CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Lược sử về quá trình hội tụ kế toán quốc tế Ý tưởng về việc hội tụ các chuẩn mực kế toán hình thành nên bộ chuẩn mực kế toán quốc tế được đề cập đến trong Đại hội Kế toán Quốc tế đầu tiên tổ chức tại St Louis năm 1904. Năm 1957, khi Đại hội Kế toán Quốc tế lần thứ 7 tổ chức tại Amsterdam, ông Jacobkraayenhof, đã phát biểu về nhu cầu hợp nhất thành hệ chuẩn mực kế toán quốc tế. Sau năm 1966, các cuộc thảo luận đã được thực hiện trong số các cơ quan chuyên nghiệp khác nhau như: Viện Kế toán công chứng Anh và xứ Wales, Viện kế toán công chứng Canada và Hiệp hội các Viện Kế toán Công chứng Hoa Kỳ. Các cuộc thảo luận được dẫn dắt bởi Sir Henry Benson, Chủ tịch Viện Kế toán Chartered của Anh và xứ Wales.
Kết quả là một nhóm nghiên cứu được thành lập để tiến hành các nghiên cứu so sánh về tư duy và thực tiễn kế toán giữa các nước tham gia. Các cán bộ cấp cao của nhóm nghiên cứu đã quyết định thiết lập các chuẩn mực quốc tế. Vào năm 1972, tại Đại hội Kế toán Quốc tế lần thứ 10 tại Sydney, Ủy ban Điều phối Kế toán Quốc tế về Nghiệp vụ Kế toán (ICCAP) được thành lập để làm cơ sở cho việc thành lập một tổ chức chính thức cho các Chuẩn mực Kế toán Quốc tế. Ủy ban Chuẩn Mực Kế toán Quốc tế (IASC), được thành lập bởi 16 cơ quan kế toán đại diện cho 9 quốc gia, Canada, Úc, Pháp, Nhật, Đức, Mexico, Hà Lan, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ vào ngày 29 tháng 6 năm 1973, với ban thư ký và trụ sở tại London.
Từ đó quá trình hội tụ kế toán được hình thành và trải qua hai giai đoạn Giai đoạn từ năm 1973 đến năm 2001 - Giai đoạn tiền hội tụ và giai đoạn từ năm 2001 đến nay - Giai đoạn hội tụ.1 Giai đoạn tạo tiền đề hội tụ ( 1973 – 2000) Sau khi ra đời IASC đã không ngừng nổ lực thúc đẩy về việc hội tụ các chuẩn mực kế toán của các quốc gia trên thế giới. Năm 1995, thành lập Tổ chức Chứng Khoán Quốc Tế (IOSCO) với nhiệm vụ xây dựng các chuẩn mực cốt lõi để sử dụng rộng rãi của các quốc gia. Năm 1997, để giải thích và đảm bảo cho các tiêu chuẩn được vận hành đúng IASC tiếp tục thành lập “Ủy ban hướng dẫn chuẩn mực” (SIC). Tính đến cuối năm 2000, IASC có 156 thành viên là tổ chức nghề nghiệp đến từ 114 quốc gia.
Trong thời gian trên, IASC ban hành được 6 Khuôn mẫu lý thuyết kế toán và 41 chuẩn mực kế toán quốc tế, trong đó có 30 chuẩn mực có hiệu lực đến cuối năm 2000 (Bhagaban Das et al, 2009). Như vậy, giai đoạn 1973-2000 việc hội tụ kế toán chỉ dừng ở mức tạo nên những tiền đề thể hiện qua việc hình thành và phát triển các tổ chức soạn thảo các chuẩn mực kế toán quốc tế. Việc thống nhất các chuẩn mực kế toán quốc tế sẽ được tiếp tục phát triển trong giai đoạn sau.2 Giai đoạn hội tụ (từ năm 2001 đến nay) Giai đoạn 2 của tiếp trình hội tụ được đánh dấu bằng một sự kiện mang tính đột phát thể hiện qua quyết định thay đổi cấu trúc của ủy ban nhằm đạt được sự hội tụ toàn cầu. Năm 2001, Ủy ban Chuẩn Mực Kế toán Quốc tế (IASC) chính thức được đổi tên thành Hội đồng Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế (IASB).
