MỞ ĐẦU. Mỗi hoạt động của con người ít nhiều đều có tác động đến môi trường xung quanh. Nhất là sau cuộc cách mạng kỹ thuật khoa học cùng với xu thế công nghiệp hóa. đô thị hóa và sự gia ting dân số đã làm cho tác động của con người ngày càng mãnh liệt đối với môi trường xung quanh theo hướng ngày càng xấu đi, nhất là vấn để nước.
Bằng chứng là các khu công nghiệp nhà máy, khu chế xuất, xí nghiệp xuất hiện hàng ngày thải ra hệ thống sông ngòi, kênh rach | lượng nước thải khổng 16 hầu hết chưa qua xử lý làm cho các hệ thống kênh rạch bị ô nhiễm tram trọng. Ô nhiễm môi trường nước tất yếu sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường đất, không khí kéo theo gây độc cho cả động thực vật lin con người bởi nhu cầu sử dụng nước. Trong từng khu vực, từng nước khác nhau, tình hình 6 nhiễm môi trường cũng xảy ra tương ttí. Đối với nước ta, 6 nhiễm nguồn nước là | vấn dé đáng lo ngại, nhất là ở các thành phố lớn ( TP.
Nên việc giải quyết vấn để ô nhiễm nguồn nước cẩn được quan tâm hàng đầu và phải làm thế nào để khắc phục dude tình trạng đó thì kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghe (TP.HCM) đang được cải tạo là bước đầu thực hiện mục tiêu trên. Bằng biện pháp sinh học, chúng ta sẽ nhanh chóng có kết quả chính xác mà biện pháp này đơn giản dễ tiến hành, ít tốn kém đồng thời định loại được các giống tảo xử lý nước thải. Do hạn chế về chuyên môn, thời gian và điều kiện nghiên cứu nên nội dung dé tài chỉ giới hạn trong việc: "ĐIỀU TRA - PHÂN LẬP VÀ THÍ NGHIỆM KHẢ NANG XỬ LÝ NƯỚC THAI KENH NHIÊU LỘC - THỊ NGHE TP.HCM CUA NGANH TAO SILIC”. S VIH: Vite Thị Phương Quyên l 41⁄2.
AGUYER VAR 2147 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP —— TỔNG LUẬN VAN ĐỀ Ô NHIEM THỦY VUC. Li ' giớ : - Viée sử dung nước trên thế giới có thé chia làm 3 nhóm: + Thủy lợi : 73%. + Công nghiệp: 21 % + Sinh hoạt 6% - các nước công nghiệp phát triển, nước dùng cho sản xuất chiếm 40%, ở các nước đang phát triển phần lớn nước lại đùng cho thủy lợi. - Lượng nước sử dụng vào tất cả các hoạt động kinh tế, đời sống của toàn thế giới không ngừng tăng lên nhưng tốc độ tăng của các nhóm sử dụng không điều nhau.
Sau 100 năm kể từ 1900 đến nay, lượng nước sử dụng cho thủy lợi ting 10 lin, cho công nghiệp tăng 63 lan. - Lĩnh vực nước dùng cho sinh hoạt gia đình cũng diễn ra tương tự, trung bình mỗi ngày thế giới cẩn đến 464 tỷ lít nước sạch cho sinh hoạt, bình quân mỗi ngày- | người cẩn 60 - 80 lít nước sạch trong đó 3 lít đùng cho ăn uống. - Qua đó ta thấy lượng nước dùng cho công nghiệp và sinh hoạt rất lớn, do đó lượng nước thải ra do các hoạt động trên không phải là con số nhỏ. Vì vậy việc sử dụng nước không những làm mất cân bằng nước mà còn gây ra sự ô nhiễm lớn: Theo tính toán của LVOVITS lượng nước thải tổng cộng năm 1900 là 28,8km’, 1970 là 490 km’, 2000 tăng lên 1824 km’.
- Qua nghiên cứu cho thấy tài nguyên nước ngọt trên thế giới giảm sút, mực nước ngắm bị hạthấp. Theo Liên hiệp quốc năm 1970, hơn 40 nước trên thế giới thiếu nước ngọt và nước xạch. _ Tình hình ô nhiễm: - Nước gọi là ô nhiễm khi thành phan nồng độ và mật độ các chất trong d6bi biến đổi và trở thành không thích hợp trong sử dụng. Sự biến đổi này bao gồm các tính chất lý hoá sinh với sự tổn tại các chất độc hại ở thể lỏng, khí và rắn gây nguy hiểm cho người và sinh vật.
