉ chứa một nguyên tố dinh dưỡng đa lượng, thường là một trong ba nguyên tố N, P, K ở dưới dạng hợp chất như phân urea, phân ammonium nitrate, phân sulphate đạm, phân đạm chloride, phân lân super, phân lân nung chảy, phân kali chloride, phân kali sulphate. Phân bón phức hợp: là phân bón vô cơ trong thành phần chỉ chứa nguyên tố dinh dưỡng đa lượng được liên kết với nhau bằng các liên kết hóa học, gồm những muối đồng nhất có chứa các nguyên tố dinh dưỡng được cấu tạo từ các muối khác 7 nhau có chứa hai hoặc ba nguyên tố dinh dưỡng cho cây trồng.
Thông thường phân phức hợp chứa hai nguyên tố dinh dưỡng là N và P, đôi khi bổ sung thêm K như phân phosphate ammonium (DAP, MAP), phân sulphate kali, phân kali magie sulphate. Phân bón hỗn hợp: là loại phân bón vô cơ trong thành phần có chứa ít nhất hai nguyên tố dinh dưỡng đa lượng, được tạo ra bằng cách phối trộn các từ các loại phân đơn khác nhau. Tùy thuộc vào loại cây trồng và loại đất có thể sử dụng phân hỗn hợp có chứa các tỷ lệ chất dinh dưỡng khác nhau đặc trưng bằng tỷ lệ N : P2O5 : K2O. Phân bón đa - trung lượng: là phân bón vô cơ trong thành phần chứa ít nhất một nguyên tố dinh dưỡng đa lượng và một nguyên tố dinh dưỡng trung lượng.
Phân bón đa - vi lượng là phân bón vô cơ trong thành phần chứa ít nhất một nguyên tố dinh dưỡng đa lượng và một nguyên tố dinh dưỡng vi lượng. Phân bón đa – trung - vi lượng: là phân bón vô cơ trong thành phần chứa ít nhất một nguyên tố dinh dưỡng đa lượng, một nguyên tố dinh dưỡng trung lượng và một nguyên tố dinh dưỡng vi lượng. Tác động của việc sử dụng phân bón vô cơ đến môi trường và sức khỏe Bên cạnh những lợi ích của phân vô cơ là góp phần tăng năng suất cây trồng, quyết định chất lượng nông sản và giúp cải thiện độ phì đất thì một trong những tác hại lớn nhất của chúng lại là gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe của con người, vật nuôi nếu không bón đúng cách, bón dư thừa các yếu tố dinh dưỡng. Theo Savci (2012), việc lạm dụng phân vô cơ trong nông nghiệp đã để lại những hệ lụy không tốt cho sức khỏe con người, môi trường, sinh thái như làm tăng độ mặn của đất, tích lũy kim loại nặng, phú dưỡng nước, gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, dẫn tới các vấn đề liên quan tới hiệu ứng nhà kính.
Trong thành phần của một vài loại phân bón vô cơ có chứa các thành phần phụ là các kim loại nặng (Cd, Pb, Cr, Ur, Ra, Hg, Cd, As,.), acid vô cơ và các chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trường. Do vậy, việc sử dụng lâu dài các loại phân vô cơ có thể gây ra sự tích tụ các thành phần này trong môi trường đất, đặc biệt là nước ngầm, gây mưa acid, làm tăng hiệu ứng nhà kính, tích lũy dư lượng kim loại trong cây trồng (Shaviv, 2001; Li và Wu, 2008; Savci, 2012). Tại nhiều nơi trên thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển do việc sử dụng quá nhiều phân vô cơ, đặc biệt là phân đạm và phân lân đã để lại những hệ lụy gây ảnh 8 hưởng lớn tới môi trường và sức khỏe của con người, vật nuôi. Thứ nhất, phân vô cơ gây ô nhiễm nguồn nước.
Lượng phân bón bị thất thoát rửa trôi theo mưa tới các ao, hồ, sông, suối đã gây ra hiện tượng phú dưỡng, hiện tượng nước nở hoa do tảo làm cạn kiệt nguồn oxygen trong nước, tạo ra các chất độc hại, có mùi hôi thối làm giảm số lượng sinh vật có ích sống trong nước. Thứ hai, phân vô cơ cũng gây ô nhiễm đất, làm suy giảm độ màu mỡ của đất, phá hủy cấu trúc tự nhiên của đất, gia tăng độ chua của đất, tích tụ các kim loại trong đất. Khi con người, vật nuôi ăn các loại nông phẩm có thể bị ảnh hưởng tới sức khỏe. Trong trường hợp sử dụng quá nhiều phân đạm, cây tích tụ dư thừa nitrate sẽ gây ra nhiều vấn đề về sức khỏe cho con người nếu ăn phải.
Mặt khác, phân vô cơ cũng gây ô nhiễm không khí. Khi nông dân bón các loại phân đạm, sự bay hơi của amoniac diễn ra tương đối cao, nhất là khi bón phân đạm trên các loại đất có tính chất kiềm là nguyên nhân gây ra ô nhiễm không khí. Một lượng amoniac có thể bị oxy hóa để chuyển thành acid gây ra mưa acid. Mưa acid có thể làm hư hại cây trồng, giết chết các sinh vật thủy sinh.
Bên cạnh đó nhiều loại khí thải oxit nitơ như NO, N2O, NO2 cũng được tạo ra khi sử dụng phân vô cơ cũng góp phần gây ô nhiễm không khí, gây ra hiệu ứng nhà kính (Shaviv, 2001; Savci, 2012; Han và ctv, 2016; Roba, 2018). Polymer phân hủy sinh học sử dụng làm màng bao phân bón 1. Phân hủy sinh học và polymer phân hủy sinh học Phân hủy sinh học là quá trình phân hủy vật liệu trong một môi trường nhất định thông quá các quá trình sinh học tự nhiên, đặc biệt là do tác động của enzyme do vi sinh vật tiết tạo ra khí carbonic, khí metan, nước và các hợp chất carbonate không độc hại. Phân hủy sinh học một phần là sự thay đổi trong cấu trúc hóa học của một chất, do tác động của các tác nhân sinh học dẫn đến sự mất đi một tính chất nào đó của chất và không nhất thiết tạo ra một đặc tính tốt hơn, vì các chất trung gian được tạo ra có thể độc hơn so với chất nền ban đầu.
Phân hủy sinh học hoàn toàn xảy ra khi sự phân giải đủ lớn để loại bỏ hẳn các đặc tính sinh học, hóa học, vật lý và độc tính ban đầu của chất để cuối cùng tạo thành carbon dioxite và nước (Immirzi và ctv, 2003; Phạm Ngọc Lân, 2006; Han và ctv, 2009; Sempeho và ctv, 2014). Polymer phân hủy sinh học là các polymer có khả năng bị phân hủy sinh học theo thời gian để tạo thành các hợp chất có khối lượng phân tử thấp hơn, trong đó có ít nhất một giai đoạn polymer bị phân hủy dưới tác động của các vi sinh vật. Các loại 9 polymer phân huỷ sinh học có nguồn gốc tự nhiên, tổng hợp hay bán tổng hợp. Các polymer phân hủy sinh học có nguồn gốc tự nhiên như cellulose, tinh bột, heparin, dextrin, pullulan, pectin, chitin, chitosan và alginate.