CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 1. Các nghiên cứu nước ngoài 1. Các nghiên cứu về lợi ích, bất lợi và thách thức của IFRS Whittington (2005) cho rằng IAS/IFRS được phát triển là nhằm vào nhu cầu thông tin trên BCTC của thị trường vốn với mục tiêu là tìm ra một ngôn ngữ kế toán chung, làm giảm bớt sự đa dạng hóa của kế toán, tạo sự thuận lợi cho các doanh nghiệp đa quốc gia trong việc hợp nhất báo cáo và cung cấp được nhiều thông tin hơn cho nhà đầu tư. Từ đó, làm gia tăng uy tín của doanh nghiệp trên thị trường vốn quốc tế.
Ngoài ra, các quốc gia chưa có CMKT địa phương thì cũng nhận được lợi ích khi không còn phải tốn kém thêm chi phí để nghiên cứu, xây dựng CMKT của riêng mình. Dù vậy, mỗi quốc gia cũng có các vấn đề của riêng họ, dẫn tới việc họ có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận một hoặc nhiều khía cạnh của IAS/IFRS và khiến cho khả năng so sánh BCTC quốc tế bị ảnh hưởng. Cụ thể, IAS số 32 và 39 là 2 chuẩn mực gặp phải vấn đề này do sự phản đối từ các ngân hàng trong khối EU. Sau cùng, vai trò lớn nhất của bộ chuẩn mực là hướng tới các lợi ích ban đầu mà mục tiêu thành lập được đặt ra trước đó, việc bóp méo thông tin kế toán có thể đem lại lợi ích trong ngắn hạn, nhưng về lâu dài sẽ gây tổn hại cho sự phát triển của kinh tế và đó cũng là lý do cho sự ra đời của IAS/IFRS ngày nay.
Eierle và Haller (2009) sau khi thực hiện một nghiên cứu nhằm khám phá tính phù hợp của IFRS for SMEs đối với 410 DNNVV tại Đức. Các khía cạnh của nghiên cứu bao gồm: Quy mô doanh nghiệp, Các cân nhắc về lợi ích và Các cân nhắc về chi phí. Kết quả phân tích đã chỉ ra ngày càng có nhiều các doanh nghiệp có các hoạt động xuyên biên giới nhưng họ lại không cảm thấy việc cung cấp BCTC cho các nhà cung cấp, khách hàng là điều cần thiết. Những người tham gia khảo sát cho rằng lợi ích mà IFRS for SMEs mang lại không thực sự đáng kể đối với họ.
Ngoài ra, các chủ doanh nghiệp cũng không thường tham gia vào các vấn đề quản lý của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu gắn với nhân tố Quy mô, các DNNVV có các hoạt động quốc tế và có quy mô càng lớn thì càng có nhu cầu áp dụng IFRS for SMEs để cung cấp 10 BCTC có thể so sánh được do còn có các chủ sở hữu khác bên ngoài. Bên cạnh đó, IFRS for SMEs có nhiều chủ đề mà 2/3 số người trả lời khảo sát cho rằng họ rất ít khi áp dụng hoặc không bao giờ áp dụng, điều này khiến độ phức tạp của IFRS for SMEs bị tăng lên. Về mặt nhân sự, có gần 20% các kế toán trưởng, CFO có kiến thức tốt về IFRS for SMEs nhưng đối với nhân viên kế toán thông thường chỉ có 13%.
Điều này cho thấy sự hiểu biết về IFRS for SMEs của doanh nghiệp vẫn còn hạn chế và có xu hướng thay đổi tích cực theo nhân tố Quy mô. Hạn chế của nghiên cứu là đối tượng nghiên cứu chỉ hướng đến các doanh nghiệp thỏa mãn tiêu chí xếp loại DNNVV của Đức. Do đó, kết quả nghiên cứu có thể sai lệch nếu áp dụng ở các quốc gia khác do sự không đồng nhất về văn hóa và tiêu chí xếp loại DNNVV. Madawaki (2012) đã thực hiện một nghiên cứu tập trung vào quá trình áp dụng IFRS ở Nigeria.