S VTH: Vưu Thi Phương Quyên tw 4122. @1XC VAN 21% LUẬN VAN TỐT NGHIỆP - Theo tổ chức y tế thế giới nồng độ giới han cho phép đối với các chất trong nước uống như sau: + Flo :0,7— 1,5 mg/l + Sat :0,1 mg/l + Mangan :0,05 mg/l Các nguồn gây 6 nhiễm nước bao gồm: + Nude thải công nghiệp, dầu hỏa hoá chất, công nghệ thực phẩm, xí nghiệp, thuộc da. + Ô nhiễm sinh học. + _ Ô nhiễm chất phóng x.
+ Nước thải sinh hoạt từ các gia đình trường học, bệnh viện cơ quan. Trong đó ô nhiễm chất thải và ô nhiễm sinh học là 2 nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ô nhiễm dẫn đến ô nhiễm thủy vực tại các hệ thống sông ngòi kênh rạch ở nhiều nước cũng như Việt Nam. Ô nhiễm nước thải thành phố ( nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp). - Nước thải sinh hoạt thành phố bao gồm 3 nhóm chất hữu cơ chính: hydrat carbon, protein, lipit.
+ Protein : gồm các chất cao phân tử 15000 - 18000 Dalton. Dưới tác dụng của protease do | số vi khuẩn tiết ra, protein bị thủy phân thành monoacid và amid -> alanin -> vi sinh vật hấp thụ. 0 Những chất bén vững như chất min. 0 Những chất vi sinh vật thải ra gây mùi hôi (mercaptan).
+ Hydrat carbon: được các vi sinh vật sử dụng, quá trình này xảy ra nhanh nhất là đối với đường đơn. Vd: C,HO, + 6O; = 6CO, + 6H:O + 674 cal Trong điều kiện yếm khí: C,H;;O, > CH,COOH + 34cal CH;COOH > CH; + CO; + Lipit: phân hủy thành glycerin và các axit béo. Các acid béo tiếp tục biến đổi thành các acid đơn giản hơn, trong | số chúng có mùi 61 như acid valeric. S VTH: Vưu Thị Phương Quyên 3 GUARD: 2<.
411 VAN “212 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP - Nước thải công nghiệp: + Công nghiệp hóa chất: sản xuất acid sulfuric là quan trọng nhất, độc là do độ acid tăng. + Công nghiệp sản xuất giấy : thải ra các chất độc: © Hydro sulfur natri (NaHS) 0,5 mg/l o _ Dihidro sulfur( HạS ) [mg/l co - Phenol ( CsH;OH ) | — 10 mg/l o Para 0,6 mg/l o Opto 0,1 mg/l Trong đó độc nhất là cyamid, khi cá nhiễm cyamid mang đỏ rực lên. + Công nghiệp dầu hỏa: sự khai thác dầu hỏa và các sự cố trong quá trình vận chuyển xả nước thải công nghiệp dầu hỏa làm hàm lượng dâu ở các đại dương tăng lên. Ô nhiễm sinh học: - Nguyên nhân đo các loài tảo nở hoa và tiết chất độc đặc biệt là tảo lam.
Có khoảng 20 loài tảo lam chứa độc tố bản chất là peptid, alcaloid, phenol. Độc tố xác định được 7 giống nước ngọt và 2 gống ở biển (LA Xirenco, V. - Các chất độc do tảo tiết ra có thể làm chết các sinh vật, kể cả con người như chất VFDF, FDF, Gymnodinium, veneficum, G.brevis, Gonyaulax catenella. Độc nhất là độc tố do Mycrocystis tiết ra.
Hiện tượng nở hoa của giống Mycrocystis Tricho desmium ở Nam Mỹ làm nước bị độc, làm chết hàng ngàn trâu bò hàng năm. Nhiều tảo tiết ra các chất hữu cơ có chứa Clo có hoạt tính sinh học cao trong đó có các chất gây ung thư, dị ứng. - Một số tảo gây mùi vị cho nước như tảo lam, tảo lục, tảo silic, tảo giáp, tảo vàng ánh. Sự phát triển mạnh của tảo gây thiệt hại về kinh tế, làm tắt nghẽn tấm chắn và những thiết bị lọc khác trong hệ thống lọc nước (đặc biệt là tảo silic).
