Chương 1. Tổng quan về tranh chấp và bồi thường thiệt hại do ô nhiễm không khí trong giải quyết tranh chấp môi trường. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu mức độ ô nhiễm và thiệt hại do ô nhiễm không khí trong giải quyết tranh chấp môi trường ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu về mức độ ô nhiễm và thiệt hại do ô nhiễm không khí trong việc giải quyết tranh chấp môi trường ở Việt Nam.
Luận án được trình bày trong 156 trang A4, 17 bảng biểu, 22 hình vẽ, danh mục 9 công trình khoa học của tác giả đã được công bố, 122 tài liệu tham khảo tiếng Việt và tiếng nước ngoài. TỔNG QUAN VỀ TRANH CHẤP VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG 1. Tổng quan về tranh chấp và giải quyết tranh chấp môi trường do ô nhiễm không khí 1. Khái niệm, tính chất pháp lý, nguồn gốc, phân loại, đặc điểm của tranh chấp môi trường 1.
Khái niệm về tranh chấp môi trường Trên thế giới, tính đến cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX, thuật ngữ tranh chấp môi trường (Environmental Dispute) được sử dụng khá phổ biến ở các nước như Trung Quốc, Úc, Mỹ, Canada, Na Uy, Thụy Điển, Anh, Đức, Pháp, Ấn độ, Úc, Nhật bản, Hàn Quốc, Thái lan, Singapre, Bangladesh, Sri Lanka, Thái Lan, Malayxia, Indonesia, Brunei, Philippines,. khi chính quyền, toà án thụ lý và xét xử những vụ khiếu kiện đòi bồi thường thiệt hại về môi trường, về sức khoẻ, về tài sản của dân chúng do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra, cũng như các vụ khiếu kiện có liên quan đến việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên gây ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều người [32]. Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về tranh chấp môi trường. Theo Moore, tranh chấp môi trường là “…tình trạng căng thẳng, bất đồng, cãi lộn, tranh luận, cạnh tranh, thi đấu, xung đột hay cãi cọ về yếu tố nào đó của môi trường tự nhiên”.
Còn Susskind thì đề cập đến những tranh chấp môi trường như "…những bất đồng giữa các bên được hưởng quyền lợi trong phạm vi những tranh chấp công có liên quan đến chất lượng môi trường hay quản lý tài nguyên thiên nhiên” [87]. Trong một nghiên cứu về giải quyết những tranh chấp môi trường, Bingham không đưa ra định nghĩa về tranh 17 z chấp môi trường nhưng đã phân loại những tranh chấp được xem xét thành 6 dạng chung: sử dụng đất, quản lý tài nguyên thiên nhiên và sử dụng đất công, tài nguyên nước, năng lượng, chất lượng không khí và hóa chất độc hại [78]. Theo Đạo luật về giải quyết tranh chấp môi trường của Hàn Quốc, tranh chấp môi trường là xung đột liên quan đến thiệt hại về môi trường và xung đột liên quan đến quản lý các thành phần môi trường [101]. Ngay từ khi mới xuất hiện, tranh chấp môi trường đã được nhiều lĩnh vực khoa học quan tâm nghiên cứu, với những tiếp cận ban đầu là xung đột môi trường.
Khái niệm xung đột được định nghĩa như là "Một hoàn cảnh xã hội trong đó ít nhất có hai bên đấu tranh với nhau trong cùng thời điểm để đạt được một loại nguồn lực hiếm hoi nào đó"[109]. Định nghĩa này cũng có thể mang lại những giá trị nhất định trong việc nhận dạng xung đột môi trường. Các thành phần môi trường (đất, nước, không khí, rừng, .) đều có giới hạn và trở thành hiếm hoi. Khi đó, việc đấu tranh lẫn nhau để khai thác, sử dụng, giành lấy các yếu tố của môi trường, lợi ích của nó sẽ dẫn đến xung đột môi trường.
Xung đột môi trường trở thành tranh chấp môi trường khi đòi hỏi của các bên mang tính pháp lý. Xét từ khía cạnh lý luận thì xung đột môi trường là phạm trù có nội hàm rộng hơn tranh chấp môi trường [33]. Ở Việt Nam, từ giữa thập kỷ 80 trở lại đây, tranh chấp môi trường đã nảy sinh và có chiều hướng gia tăng trên phạm vi cả nước [49]. Nhiều đơn kiện đòi bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây nên, hoặc yêu cầu xem xét lại các dự án phát triển kinh tế, xã hội có nguy cơ tác động xấu đến môi trường được gửi tới các cấp có thẩm quyền.
Về mặt lý luận, một số tác giả cũng đã có những nghiên cứu về tranh chấp môi trường. Theo nhóm tác giả thuộc Bộ môn Luật Môi trường- Trường Đại học Luật Hà Nội, tranh chấp trong lĩnh vực BVMT là "Những mâu thuẫn, những bất đồng ý kiến của các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật môi trường khi họ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm"[34]. Theo tác giả Vũ 18 z Thu Hạnh, tranh chấp môi trường là những xung đột giữa các tổ chức, cá nhân, các cộng đồng dân cư về quyền và lợi ích liên quan đến việc phòng ngừa, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường; về việc khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn TN&MT; về quyền được sống trong môi trường trong lành và quyền được bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản do ô nhiễm môi trường gây nên [33]. Tính chất pháp lý của tranh chấp môi trường Trong khoa học pháp lý, tranh chấp môi trường là thuật ngữ có nguồn gốc từ thông lệ quốc tế, được hình thành qua thực tiễn xét xử các vụ khiếu kiện về môi trường vào đầu thế kỷ XX.