Các khía cạnh được tác giả nghiên cứu bao gồm: Lợi ích, Thách thức khi áp dụng IFRS, Huấn luyện và đào tạo kế toán, Nguồn lực đào tạo, Báo cáo thuế và Sửa đổi luật hiện hành. Dựa theo kết quả đạt được, tác giả đã nhận định về các Lợi ích của CMKT quốc tế như làm giảm chi phí, phân bổ hiệu quả nguồn vốn, phát triển thị trường vốn, tăng tính thanh khoản, giá trị thị trường, nâng cao khả năng so sánh và cải thiện tính minh bạch của BCTC. Đối với các Thách thức khi áp dụng IFRS, việc áp dụng IFRS đòi hỏi phải có sự phối hợp và truyền đạt đến các đối tượng tiếp nhận một cách hiệu quả. Để đạt được điều này thì điều cần thiết là phải nâng cao nhận thức về những tác động tiềm ẩn khi áp dụng IFRS.
Việc áp dụng IFRS yêu cầu các quốc gia phải có những sự chuẩn bị và tổ chức thật kỹ lưỡng để đảm bảo tính nhất quán và cung cấp rõ ràng về mức độ ảnh hưởng mà IFRS sẽ tác động đến các luật hiện hành. Ngoài ra, để có thể vận dụng tốt IFRS, người lập và trình bày BCTC phải có năng lực chuyên môn thật tốt. Thêm vào đó, bản thân người sử dụng BCTC như kiểm toán viên, các cơ quan quản lý cũng phải được trang bị đầy đủ kiến thức về IFRS. Tùy thuộc vào mức độ tiếp cận và áp dụng của mỗi quốc gia mà điều kiện về năng lực sẽ cần nhiều hay ít.
Tại Nigeria, các doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc tuyển dụng các kế toán, kiểm toán viên có đủ năng lực để thực thi IFRS. Khoản thời gian giữa ngày quyết định và ngày chính thức triển khai là không đủ dài để đào 11 tạo nguồn nhân lực phục vụ cho IFRS. Tuy nhiên, vấn đề này không chỉ xảy ra với doanh nghiệp mà các cơ quan chính phủ, nhà phân tích tài chính, các giảng viên kế toán đều đang cần phải bổ sung kiến thức nhưng tài liệu để đào tạo IFRS là không có sẵn với một khoản chi phí hợp lý. Ngoài ra, việc áp dụng IFRS cũng đòi hỏi phải thay đổi các quy định liên quan đến luật quản lý thuế, các quy tắc về thuế sẽ phải được xác định lại để phù hợp với IFRS.
Một số quy định hiện hành không được IFRS thừa nhận và các kế toán viên muốn tuân thủ IFRS thì phải bỏ qua chúng, điều này khiến các nhà làm luật Nigeria phải sửa đổi để đảm bảo quá trình chuyển đổi IFRS diễn ra suôn sẻ mà không có sự tranh cãi. Hạn chế của nghiên cứu là không đề cập rõ phạm vi và đối tượng nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức tổng quan, đánh giá. Nguồn dữ liệu thu thập còn hạn chế, chưa có sự tham khảo ý kiến từ các chuyên gia hay người hành nghề kế toán, kiểm toán.
Moqbel và các cộng sự (2013) đã thực hiện một nghiên cứu nhằm đánh giá sự hiểu biết, nhận thức lợi ích và rủi ro của 84 học giả Hoa Kỳ (sinh viên, giáo sư kế toán, kiểm toán, các kế toán viên, kiểm toán viên, CPA và nhà phân tích tài chính) về IFRS với 4 giả thuyết nghiên cứu gồm Tính hữu ích (tích cực), Sự quen thuộc với IFRS (tích cực và tiêu cực) và Nhận thức rủi ro (tiêu cực). Kết quả nghiên cứu cho thấy cả 4 giả thuyết đều được chấp nhận và nhân tố Nhận thức rủi ro có tác động lớn nhất đến Mức độ sẵn sàng. Nhóm tác giả cho rằng, để tạo được sự thuận lợi cho doanh nghiệp áp dụng IFRS thì các quốc gia cần phải giải quyết quyết được các rủi ro mà họ nhìn thấy và nhận thức được bằng cách tăng cường sự quen thuộc và hiểu biết đúng đắn về những lợi ích mà IFRS mang lại, đưa IFRS vào chương trình giáo dục bậc đại học, khóa đào tạo kế toán ngắn hạn hoặc thông qua các phương tiện truyền thông để giúp phát triển các kỹ năng và kiến thức của họ về IFRS. Hạn chế của nghiên cứu là kích thước mẫu còn khá nhỏ.