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP MỘT SỐ TẢO LÀM Ô NHIỄM, GÂY MÙI, MÀU, TẮT LỌC NƯỚC. * Tảo làm ô nhiễm nước: Chlamydomonas Spirogyra Lepocinclis Chlorogonium Anabaena Gomphonema Chlorella Oscillatoria Amenellum Pyrobotrys Phormidium Arthrodpira Stigloclonium Carteria Lyngbya Cholorococcum Euglena Tetraedron Phaeus ¢ Tảo làm nước có mùi mau: Asterionella Nitella Gomphosphaeria Anabaena Ceratium Staurastrum Anacysus Synedra Tabellaria Hydrodictyon Aphanizomenon Synura Mallomonas Dinobryon Peridinium Pandrorina * Tảo gây tắt lọc nước: Dinobryon Fragillaria Cyclotella Tribonema Trachelomonas Cymbella Chlorella Anacystis Melosira Closterium Rivularia Synedra Palmella Anabaena Spirogyra Oscillatoria S VTH: Vưu Thị Phương Quyền 4122. NGUYEN VAN 21 LUAN VAN TOT NGHIEP * Tinh trang 6 nhiễm nước: Tình trang 6 nhiễm nứơc từ những năm 60 trở thành một vấn để nghiêm trọng đặc biệt ở Châu Au, Bắc Mỹ, Nhật. Những năm gần đây nan ô nhiễm nước trở nên phổ biến và trầm trọng ở nhiều nước Châu A: - An Độ: khoảng 70% nguồn nước ngọt bị 6 nhiễm.
- Trung Quốc: 54 trong số 78 con sông bi ô nhiễm. - Malaysia: hơn 20 con sông ô nhiễm đến mức không còn cá và động vật khác. - Việt Nam: tình trang ô nhiễm xảy ra ngày càng phổ biến và nghiêm trọng. HCM hơn 300 xí nghiệp công nghiệp thải chất nhiễm bẩn trực tiếp vào sông, ao bồ, kênh rạch không qua xử lý, do đó,biển và đại dương cùng bị ảnh hưởng do chất thải từ sông ngòi đổ ra.
Theo số liệu của Liên Hiệp Quốc, hàng nam các sông trên thế giới đã đưa xuống biển 320 triệu tấn sắt, 3.2 triệu tấn chì.6 triệu tấn Mangan, 6 triệu tấn dầu các loại. Tình hình nêu trên đưa đến những tác hại lớn cho hệ sinh thai. Lớp dầu nổi làm ảnh hưởng đến quang hợp của sinh vật hd du, do đó ảnh hưởng đến nguồn thức ăn cho cá và ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ CO; và cung cấp O; cho khí quyển. SVTH: Vưu Thị Phương Quyén SỐ 6 4127.
NGUYEN VAN PHYER LUAN VAN TOT NGHIEP PHAN III: ¬ DIEU KIỆN TỰ NHIÊN THÀNH PHÔ HO CHÍ MINH I.- Địa hình; - Thành phố Hổ Chí Minh nằm ở vị trí 10°20" - 11°08" vĩ Bắc, 105°20° - 10720' kinh Đông. - Thành phố HCM nằm trong vùng giáp ranh giữa vùng đổi miễn Đông. Độ dốc chung của khu vực theo hướng từ Bắc - Đông bắc tới Tây - Tây Nam. - Kênh Nhiêu lộc Thị Nghè chảy qua 5 quận : Tân Bình, Phú Nhuận , quận 3, quân | và Bình Thanh.
- Lưu vực Nhiêu Lộc - Thi Nghè nhìn chung có độ đốc cao từ 10m ở phía ngoài (Tân Bình, Gò Vấp, quận | ) đến 1,5m ở phía trung tâm (dọc theo cả 2 bờ kênh Nhiêu Lộc — Thị Nghé ). Điều kiện địa hình thích hợp cho việc tập trung nước mưa .- Địa chất : - Thành phố HCM có tỉ lệđất xám 27%, đất phèn 29%, đất nhiểm man & dam lay rừng sát 20%, còn lại là sông , hổ, kênh rạch và đất xây đựng. - Đất trong lưu vực Nhiêu Lộc- Thị Nghè bao gồm đất phù sa cổ , mới và lớp cát bối có đất sét. - Đất nên của Thành phố HCM được tạo thành từ các loại đất ở Hốc Môn , Củ Chi, Gò Vấp , Tân Bình đa phần đất xám trên phù sa cổ.
Đất nhiều cát , thấm , thoát nước nhanh khoáng hoá mạnh nhưng các tang sâu 3-4 mét thường bị đá ong hoá hoặc lớp đất giàu sắt hoặc đất phèn .