Do đó, chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) được đổi tên thành Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS). Năm 2002, IASB và FASB cùng ký thỏa thuận Norwalk một kỷ nguyên mới cho sự hội tụ kế toán quốc tế toàn cầu được mở ra. Tính đến năm 2010, đã có 14 chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế được ban hành. Khuôn mẫu lý thuyết cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính quốc tế (IFRS Framework) cũng được ban hành mới.Thuật ngữ chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế được sử dụng theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các chuẩn mực do IASB ban hành.
(Trần Quốc Thịnh, 2014) Như vậy, hội tụ kế toán quốc tế là một trong những vấn đề lớn đã trải qua nhiều giai đoạn với mục tiêu tạo ra một hệ thống chuẩn mực kế toán toàn cầu. Mặc dù, quá trình hội tụ trải qua nhiều thăng trầm như xu hướng hội tụ kế toán quốc tế vẫn diễn ra cho đến nay.2 Sự hình thành và phát triển của IFRS for SMEs Năm 2004, IASB thừa nhận rằng bộ chuẩn mực IFRS toàn bộ phù hợp với tất cả các thực thể nhưng lại tạo ra tính phức tạp làm cho các DNNVV gặp khó khăn khi áp dụng. Do đó, IASB đã chủ động thực hiện cuộc thảo luận về việc thành lập một bộ chuẩn mực trình bày báo cáo tài chính quốc tế cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (IFRS for SMEs). Đồng thời IASB cũng khẳng định rằng: 7 Nhu cầu người sử dụng đối với báo cáo của các DNVVN IASB lập luận rằng người dùng của SME tập trung vào "dòng tiền ngắn hạn, tính thanh khoản, số dư trên bảng cân đối và lãi suất, xu hướng lịch sử và mức lãi suất trong lịch sử hơn là những thông tin hỗ trợ" khác với sự quan tâm của thị trường công chúng quan tâm tới dòng tiền mặt dài hạn, thu nhập và giá trị.
Mục tiêu của việc xây dựng IFRS for SMEs Mục tiêu của IFRS dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa là cung cấp các tiêu chuẩn kế toán chất lượng cao, dễ hiểu và có thể thực thi phù hợp với các DNNVV trên toàn cầu. Các tiêu chuẩn sẽ tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu của người sử dụng báo cáo tài chính cho DNNVV và sẽ dựa trên khung khái niệm tương tự như IFRSs. Các mục tiêu bổ sung là giảm gánh nặng báo cáo tài chính đối với các DNNVV muốn sử dụng các tiêu chuẩn toàn cầu và cho phép chuyển sang IFRS đầy đủ cho những SMES trở thành trách nhiệm giải trình công khai hoặc chuyển sang IFRS đầy đủ. IASB cũng làm rõ rằng mục đích chính của dự án tiêu chuẩn SME không phải là cung cấp thông tin cho việc ra quyết định quản lý hoặc cho các cơ quan thuế, mà thay vào đó là trọng tâm là nhu cầu của người sử dụng bên ngoài .IASB đã chỉ ra rằng một trong những vấn đề quan trọng của báo cáo thảo luận là xác định các thực thể nào sẽ đủ điều kiện để sử dụng các tiêu chuẩn của SME.
(IASB,2004) Năm 2007, IASB đã đưa ra bảng dự thảo IFRS đề xuất cho các doanh nghiệp vửa và nhỏ, không chỉ giải quyết nhu cầu báo cáo tài chính của các DNNVV mà còn là những lợi ích về chi phí của việc thực hiện các tiêu chuẩn kế toán. Bản dự thảo đã phản ánh một loại trừ các chủ đề không liên quan đến DNNVV, các lựa chọn kế toán đơn giản hơn và hạn chế hơn, các nguyên tắc về thừa nhận và đơn giản hóa cũng như giảm các yêu cầu công bố thông tin. (IASB,2007) Năm 2009, IASB chính thức công bố bộ chuẩn mực IFRS cho các DNNVV hoàn chỉnh. Sau đó, bộ chuẩn mực này lần lượt được các quốc gia áp dụng khởi đầu từ Nam Phi sau đó lan rộng sang các quốc gia khác.