Kết quả chỉ dừng lại ở mức tham khảo, khi gia tăng cỡ mẫu thì kết quả có thể sẽ thay đổi. Uyar và Güngörmüş (2013) đã thực hiện một nghiên cứu khám phá nhằm kiểm tra nhận thức và kiến thức của 128 kế toán viên chuyên nghiệp về IFRS và IFRS for SMEs tại Thổ Nhĩ Kỳ. Kết quả khảo sát cho thấy các lợi ích khi áp dụng IFRS for 12 SMEs được nhận định bao gồm: Tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn, Khả năng so sánh BCTC, Gia tăng độ tin cậy của BCTC, Hiệu quả trong việc kiểm toán, Tạo thuận lợi cho các tổ chức xếp hạng tín nhiệm trong việc đánh giá các DNNVV, Dễ dàng chuyển đổi sang IFRS đầy đủ khi cần thiết và Gia tăng hiệu quả hoạt động quốc tế. Ở chiều ngược lại, hầu hết những người được hỏi không nhận thức được một cách rõ ràng về sự khác biệt giữa IFRS đầy đủ và IFRS for SMEs.
Những người có thể nhận ra được sự khác biệt giữa 2 nhóm chuẩn mực tập trung vào những người đã qua đào tạo về IFRS for SMEs và trình độ học vấn càng cao thì càng hiểu biết càng rõ, các nhân viên làm việc cho Big 4 thì hiểu biết tốt hơn Non-Big 4. Về vấn đào tạo về IFRS for SMEs, hơn 59% số người được khảo sát cho rằng thời lượng đào tạo cần kéo dài hơn 40 giờ để họ có thể làm quen với bộ chuẩn mực mới. Hạn chế của nghiên cứu là không đề cập đến lý thuyết nền hỗ trợ và cỡ mẫu khảo sát vẫn còn khá nhỏ. Ocansey và Enahoro (2014) đã thực hiện một nghiên cứu khám phá nhằm so sánh việc áp dụng IFRS của Ghana và Nigeria trong bối cảnh 2 quốc gia này là đối tác thương mại của nhau nhưng thời điểm áp dụng IFRS thì lại khác nhau.
Những lợi ích từ việc áp dụng IFRS được chỉ ra bao gồm: Giảm chi phí vốn, Phân bổ vốn hiệu quả, Dễ dàng huy động, Thu hút vốn quốc tế, Phát triển thị trường và Tăng cường khả năng so sánh cũng như cải thiện tính minh bạch của BCTC. Bên cạnh những lợi ích, các nhân tố thách thức như thiếu hụt kiến thức, vấn đề giáo dục, hệ thống thuế phức tạp và các cơ chế thực thi sẽ là rào cản đối với các doanh nghiệp khi áp dụng IFRS. Ngoài ra, nhóm tác giả cũng cho rằng IFRS sẽ phù hợp hơn với các doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn hoặc các doanh nghiệp có công ty con ở nước ngoài, đang tìm kiếm nguồn tài chính quốc tế. Ngược lại, các doanh nghiệp nhỏ có thể sẽ gặp nhiều trở ngại hơn đặc biệt là trong các quy định về thuế và duy trì vốn dẫn tới chi phí áp dụng lớn hơn lợi ích mang lại.
Mặt khác, Ghana và Nigeria là 2 nước đã có bộ CMKT quốc gia trước khi áp dụng IFRS, do đó nó có thể giúp họ giảm bớt khó khăn khi chuyển đổi hơn so với các nước chưa có bộ chuẩn mực của riêng mình.