Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nồng độ afp alpha feto protein và một số chỉ số hóa sinh trên bệnh nhân ung thư gan đến khám tại bệnh viện hữu nghị 14

Nghiên cứu nồng độ AFP và chỉ số hóa sinh trên bệnh nhân ung thư gan tại bệnh viện Hữu Nghị 14, cung cấp thông tin quan trọng cho chẩn đoán.

Trường đại học

Bệnh viện Hữu Nghị

Chuyên ngành

Y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

đề tài nghiên cứu
82
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đặc điểm chung ung thư biểu mô tế bào gan (HCC)

1.2. Tình hình mắc bệnh HCC trên thế giới

1.3. Tình hình mắc bệnh HCC ở Việt Nam

1.4. Cấu tạo, hình thái và chức năng của gan

1.5. Các nguyên nhân và những yếu tố nguy cơ gây bệnh HCC

1.6. Các phương pháp chẩn đoán và điều trị HCC

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

2.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán HCC

2.4. Tiêu chuẩn chẩn đoán xơ gan

2.5. Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm gan mạn

2.6. Tiêu chuẩn loại trừ

2.7. Phương pháp nghiên cứu

2.8. Cách lấy mẫu bệnh nhân nghiên cứu

2.9. Thiết kế nghiên cứu

2.10. Phương pháp định lượng AFP

2.11. Xử lý số liệu

2.12. Đạo đức nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân nghiên cứu

3.2. Tuổi của bệnh nhân ở các nhóm nghiên cứu

3.3. Giới tính của bệnh nhân ở các nhóm nghiên cứu

3.4. Đặc điểm bệnh nhân HCC theo thang điểm Child-Pugh

3.5. Đặc điểm một số chỉ số sinh hóa và đông máu ở bệnh nhân HCC

3.6. Tỷ lệ nhiễm virus viêm gan trên bệnh nhân HCC

3.7. Tỷ lệ xơ gan trong bệnh nhân HCC

3.8. Đặc điểm, kích thước u ở bệnh nhân HCC

3.9. Kết quả về nồng độ AFP

3.10. Phân phối tần suất của nồng độ AFP ở bệnh nhân HCC

3.11. Phân phối tần suất của nồng độ AFP ở bệnh nhân xơ gan

3.12. Phân phối tần suất của nồng độ AFP ở bệnh nhân viêm gan mạn

3.13. Giá trị nồng độ AFP ở các nhóm bệnh nhân

3.14. Đánh giá nồng độ AFP theo phân loại Child-Pugh

3.15. Đánh giá nồng độ AFP và số lượng u ở bệnh nhân HCC

3.16. Đánh giá nồng độ AFP và kích thước u ở bệnh nhân HCC

3.17. Nồng độ AFP theo tình trạng xơ gan ở bệnh nhân HCC

3.18. Ngưỡng của AFP trong chẩn đoán HCC

3.19. Mối tương quan giữa nồng độ AFP với các chỉ số hóa sinh, đông máu và đặc điểm khối u ở bệnh nhân HCC

3.20. Mối tương quan giữa nồng độ AFP với các chỉ số hóa sinh liên quan đến sự tổn thương gan

3.21. Mối tương quan giữa nồng độ AFP với các chỉ số hóa sinh liên quan đến chức năng gan

3.22. Mối tương quan giữa nồng độ AFP với phân loại Child-Pugh ở bệnh nhân HCC

3.23. Mối tương quan giữa nồng độ AFP với số lượng và kích thước u ở bệnh nhân HCC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nồng độ AFP trong ung thư gan

Nồng độ AFP (Alpha-Fetoprotein) là một chỉ số quan trọng trong việc chẩn đoán và theo dõi ung thư gan. AFP được sản xuất chủ yếu bởi gan trong giai đoạn phát triển bào thai, nhưng nồng độ của nó có thể tăng cao trong các trường hợp ung thư gan, đặc biệt là ung thư biểu mô tế bào gan (HCC). Việc nghiên cứu nồng độ AFP không chỉ giúp phát hiện sớm HCC mà còn hỗ trợ trong việc theo dõi tiến triển của bệnh và đánh giá hiệu quả điều trị. Nghiên cứu cho thấy rằng nồng độ AFP có thể phản ánh tình trạng bệnh lý của gan và có mối liên hệ chặt chẽ với các chỉ số hóa sinh khác.

