CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU – KCN KHAI QUANG, THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, VĨNH PHÚC 1. Tổng quan về tình hình phát triển các KCN tại Vĩnh Phúc 1. Tình hình phát triển các KCN tại Vĩnh Phúc Vĩnh Phúc là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là cửa ngõ nối các tỉnh khu vực Tây Bắc với thủ đô Hà Nội.
Là tỉnh có nhiều tiềm năng, lợi thế về điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý, thuận lợi cho việc hình thành, phát triển các KCN nói riêng và công nghiệp nói chung. Xây dựng và phát triển các KCN là một trong những quyết sách đúng đắn trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Vĩnh Phúc. Thời gian qua, tỉnh Vĩnh Phúc đã thu hút được nhiều dự án đầu tư trong và ngoài nước, thúc đẩy phát triển nền công nghiệp của tỉnh. Trong cả nước, Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh đứng đầu về phát triển công nghiệp nói chung và phát triển các KCN nói riêng.
Theo số liệu thống kê của Ban Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc, đến hết tháng 6/2015, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có 12 KCN đã được thành lập và cấp giấy chứng nhận đầu tư. Định hướng đến năm 2020, tỉnh Vĩnh Phúc sẽ có 20 KCN với tổng diện tích quy hoạch là 5. - Diện tích của 12 KCN trên địa bàn tỉnh đang được đầu tư và đi vào hoạt động cụ thể như sau: KCN Kim Hoa (50ha), KCN Khai Quang (262ha), KCN Bình Xuyên I (287,7ha), KCN Bá Thiện I (327ha), KCN Bình Xuyên II (180ha), KCN Bá Thiện II (308ha), KCN Sơn Lôi (264,52ha), KCN Chấn Hưng (29,75ha), KCN Phúc Yên (148,6ha), KCN Tam Dương I (700ha), KCN Tam Dương II (750ha), KCN Sông Lô I (200ha). - Tỷ lệ lấp đầy và cơ cấu vốn đầu tư: + Các KCN đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có tỷ lệ lấp đầy bình quân đạt 55,9%, cao hơn mức trung bình cả nước là 49,9%; tuy nhiên vẫn thấp hơn so với các tỉnh như Đồng Nai (hơn 63%), Bình Dương (hơn 60%), cụ thể như sau: 5.
KCN Bình Xuyên: tỷ lệ lấp đầy đạt 79,4%, tỷ lệ thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là 39,9%, đạt mức 228,2 tỷ đồng. KCN Kim Hoa: tỷ lệ lấp đầy đạt 100% giai đoạn I, tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng là 54,56%, đạt mức 156,04 tỷ đồng. KCN Bá Thiện: tỷ lệ lấp đầy là 66,9%, tỷ lệ vốn thực hiện xây dựng hạ tầng KCN là 6,87%, đạt mức 4,82 triệu USD. KCN Bình Xuyên II: tỷ lệ lấp đầy đạt 75%, tỷ lệ vốn thực hiện đầu tư hạ tầng KCN là 32%, đạt mức 32 triệu USD.
KCN Khai Quang: tỷ lệ lấp đầy đạt 74,1%, tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện xây dựng hạ tầng là 82,1%, đạt mức 234,8 tỷ đồng. + Hầu hết các KCN đều có số dự án vốn đầu tư FDI nhiều hơn số dự án có vốn DDI. Tính đến năm 2014 cơ cấu vốn đầu tư vào tỉnh như sau:. Lĩnh vực công nghiệp: có 246 dự án gồm 90 dự án FDI với số vốn đầu tư 1.765,7 triệu USD, chiếm 88,89% tổng vốn đầu tư FDI và 156 dự án DDI với số vốn 9.532 tỷ đồng, chiếm 62,75 % tổng vốn đầu tư DDI.