Thời kỳ đầu, các khiếu kiện về môi trường được gọi chung là án dân sự và giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Sau này người ta nhận thấy khó có thể xử lý các tranh chấp này theo phương pháp dân sự vì hầu hết các vụ kiện có nội dung liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật môi trường, xâm phạm quyền được sống trong môi trường trong lành, quyền được hưởng lợi ích từ các thành phần môi trường [33]. Các nước theo hệ thống luật dân sự (Civil Law System) như Pháp, Đức, Nhật tiếp cận tranh chấp môi trường theo hướng định tính hoá [84]. Theo cách này người ta không chỉ rõ các dạng cụ thể của tranh chấp mà dựa vào tiêu chí chủ thể tham gia tranh chấp, yếu tố tài sản (hàng hoá - tiền tệ) trong các quan hệ xung đột để xác định tính chất dân sự hay "phi dân sự" của tranh chấp môi trường, lấy đó làm căn cứ cho việc áp dụng các thủ tục tố tụng tương ứng để giải quyết tranh chấp.
Thủ tục tố tụng dân sự sẽ được áp dụng để giải quyết các tranh chấp giữa các cá nhân với cá nhân, cá nhân với tổ chức hay giữa các tổ chức với nhau nảy sinh từ việc đòi khôi phục các quyền và lợi ích về tài sản bị xâm hại do làm ô nhiễm môi trường gây nên, còn thủ tục tố tụng hành chính sẽ được áp dụng đối với các tranh chấp nảy sinh từ hoạt động quản lý hành chính về môi trường hoặc các tranh chấp đòi phục hồi trật tự công cộng trong lĩnh vực môi trường. 19 z Cách tiếp cận theo hệ thống luật dân sự thường chỉ phù hợp với những quan hệ xung đột có tính chất thuần tuý dân sự hoặc hành chính, cũng như chỉ phù hợp với những xung đột hoặc là lợi ích tư hoặc là lợi ích công. Còn đối với các quan hệ xung đột có biểu hiện phức tạp về tính chất, đa dạng về chủ thể, khác biệt về cơ sở phát sinh như trong lĩnh vực môi trường thì cách tiếp cận này sẽ gặp phải những trở ngại đáng kể. Thực tế không phải trong trường hợp nào cũng xác định được một cách chính xác tính chất dân sự hay phi dân sự trong một vụ tranh chấp môi trường và vì thế các cơ chế giải quyết tranh chấp thích hợp sẽ khó được xác định.
Các nước theo hệ thống luật án lệ (Common Law System) lại tiếp cận tranh chấp môi trường theo phân loại và lượng hoá, tức là chỉ rõ các dạng cụ thể của loại tranh chấp này thông qua việc xác định những hình thức hợp pháp của các vụ kiện về môi trường [78], [84]. Những hình thức đó là: Yêu cầu cưỡng chế dân sự các nghĩa vụ luật định; Yêu cầu xem xét lại theo thủ tục tư pháp tính hợp pháp của các quyết định hành chính về môi trường; Kiện đòi bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường; Yêu cầu kiểm tra tính hợp lí trong nội dung của các quyết định về môi trường; Yêu cầu cưỡng chế hình sự đối với người có hành vi vi phạm pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường và quyền lợi hợp pháp của công dân. Ưu điểm của cách tiếp cận theo hệ thống luật án lệ là cho phép người ta dễ dàng nhận diện các tranh chấp môi trường trong đời sống xã hội và phân biệt chúng với các dạng tranh chấp khác, từ đó có cơ sở để áp dụng cơ chế xử lý thích hợp đối với từng loại. Cũng theo cách này, những trở ngại trong quá trình giải quyết tranh chấp do không thể xác định được một cách chính xác tính chất dân sự hay phi dân sự trong một vụ khiếu kiện về môi trường sẽ được loại trừ.
Thêm nữa, tiếp cận tranh chấp theo tiêu chí khách thể xung đột còn là cách để chuyên môn hoá việc giải quyết tranh chấp. Những ưu điểm nêu trên đã phần nào lý giải cho sự hình thành và phát triển các Toà môi 20 z trường (Environmental Courts) và tính chuyên môn hoá cao độ của các thẩm phán môi trường tại nhiều nước theo hệ thống luật Anh- Mỹ. Về mặt pháp lý, thuật ngữ tranh chấp về môi trường được đề cập trong Luật BVMT năm 2005. Theo đó, nội dung của tranh chấp về môi trường bao gồm: Tranh chấp về quyền, trách nhiệm BVMT trong khai thác, sử dụng thành phần môi trường; Tranh chấp về việc xác định nguyên nhân gây ra ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường; Tranh chấp về trách nhiệm xử lý, khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường gây ra 43.
Nhìn chung, khái niệm về tranh chấp môi trường ở Việt Nam cần được nghiên cứu một cách toàn diện hơn cho phù hợp với hệ thống pháp luật, cơ chế giải quyết và những điều kiện thực tế. Phân loại tranh chấp môi trường do ô nhiễm không khí Những kết quả nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng có nhiều loại tranh chấp môi trường khác nhau, được phân chia theo các tiêu chí, mục đích nhất định. Trong đó, tranh chấp môi trường do ô nhiễm không khí được xác định là một trong 6 loại tranh chấp môi trường (Bringham, 1986) trong Bảng 1 [78].