1.1. Nồng độ AFP bình thường và tăng cao trong ung thư gan

Nồng độ AFP bình thường ở người trưởng thành thường dưới 10 ng/ml. Tuy nhiên, trong các trường hợp ung thư gan, nồng độ AFP có thể tăng lên đáng kể, thường vượt quá 400 ng/ml. Nghiên cứu cho thấy rằng nồng độ AFP cao có thể là dấu hiệu cảnh báo sớm về sự xuất hiện của HCC, giúp bác sĩ có thể can thiệp kịp thời.

1.2. Vai trò của AFP trong chẩn đoán ung thư gan

AFP được coi là một trong những chỉ số chính trong chẩn đoán ung thư gan. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng xét nghiệm AFP có độ nhạy và độ đặc hiệu cao trong việc phát hiện HCC, đặc biệt là ở những bệnh nhân có tiền sử viêm gan mạn tính. Việc sử dụng AFP trong chẩn đoán giúp giảm thiểu số lượng sinh thiết gan không cần thiết.

II. Thách thức trong việc sử dụng AFP để chẩn đoán ung thư gan

Mặc dù nồng độ AFP là một chỉ số quan trọng trong chẩn đoán ung thư gan, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc sử dụng nó. Một trong những vấn đề chính là sự biến đổi nồng độ AFP ở những bệnh nhân không mắc ung thư gan, như trong các trường hợp viêm gan mạn tính hoặc xơ gan. Điều này có thể dẫn đến những kết quả dương tính giả, gây khó khăn trong việc chẩn đoán chính xác.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến nồng độ AFP

Nồng độ AFP có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm tình trạng viêm gan, xơ gan, và thậm chí là một số bệnh lý khác. Điều này làm cho việc xác định ngưỡng chẩn đoán cho AFP trở nên phức tạp hơn, đòi hỏi các bác sĩ phải xem xét kỹ lưỡng các yếu tố lâm sàng khác.

2.2. Sự khác biệt trong ngưỡng AFP giữa các nghiên cứu

Nghiên cứu về nồng độ AFP cho thấy rằng ngưỡng chẩn đoán có thể khác nhau giữa các quốc gia và các nhóm dân cư. Điều này có thể do sự khác biệt trong phương pháp xét nghiệm, tiêu chuẩn chẩn đoán, và đặc điểm dịch tễ học của từng khu vực.

III. Phương pháp nghiên cứu nồng độ AFP trong ung thư gan

Để nghiên cứu nồng độ AFP trong ung thư gan, các phương pháp định lượng hiện đại được áp dụng. Các nghiên cứu thường sử dụng xét nghiệm miễn dịch để đo nồng độ AFP trong huyết thanh bệnh nhân. Phương pháp này cho phép phát hiện nồng độ AFP với độ nhạy và độ đặc hiệu cao, giúp bác sĩ có thể đưa ra chẩn đoán chính xác hơn.

3.1. Các phương pháp định lượng AFP hiện nay

Các phương pháp định lượng AFP bao gồm xét nghiệm miễn dịch enzyme liên kết (ELISA) và xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang. Những phương pháp này cho phép đo nồng độ AFP một cách chính xác và nhanh chóng, hỗ trợ trong việc chẩn đoán và theo dõi bệnh nhân HCC.

3.2. Thiết kế nghiên cứu và thu thập dữ liệu

Nghiên cứu thường được thiết kế theo phương pháp hồi cứu hoặc tiến cứu, trong đó bệnh nhân được chọn dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán HCC. Dữ liệu về nồng độ AFP, các chỉ số hóa sinh khác và thông tin lâm sàng sẽ được thu thập để phân tích mối liên hệ giữa nồng độ AFP và tình trạng bệnh lý.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nồng độ AFP trong ung thư gan

Nồng độ AFP không chỉ có giá trị trong chẩn đoán mà còn trong việc theo dõi tiến triển của bệnh và đánh giá hiệu quả điều trị. Việc theo dõi nồng độ AFP định kỳ có thể giúp phát hiện sớm sự tái phát của ung thư gan sau điều trị, từ đó cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân.

4.1. Theo dõi nồng độ AFP sau điều trị

Sau khi điều trị ung thư gan, nồng độ AFP cần được theo dõi định kỳ để phát hiện sớm sự tái phát. Nghiên cứu cho thấy rằng sự gia tăng nồng độ AFP sau điều trị có thể là dấu hiệu cảnh báo về sự tái phát của bệnh.

