Tổng quan nghiên cứu

Trong xu thế toàn cầu hóa giáo dục ngôn ngữ thế kỷ 21, việc giảng dạy tiếng Anh không còn giới hạn ở mục tiêu giúp người học nắm vững ngữ pháp hay thành thạo 4 kỹ năng ngôn ngữ đơn thuần, mà hướng tới việc trang bị Năng lực Giao tiếp Liên văn hóa (Intercultural Communication Competence - ICC). Thực tế giảng dạy tại các trường trung học phổ thông Việt Nam cho thấy khoảng 70% đến 80% thời lượng trên lớp vẫn tập trung vào việc luyện đề và truyền thụ kiến thức ngôn ngữ chuẩn bản ngữ Anh - Mỹ. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Phương pháp Giảng dạy Tiếng Anh (mã số 8140231.01) của tác giả Hoàng Thị Hiền, thực hiện năm 2019 dưới sự hướng dẫn của Phó Giáo sư - Tiến sĩ Lê Văn Canh tại Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội, đã tập trung giải quyết trực diện khoảng trống học thuật này.

Nghiên cứu được triển khai tại một trường trung học phổ thông công lập trên địa bàn tỉnh Phú Thọ – ngôi trường có bề dày hơn 50 năm phát triển với quy mô gần 900 học sinh chia thành 21 lớp và 48 cán bộ giáo viên. Mục tiêu cốt lõi của đề tài là khảo sát nhận thức thực tế của giáo viên về khái niệm và tầm quan trọng của ICC, đồng thời phân tích cách thức giáo viên chuyển hóa các niềm tin sư phạm đó vào quá trình thực hành giảng dạy trên lớp. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong bối cảnh ngành giáo dục đang triển khai song song hai bộ sách giáo khoa (chương trình 7 năm hệ 3 năm THPT và chương trình thí điểm mới 10 năm), góp phần cung cấp bằng chứng thực nghiệm giá trị nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo công dân toàn cầu cho khu vực trung du, miền núi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng nền tảng lý luận vững chắc dựa trên sự kết hợp của 4 khung lý thuyết kinh điển về ngôn ngữ học và văn hóa học ứng dụng:

Thứ nhất, Giả thuyết Sapir-Whorf và lý thuyết mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ và văn hóa của Claire Kramsch (năm 1998). Lý thuyết này khẳng định ngôn ngữ là hiện thân, biểu tượng và công cụ phản ánh thực tại văn hóa; học một ngôn ngữ mới không thể tách rời việc tiếp nhận nền văn hóa gắn liền với ngôn ngữ đó.

Thứ hai, Mô hình Năng lực Giao tiếp Liên văn hóa của Michael Byram (năm 1997). Mô hình phân tách ICC thành 4 thành tố cốt lõi (Saviors): Kiến thức (Knowledge - hiểu biết về các nhóm xã hội và quy chuẩn), Kỹ năng (Skills - bao gồm kỹ năng diễn giải, liên hệ và khám phá), Thái độ (Attitudes - sự cởi mở, sẵn sàng loại bỏ định kiến) và Nhận thức văn hóa phản biện (Critical Cultural Awareness).

Thứ ba, Khung năng lực A+ASK của Alvino E. Fantini (năm 2000). Mô hình đặt Nhận thức (Awareness) vào vị trí trung tâm, được bao quanh bởi 3 yếu tố: Thái độ (Attitudes), Kỹ năng (Skills), Kiến thức (Knowledge) cùng với Năng lực ngôn ngữ đích (Language Proficiency).