Lĩnh vực thương mại – dịch vụ: có 75 dự án gồm 5 dự án FDI với số vốn đầu tư 178,84 triệu USD, chiếm 9% tổng vốn đầu tư FDI và 70 dự án DDI với số vốn đầu tư 1.161 tỷ đồng, chiếm 7,5% tổng vốn đầu tư DDI. Lĩnh vực nông nghiệp: có 5 dự án FDI với số vốn 41,94 triệu USD, chiếm 2,11% tổng số vốn FDI và 6 dự án DDI với số vốn 71,7 tỷ đồng, chiếm 0,64% tổng số vốn DDI. Lĩnh vực du lịch – đô thị: có 16 dự án DDI với số vốn 3.962,6 tỷ đồng, chiếm 25,67% tổng vốn đầu DDI. Lĩnh vực giáo dục – đào tạo: có 9 dự án DDI với số vốn 709,5 tỷ đồng, chiếm 4,62% tổng vốn DDI.
- Hiện nay, nguồn vốn đầu tư vào các KCN trong tỉnh chủ yếu từ Đài Loan (gồm 40 dự án, vốn đầu tư 1.157,6 triệu USD), Nhật bản (gồm 14 dự án, vốn đầu tư 522,2 triệu USD), Hàn Quốc (gồm 28 dự án, vốn đầu tư 165,9 triệu USD). - Tình hình quản lý dự án sau đầu tư: Do ảnh hưởng chung của khủng hoảng kinh tế thế giới và chính sách thắt chặt tiền tệ của Chính phủ, một số doanh nghiệp hoạt động gặp nhiều khó khăn về vốn đã phải điều chỉnh kế hoạch đầu tư, thu hẹp sản xuất, thực 6 hiện cắt giảm chi phí bằng cắt giảm lao động. đã gây ra một số vấn đề như sự cạnh tranh về việc làm và gia tăng số lao động thất nghiệp. Vì vậy, để khắc phục tình trạng trên, các cơ quan quản lý cần có các chính sách phù hợp nhằm thu hút các nhà đầu tư, đồng thời đẩy mạnh công tác giám sát, quản lý các dự án đầu tư trong quá trình hoạt động nhằm điều hòa, nâng cao hiệu quá kinh tế - xã hội của các dự án trong các KCN.
KCN Khai Quang thuộc địa phận thành phố Vĩnh Yên và một phần nhỏ diện tích thuộc huyện Bình Xuyên nên KCN chịu ảnh hưởng chính của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Vĩnh Yên. Với quy mô diện tích là 262,15 ha, chiếm 21,62% diện tích đất công nghiệp theo quy hoạch của tỉnh và vị trí KCN nằm trên quốc lộ số 2, tại cửa ngõ Đông Nam của TP Vĩnh Yên, cách ga đường sắt tuyến Hà Nội – Lào Cai khoảng 2km; cách Hà Nội khoảng 50km, cách sân bay quốc tế Nội Bài khoảng 25km; cách cảng Cái Lân (Quảng Ninh) 150km,. nên thuận lợi cho sự phát triển và lưu thông hàng hóa [3]. Các tác động của sự phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đến kinh tế - xã hội 1.
Tác động tích cực a. Góp phần tăng trưởng kinh tế Thực hiện chủ trương thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, thời gian qua, kinh tế của Vĩnh Phúc đã có bước phát triển nhảy vọt. Từ năm 2004 đến trước khi xảy ra suy thoái kinh tế toàn cầu, kinh tế của tỉnh luôn giữ mức tăng trưởng trên 17,5%, có năm đạt trên 20%, cao gấp hai lần mức tăng trưởng bình quân chung của cả nước. Thu ngân sách tăng nhanh, từ thu không đủ chi ở năm 2004, Vĩnh Phúc đã tự cân đối được ngân sách và có đóng góp cho ngân sách Trung ương.
Năm 2014, mặc dù tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách song kinh tế của tỉnh vẫn tăng trưởng ở mức 6,11%; tổng thu ngân sách đạt trên 20.480 tỷ đồng, đạt 115% dự toán, tăng 4,9% so với năm 2013. Trong đó, thu nội địa ước tính đạt 17.500 tỷ đồng, đạt 121,5% so dự toán, tăng 11,1% so với năm 2013. Đây cũng là năm có số thu ngân sách cao nhất từ khi tái lập tỉnh đến nay. Tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao cũng khẳng định rõ hơn vai trò nền tảng của công nghiệp trong nền kinh tế của tỉnh.
Giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 7 1997 - 2000 tăng 75,7%, từ năm 2001 - 2010 tăng bình quân trên 30%; riêng năm 2014, trong điều kiện khó khăn vẫn tăng 5,11% so với cùng kỳ. Điều đáng nói, cùng với sự đột phá tăng trưởng công nghiệp, trên địa bàn tỉnh đã hình thành và phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao tạo các sản phẩm công nghiệp có sức cạnh tranh trong nước, khu vực và thế giới. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực Cơ cấu kinh tế của Vĩnh Phúc chuyển dịch ngày càng tích cực, từ một tỉnh nông nghiệp thuần túy khi mới tái lập tỉnh đã vươn lên trở thành tỉnh đứng thứ 6 trong cả nước và đứng thứ 2 miền Bắc về phát triển công nghiệp. Nhờ có các KCN, cụm công nghiệp được hình thành đã giúp Vĩnh Phúc phát triển một số ngành công nghiệp chủ lực, công nghiệp có lợi cạnh tranh cao.
Trên địa bàn tỉnh bước đầu phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao, với các sản phẩm công nghiệp chủ lực như: ô tô, xe máy, vật liệu xây dựng, phụ tùng cơ khí, linh kiện điện tử,. có sức cạnh tranh cao và ngày càng chiếm thị phần lớn trong nước, khu vực và thế giới. Các ngành công nghiệp phụ trợ bước đầu phát triển. Tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề truyền thống được quan tâm quy hoạch, đầu tư, khôi phục và phát triển.
Công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc trong năm năm qua có mức tăng trưởng cao, khẳng định vai trò động lực thúc đẩy các lĩnh vực nền tảng của nền kinh tế, cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp - thủy sản. Năm 2000, tỷ trọng công nghiệp – xây dựng đạt 38,97%, năm 2008 là 57% và năm 2015 là 62,12%. Cùng với đó là sự giảm tỷ trọng của ngành nông – lâm nghiệp và thủy sản từ 20,5% năm 2005 xuống 16,3% năm 2008 và còn 9,77% năm 2015. Chuyển dịch cơ cấu lao động Cơ cấu lao động của tỉnh Vĩnh Phúc những năm gần đây chuyển dịch theo hướng tích cực, số lao động phổ thông và lao động nông nghiệp giảm dần qua các năm và gia tăng đáng kể lao động phi nông nghiệp cả về số lượng và chất lượng.
Tại khu vực tập trung các KCN thì người dân một phần bị mất đất canh tác do đó nhận được khoản tiền bồi thường lớn đê ổn định cuộc sống và chuyển đổi nghề nghiệp. Tuy nhiên do quen với nông nghiệp nên thời gian đầu khi bị mất đất canh tác 8 nên và diện tích đất canh tác tính bình quân đầu người của Vĩnh Phúc ở mức thấp nên xảy ra tình trạng người lao động bị thất nghiệp với số lượng lớn. Từ khi các KCN đi vào hoạt động, tính lũy kế năm 2014 các KCN trong tỉnh thu hút được khoảng 23,5 vạn lao động làm việc thường xuyên, trong đó tỷ lệ lao động là người Vĩnh Phúc chiếm 70%. Đồng thời, tỷ lệ lao động trong các lĩnh vực phục vụ KCN cũng tăng lên đáng kể.
Tác động tiêu cực a. Về ô nhiễm môi trường Sự phát triển của các KCN giúp tăng trưởng kinh tế và tỉnh đã tự cân đối được ngân sách, có đóng góp cho trung ương, nhưng bên cạnh đó cũng tạo ra áp lực lớn đối với nhiều dạng tài nguyên và đặt môi trường sống đứng trước nhiều thách thức. Một số khu vực của Vĩnh Phúc đang bị ô nhiễm nặng.