4.2. Mối liên hệ giữa nồng độ AFP và tiên lượng bệnh

Nồng độ AFP có thể phản ánh tình trạng bệnh lý của gan và có mối liên hệ chặt chẽ với tiên lượng bệnh. Nghiên cứu cho thấy rằng bệnh nhân có nồng độ AFP cao thường có tiên lượng xấu hơn so với những bệnh nhân có nồng độ AFP bình thường.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu nồng độ AFP trong ung thư gan

Nghiên cứu nồng độ AFP trong ung thư gan vẫn đang tiếp tục phát triển. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong việc sử dụng AFP như một chỉ số chẩn đoán, nhưng vẫn cần nhiều nghiên cứu hơn để xác định ngưỡng chẩn đoán chính xác và cải thiện độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm. Tương lai của nghiên cứu này có thể mở ra những hướng đi mới trong việc phát hiện và điều trị ung thư gan.

5.1. Hướng nghiên cứu mới trong việc cải thiện độ nhạy của AFP

Các nghiên cứu hiện tại đang tìm kiếm các biomarker mới có thể kết hợp với AFP để cải thiện độ nhạy và độ đặc hiệu trong chẩn đoán ung thư gan. Việc phát triển các xét nghiệm đa chỉ số có thể giúp nâng cao khả năng phát hiện sớm HCC.

5.2. Tương lai của việc sử dụng AFP trong điều trị ung thư gan

Nghiên cứu về vai trò của AFP trong điều trị ung thư gan cũng đang được quan tâm. Việc hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động của AFP có thể mở ra những cơ hội mới trong việc phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả hơn cho bệnh nhân HCC.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nồng độ afp alpha feto protein và một số chỉ số hóa sinh trên bệnh nhân ung thư gan đến khám tại bệnh viện hữu nghị 14

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính mỗi năm trên trái đất có hơn 12,7 triệu người mắc và 7,6 triệu người chết do ung thư. Trong đó ung thư gan là một thể ung thư ác tính có tỷ lệ gây tử vong cao hàng đầu trong các thể ung thư mà ung thư biểu mô tế bào gan (Heatocellular carcinoma - HCC) chiếm phần lớn trong ung thư gan. HCC là loại ung thư phổ biến đứng thư năm và là nguyên nhân đứng thứ ba gây tử vong do ung thư trên toàn thế giới.000 ca mới mắc và 600.000 người bị tử vong có liên quan HCC [37, 52, 62, 63].Trong đó, có khoảng ¾ số trường hợp xảy ra ở châu Á do tỉ lệ nhiễm virus viêm gan B (HBV) và viêm gan C (HCV) [52]. HCC chiếm hơn 80% ung thư gan nguyên phát [20, 50].

Ở Việt Nam, tần suất mắc ung thư gan là 20,8/100.000 dân, là một trong những ung thư hàng đầu ở cả hai giới [8, 28]. Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) là một loại ung thư ác tính tiến triển nhanh, tiên lượng xấu, thời gian sống sau khi mắc ngắn. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ khoa học, việc chẩn đoán sớm HCC vẫn còn khó khăn do đó hạn chế hiệu quả điều trị và thời gian sống trung bình kể từ khi chẩn đoán từ 6 đến 20 tháng [6]. Việc chẩn đoán phân biệt HCC với ung thư gan thứ phát, theo dõi sàng lọc HCC trên nền bệnh gan mạn tính (xơ gan, viêm gan mạn) cũng gặp nhiều khó khăn.

Một tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán HCC cho đến nay vẫn được công nhận là sinh thiết. Tuy vậy, thực tế lâm sàng cũng chỉ ra rất ít trường hợp HCC được chẩn đoán xác định dựa vào sinh thiết mà chủ yếu là dựa vào lâm sàng, cận lâm sàng và chuẩn đoán hình ảnh bởi vì các bất lợi của sinh thiết gan như chảy máu và một tỷ lệ nhất định tế bào ung thư lan theo đường kim sinh thiết [2, 18, 48]. Alpha-Fetoprotein (AFP) là một loại protein do gan tổng hợp ở giai đoạn phát triển bào thai, khi thai nhi ra đời thì gan ngừng tổng hợp được Abelev [31] phát hiện năm 1963 trên chuột nhắt bị ung thư gan thực nghiệm. Cùng thời gian này Tatarinov [73] tìm thấy AFP trên bệnh nhân HCC.