Thứ tư, Lý thuyết Tiếng Anh như một Ngôn ngữ Quốc tế (English as an International Language - EIL) và Tiếng Anh như Ngôn ngữ Giao tiếp Chung (English as a Lingua Franca - ELF). Quan điểm này mở rộng phạm vi tiếp cận văn hóa vượt ra ngoài khuôn khổ các quốc gia bản ngữ (Anh, Mỹ, Úc) để bao hàm cả văn hóa bản địa (C1), văn hóa mục tiêu (C2) và văn hóa quốc tế (C3).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng phương pháp định tính chuyên sâu thông qua kỹ thuật nghiên cứu khảo sát trường hợp. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm toàn bộ 6 giáo viên tiếng Anh đang trực tiếp giảng dạy tại trường THPT khảo sát, bao gồm 2 giáo viên nam và 4 giáo viên nữ. Độ tuổi của người tham gia dao động từ 32 đến 52 tuổi, với thâm niên công tác từ 8 năm đến 28 năm, trong đó có 1 giáo viên từng được đào tạo chuyển đổi từ chuyên ngành tiếng Nga sang tiếng Anh. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm thu thập dữ liệu sâu sắc, chân thực từ những người có trải nghiệm thực tế đa dạng với cả hai chương trình sách giáo khoa.

Công cụ thu thập dữ liệu chính là các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc 1-1, được tiến hành hoàn toàn bằng tiếng Việt nhằm tạo không khí cởi mở và loại bỏ rào cản diễn đạt. Toàn bộ các buổi phỏng vấn kéo dài từ 30 đến 45 phút đều được ghi âm, gỡ băng và dịch thuật sang tiếng Anh phục vụ phân tích. Tác giả áp dụng phương pháp phân tích nội dung (Content Analysis) kết hợp hệ thống mã hóa chủ đề dựa trên mục tiêu nghiên cứu và các tiêu chí lý thuyết của Byram và Fantini, bảo đảm độ tin cậy và hạn chế tối đa tính chủ quan của nhà nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu định tính từ 6 giáo viên tham gia khảo sát mang lại 4 phát hiện quan trọng:

  1. Nhận thức tích cực nhưng phiến diện về văn hóa: 100% (6/6) giáo viên khẳng định văn hóa đóng vai trò thiết yếu trong việc dạy học ngoại ngữ. Tuy nhiên, 83.3% (5/6) giáo viên chỉ liên tưởng văn hóa với các yếu tố phong tục, lễ hội, lịch sử của các quốc gia bản ngữ (như Anh và Mỹ), trong khi chỉ có 16.7% (1/6) giáo viên ý thức được tầm quan trọng của việc dạy văn hóa bản địa Việt Nam song song để đối chiếu.

  2. Sự mơ hồ về khái niệm cấu thành ICC: Dù 100% giáo viên đều hiểu sơ bộ ICC là khả năng giao tiếp giữa các nền văn hóa, nhưng 0% (0/6) giáo viên liệt kê được đầy đủ các thành tố của mô hình A+ASK. Giáo viên tập trung gần như tuyệt đối vào yếu tố Kiến thức ngôn ngữ (từ vựng, ngữ pháp), hoàn toàn bỏ quên hai thành tố cốt lõi là Thái độ (sự thấu cảm, cởi mở) và Nhận thức phản biện liên văn hóa.

  3. Mục tiêu giảng dạy bị chi phối bởi thi cử: Khi so sánh mục tiêu ELT truyền thống và hiện đại, 100% (6/6) giáo viên xác định phát triển 4 kỹ năng giao tiếp là mục tiêu hàng đầu, nhưng trong thực tế có đến 66.7% (4/6) thừa nhận áp lực từ kỳ thi THPT Quốc gia buộc họ phải dành hơn 70% thời lượng cho việc luyện ngữ pháp và cấu trúc viết.

  4. Sự chênh lệch giữa niềm tin và thực hành: Tất cả giáo viên đều cho biết có lồng ghép văn hóa vào bài dạy, nhưng việc tích hợp chỉ diễn ra hạn chế ở phần "Communication and Culture" (chỉ có trong bộ sách thí điểm gồm 10 bài/năm học, trong khi bộ sách 7 năm gồm 16 bài/năm học hoàn toàn thiếu vắng học phần này).

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu được hệ thống hóa trực quan qua 3 bảng tổng hợp trong luận văn: Bảng 1 phân tích nhận thức về văn hóa, Bảng 2 so sánh mục tiêu ELT trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, và Bảng 3 đối chiếu các thành tố ICC theo nhận định của từng giáo viên.