Tính đến tháng 10 năm 2009, trong số các quốc gia có kế hoạch yêu cầu IFRS cho các DNNVV là Bahamas, Bahrain, Ả- rập Xê-út, Nam Phi và Anh. Những người có kế hoạch cho phép sử dụng IFRS cho các DNNVV bao gồm Hoa Kỳ, Áo, Nigeria và Đan Mạch. Các nước có thẩm quyền xem xét yêu cầu hoặc cho phép bao gồm các quốc gia như Hồng Kông, Israel, 8 Romania và Đài Loan. Trong nhóm các quốc gia phản đối đòi hỏi hoặc cho phép là Canada, Pháp, Đức, Nhật Bản và Mexico.3 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài HA van Wyk và J Rossouw, 2009 bài viết nghiên cứu về thực nghiệm áp dụng IFRS for SMEs tại Nam Phi – Quốc gia đi đầu trong việc áp dụng IFRS for SME.
Trên cơ sở khảo sát 242 DNNVV tại các thành phố thuộc Nam Phi, bằng việc sử dụng phương pháp thống kê mô tả các kết quả khảo sát thu thập được. Bài viết cho rằng việc lựa chọn áp dụng IFRS for SMEs là một bước đi đúng đắn nhưng thật sự thì các nhà lập quy tại Nam Phi cần phải xem xét nhiều khía cạnh ở các vấn đề khác. Đầu tiên liên quan đến việc tiêu chuẩn lựa chọn số lao động 50 người là quá cao cho các doanh nghiệp tại Nam Phi. Tiếp theo là các vấn đề mà bài viết cho rằng một vài quy định không phù hợp với thực tế doanh nghiệp nhỏ ở Nam Phi như tài sản khấu hao, công bố các bên liên quan, tài trợ của chính phủ, tài sản không lưu chuyển để bán và báo cáo tài chính vi phạm tính hoạt động liên tục, tỷ giá hối đoái và phúc lợi lao động có thể không thực sự áp dụng cho các DNVVN.
Suhaib Aamir và Umar Farooq, 2010 bài viết nghiên cứu đánh giá về mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS for SMEs của các DNNVV tại Thụy Điển. Bằng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc kết hợp với phương pháp lấy mẫu mở rộng dần, tác giả thu thập ý kiến của mười một chuyên gia đánh giá về mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS for SEMs tại Thụy Điển. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các DNNVV tại Thụy Điển không sẵn sàng chấp nhận áp dụng bộ chuẩn mực này. Đồng thời nghiên cứu này cũng phân tích giữa việc lựa chọn áp dụng nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAPP) tại Thụy Điển và IFRS for SMEs dựa trên cơ sở chi phí/lợi ích.
Từ đó, cho thấy rằng các DNNVV tại nước này lựa chọn áp dụng GAAP tại Thụy Điển hơn là việc áp dụng IFRS for SMEs. Atik, 2010 bài viết nghiên cứu về quan điểm của các DNNVV tại Thổ Nhỹ Kỳ năm 2010. Vào tháng 07/2009 khi IASB ban hành IFRS for SMEs, các nhà lập quy tại Thổ Nhỹ Kỳ bắt đầu tranh luận về vấn đề áp dụng hệ thống tiêu chuẩn cho các DNNVV tại nước này. Trên cơ sở khảo sát 216 DNNVV, tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả đối với các kết quả khảo sát thu thập được.
Kết quả nghiên cứu 9 cho thấy rằng hầu hết các DNNVV vẫn muốn áp dụng IFRS for SMEs trên cơ sở tự nguyện hơn là bắt buộc. Bởi vì các DNNVV tại nước này chủ yếu lập báo cáo tài chính cho mục đích thuế hơn là vì mục tiêu quản lý.