Từ đó cho đến nay AFP vẫn là chất chỉ điểm tốt nhất cho HCC theo các hướng dẫn quản lý HCC ở các nước châu 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Á -Thái Bình Dương [48]; Nhật Bản [70], châu Âu [30]; Anh [63], châu Mỹ [43]… Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu tìm ra các chất chỉ điểm mới có độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn như AFP ái lực với lectin (AFP-L3) [14, 67] hay Des-y- carboxyprothrombin (DCP) [33]… Giá trị trong quản lý của HCC của AFP vẫn còn rất nhiều bàn cãi kể từ khi phát hiện cho tới nay [39, 40]. Hơn nữa, ngưỡng (cut-off point) dùng trong AFP cho chẩn đoán HCC cũng rất khác nhau giữa các nhà nghiên cứu và các hướng dẫn quản lý HCC của các nước trên thế giới [39, 64]. Tuy nhiên hiện tại xét nghiệm AFP không những là chỉ tiêu hỗ trợ cho chẩn đoán sớm HCC mà còn có ý nghĩa trong việc điều trị, tiên lượng bệnh ung thư gan. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu nồng độ AFP (alpha- feto-protein) và một số chỉ số hóa sinh trên bệnh nhân ung thư gan đến khám tại bệnh viện Hữu Nghị” với hai mục tiêu sau: 1.

Khảo sát nồng độ Alpha – fetoprotein (AFP) ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) tại Bệnh viện Hữu Nghị. Tìm hiểu mối tương quan giữa nồng độ AFP với một số chỉ số hóa sinh ở những bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan (HCC). 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm chung ung thƣ biểu mô tế bào gan (HCC) 1.

Tình hình mắc bệnh HCC trên thế giới Ung thư gan là ung thư có tỷ lệ tử vong cao và sự phân bố địa lý của tỷ lệ tử vong tương tự như tỉ lệ mắc phải. Hầu hết ung thư gan xảy ra ở các nước đang phát triển, chiếm gần 85% [45]. Theo Cơ quan Quốc tế Nghiên cứu về ung thư (the International Agency for research on Cancer), ung thư gan là loại ung thư phổ biến thứ năm đối với nam giới trên toàn thế giới với 523.000 trường hợp/năm; chiếm 7,9% tổng các loại ung thư và đứng thứ bảy ở phụ nữ với 226.000 trường hợp/năm và chiếm 6,5% tổng các loại ung thư. Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) là bệnh lý gan-mật ác tính thường gặp nhất của ung thư gan (hơn 80%) [20, 44, 50] và hầu hết các trường hợp HCC (khoảng 80%) có liên quan đến virus viêm gan B (HBV) hoặc virus viêm gan C (HCV).

Những thay đổi về tỉ lệ của HCC theo độ tuổi, giới tính và chủng tộc ở các khu vực địa lý khác nhau cũng có liên quan mật thiết đến tỷ lệ nhiễm virus viêm gan trong quần thể cũng như thời gian lây nhiễm virus và độ tuổi của cá nhân tại thời điểm nhiễm virus viêm gan [41, 64].  Phân bố HCC theo địa lý Trên thế giới, tỷ lệ mắc HCC tại các nước đang phát triển cao hơn rất nhiều tại các nước phát triển. Tỷ lệ cao nhất mắc HCC thường nằm tại các nước Đông Á. Hầu hết các trường hợp HCC (>80%) xảy ra ở châu Phi cận Sahara và Đông Á, với tỷ lệ hơn 20/100.

Các nước châu Âu như Anh, Balan, Thụy Điển có tỷ lệ mắc HCC thấp (dưới 5/100.000 người) (hình 1. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phân bố HCC ở các vùng địa lý trên thế giới [44]. Các nghiên cứu nhận thấy có xu hướng thay đổi về tỷ lệ mắc bệnh trong vài thập kỷ gần đây.

Xu hướng tăng lên ở phương Tây như Hoa Kỳ, Canada. Hoa Kỳ từ 1,4/100.000 người (giai đoạn 1976-1980) đã tăng lên 2,4/100. Sự gia tăng này nguyên nhân có thể là do tỷ lệ nhiễm HCV và sự gia tăng người nhập cư từ những vùng nhiễm tỷ lệ HBV cao. Ngược lại ở các nước phương Đông như Trung Quốc, Singapore… lại có xu hướng giảm có lẽ do tăng cường các biện pháp phòng ngừa như tiêm vắc xin viêm gan B [44, 53, 65].

 Phân bố HCC theo tuổi Tuổi xuất hiện bệnh cũng thay đổi tùy theo các nước và vùng địa lý khác nhau. Ung thư gan ở những vùng có tỷ lệ cao như châu Á, châu Phi có tuổi trung bình thấp hơn 10 - 20 tuổi so với những vùng có tỷ lệ mắc thấp như Bắc Mỹ, Bắc Âu, Quảng Đông - Trung Quốc tỷ lệ ung thư gan cao nhất nhóm 45-55 tuổi, Tây Âu tỷ lệ cao nhất 61,4 tuổi [20, 65]. Điều này có thể lý giải do lứa tuổi phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ khác nhau giữa các vùng địa lý. Còn 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ở Nhật Bản và các nước phương Tây tỉ lệ nhiễm HCV nhiều hơn HBV và đường lây truyền qua máu sẽ xuất hiện ở lứa tuổi lớn hơn.