Kết quả cho thấy tồn tại một khoảng cách lớn giữa nhận thức lý thuyết và hành vi sư phạm thực tế. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ việc giáo viên chỉ được tham gia duy nhất 1 khóa tập huấn chuyên môn ngắn hạn kéo dài 2 đến 3 ngày mỗi năm do Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức, nơi nội dung về ICC hầu như chưa được đào tạo bài bản. Thêm vào đó, thời lượng giảng dạy chính khóa bị giới hạn (3 tiết/tuần), kèm theo các buổi học tăng cường buổi chiều kéo dài 2 giờ hoàn toàn dành cho luyện bài tập ngữ pháp, khiến giáo viên không có đủ không gian sư phạm để tổ chức các hoạt động trải nghiệm văn hóa như đóng vai, thảo luận tình huống xung đột văn hóa hay dự án đa văn hóa. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu của Aleksandrowicz-Pędich (2003) tại châu Âu và Osman (2015) tại Ả Rập Xê Út, khẳng định rào cản chương trình và kiểm tra đánh giá là thách thức mang tính toàn cầu trong việc tích hợp ICC.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thu hẹp khoảng cách giữa niềm tin và thực hành giảng dạy ICC tại bậc trung học phổ thông, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Cải cách chương trình bồi dưỡng giáo viên: Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Phú Thọ cùng các cơ sở đào tạo sư phạm cần nâng thời lượng tập huấn chuyên môn từ 2-3 ngày hiện tại lên các khóa bồi dưỡng định kỳ 20-30 giờ/năm, tập trung trang bị kiến thức chuyên sâu về mô hình A+ASK và phương pháp tích hợp liên văn hóa cho 100% giáo viên tiếng Anh trên địa bàn.

  2. Đổi mới định dạng kiểm tra và đánh giá: Bộ Giáo dục và Đào tạo cần điều chỉnh cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT và các kỳ thi định kỳ, dành ít nhất 15% đến 20% số lượng câu hỏi để kiểm tra năng lực hiểu biết ngữ cảnh văn hóa, kỹ năng xử lý tình huống thực tế và năng lực ngữ dụng học thay vì chỉ thuần túy kiểm tra ngữ pháp quy chuẩn.

  3. Ứng dụng các kỹ thuật sư phạm đa dạng trong lớp học: Giáo viên tiếng Anh cần chủ động áp dụng các phương pháp giảng dạy năng động theo gợi ý của Eva Reid (2015) như: phương pháp đảo ngược văn hóa (Cultural Capsule), giải quyết xung đột giao tiếp (Culture Assimilators), đóng vai (Role-play), và nghiên cứu tình huống so sánh văn hóa định kỳ 2 tuần/lần trong các tiết tự chọn.

  4. Khai thác và phát triển học liệu bổ trợ: Ban giám hiệu nhà trường cần đầu tư tài liệu đa phương tiện, khuyến khích tổ chuyên môn xây dựng ngân hàng tài liệu trực tuyến gồm các video tình huống, thành lập câu lạc bộ nói tiếng Anh và tổ chức ngày hội văn hóa quốc tế mỗi học kỳ 1 lần nhằm tạo môi trường giao lưu văn hóa thực tế cho học sinh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Giáo viên tiếng Anh bậc THPT: Cung cấp khung năng lực chuẩn để tự đánh giá nhận thức sư phạm, từ đó tái cấu trúc giáo án và áp dụng linh hoạt các kỹ thuật lồng ghép văn hóa trong từng bài giảng.
  2. Cán bộ quản lý và chuyên viên Sở/Phòng Giáo dục: Sử dụng làm căn cứ thực tế để hoạch định các chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu, nâng cao năng lực sư phạm liên văn hóa cho đội ngũ giáo viên địa phương.
  3. Chuyên gia biên soạn sách giáo khoa và phát triển chương trình: Tham khảo các phân tích thực tế về sự khác biệt giữa bộ sách 7 năm và bộ sách thí điểm 10 năm để hoàn thiện nội dung các bài học văn hóa (Communication and Culture) cân bằng giữa văn hóa bản địa và quốc tế.
  4. Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành TESOL/Lý luận giảng dạy tiếng Anh: Kế thừa khung phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc, quy trình mã hóa định tính và hệ thống tài liệu tham khảo phong phú để mở rộng nghiên cứu sang các địa bàn và cấp học khác.

Câu hỏi thường gặp

1. Năng lực giao tiếp liên văn hóa (ICC) khác gì so với năng lực giao tiếp truyền thống (CC)? Năng lực giao tiếp truyền thống (CC) chủ yếu nhấn mạnh việc sử dụng ngôn ngữ chính xác và trôi chảy theo chuẩn người bản ngữ (Anh, Mỹ). Trong khi đó, ICC theo Michael Byram (1997) mở rộng mục tiêu hướng tới việc hiểu biết, tôn trọng, giải quyết xung đột và làm cầu nối hòa giải giữa các nền văn hóa khác nhau trên phạm vi toàn cầu.

2. Tại sao giáo viên THPT tại Phú Thọ lại gặp khó khăn khi dạy ICC? Dữ liệu từ 6 cuộc phỏng vấn cho thấy có 2 nguyên nhân cốt lõi: giáo viên thiếu cơ hội tiếp cận các khóa đào tạo chuyên sâu về ICC (chỉ có 1 khóa tập huấn 2-3 ngày/năm), đồng thời chịu áp lực nặng nề từ các kỳ thi tốt nghiệp quốc gia vốn chỉ tập trung 100% vào bài tập viết, đọc hiểu và ngữ pháp.

3. Khung lý thuyết nào được tác giả đánh giá cao nhất trong nghiên cứu này? Tác giả đặc biệt ủng hộ mô hình A+ASK của Alvino E. Fantini (2000) vì mô hình này đặt Nhận thức (Awareness) làm trung tâm chỉ đạo cho 3 yếu tố Thái độ (Attitudes), Kỹ năng (Skills), Kiến thức (Knowledge) cùng với Năng lực ngôn ngữ đích.

4. Hai bộ sách giáo khoa được sử dụng tại trường có điểm gì khác nhau về nội dung văn hóa? Bộ sách 7 năm (16 bài/lớp) hầu như chỉ tập trung vào 4 kỹ năng và điểm ngữ pháp, thiếu hẳn phần văn hóa độc lập. Ngược lại, bộ sách thí điểm 10 năm (10 bài/lớp) đã tích hợp riêng mục "Communication and Culture" ở tiết thứ 7 trong mỗi đơn vị bài học.

5. Giáo viên có cần thay đổi toàn bộ phương pháp dạy học để tích hợp ICC không? Không cần thay đổi toàn bộ. Theo tổng kết nghiên cứu, giáo viên chỉ cần lồng ghép linh hoạt các kỹ thuật bổ trợ ngắn như so sánh văn hóa, đóng vai xử lý tình huống hiểu lầm hoặc chiếu các đoạn phim tư liệu ngắn 5-10 phút vào cấu trúc bài học hiện có.

Kết luận

  • Luận văn đã xác định rõ nét thực trạng nhận thức của giáo viên THPT về ICC: dù có thái độ rất tích cực nhưng hiểu biết về các thành tố cấu thành (nhất là nhận thức và thái độ) vẫn còn nhiều hạn chế.
  • Chỉ ra sự thiếu đồng bộ rõ rệt giữa niềm tin sư phạm và thực tiễn triển khai trong lớp học, chịu tác động tiêu cực từ định hướng thi cử nặng tính ngữ pháp lý thuyết.
  • Đóng góp nguồn dữ liệu định tính thực nghiệm quý giá về việc giảng dạy tiếng Anh như một ngôn ngữ giao tiếp chung (ELF) tại khu vực trung du miền núi phía Bắc Việt Nam.
  • Đề xuất các giải pháp khả thi, đồng bộ từ khâu bồi dưỡng chuyên môn 20-30 giờ/năm, đổi mới cấu trúc đề thi định kỳ cho đến cải tiến kỹ thuật sư phạm vi mô.
  • Mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo nhằm mở rộng cỡ mẫu khảo sát, kết hợp quan sát lớp học thực tế và đo lường sự chuyển biến trong năng lực liên văn hóa của học sinh phổ thông.