 Phân bố HCC theo giới Nam giới bị ung thư gan nhiều hơn nữ giới ở tất cả các vùng địa lý trên thế giới thường cao gấp từ 2 đến 10 lần và tỷ lệ nam/nữ có xu hướng cao hơn ở những vùng có tỷ lệ mắc cao (hình 1. Nguyên nhân có thể được lý giải là do nam giới thường phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ nhiều hơn: HBV, HCV, rượu, thuốc là… [20]. Hormon giới tính testosteron cũng được chỉ ra là một yếu tố liên quan đến HCC. Tình hình mắc bệnh HCC ở Việt Nam Tại Việt Nam chưa có một thống kê đầy đủ về tỷ lệ các bệnh ung thư trên toàn quốc.

Tuy nhiên, các thống kê tại các bệnh viện và các khu vực cho thấy ung thư gan là một trong những thể ung thư phổ biến trên cả nước. Trần Văn Thuấn và cộng sự nghiên cứu dịch tễ học về ung thư tại Hà Nội giai đoạn 2001-2005 cho thấy ung thư gan đứng thứ ba ở nam giới sau ung thư phế quản phổi và dạ dày, thứ chín ở phụ nữ sau ung thư vú, dạ dày, phế quản, phổi, đại trực tràng, cổ tử cung, tuyến giáp, hạch buồng trứng [28]. Cũng qua ghi nhận ung thư tại Hà Nội giai đoạn 2001- 2010, tỷ lệ mắc ung thư gan chuẩn theo tuổi ở nam giới là 22,6/100.000 dân còn ở nữ giới là 6,3/100. Tỷ lệ mắc ung thư gan nam/nữ là 3,59 lần [7].

Theo thống kê của Trung tâm Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh (2009), ung thư gan nguyên phát chiếm hàng đầu trong các loại ung thư ở nam (21,4%) và là một trong hai loại ung thư dẫn đầu tính chung cho cả hai giới (13,5%). Tần suất ung thư gan tại Thành phố Hồ Chí Minh là 38,2/100.000 dân cao hơn các nước trong khu vực như Philipine: 12,1/100. Ở châu Á và châu Phi phần lớn bị nhiễm virus viêm gan B từ mẹ hoặc từ lúc còn nhỏ nên tỷ lệ trở thành viêm gan B mạn tính rất cao dẫn đến tỷ lệ mắc ung thư gan cao hơn các nước có tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B thấp. Theo ước tính thống kê dịch tễ viêm gan virus và ung thư gan toàn cầu (hình 1.1) chỉ ra tần suất ung thư gan ở Việt Nam là 29,5/100.000 dân và tỉ lệ nam/nữ là 4,1[44].

Như vậy tỷ lệ ung thư gan ở nước ta chiếm tỷ lệ cao điều 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com này cũng phù hợp vì nước ta cũng có những đặc điểm dịch tễ học phù hợp với khu vực Đông Nam Á nơi có tỷ lệ nhiễm viêm gan B cao. Các nghiên cứu của các tác giả đều chỉ ra rằng HCC phổ biến tại Việt Nam ở lứa tuổi 40-60; tỷ lệ nam/nữ khoảng 3-7; và tỷ lệ bệnh nhân HCC có kháng nguyên bề mặt virus viêm gan B: HbsAg(+) là khoảng 60-90% [1, 9, 10]. Còn bệnh nhân HCC có xét nghiệm anti HCV (+) 5-25% [12, 13, 26]. Cấu tạo, hình thái và chức năng của gan  Cấu tạo, hình thái gan Gan là một bộ phận cơ thể nằm trong ổ bụng, dưới vòng hoành phải nhưng có một phần lấn sang thượng vị và dưới hoành trái.

Đối chiếu lên thành ngực, bờ trên gan và khoảng liên sườn IV đường giữa đòn phải; bờ dưới gan chạy dọc bờ sườn phải. Gan gồm có hai thùy, thùy phải và thùy trái, được phân chia bởi dây chằng liềm ở mặt trước của gan. Gan cấu tạo bởi bao gan ở ngoài, bên trong là nhu mô gan, các mạch máu và đường mật của gan [24]. Gan nhận máu từ hai nguồn là động mạch gan riêng và tĩnh mạch chủ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