CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU IFRS là các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế được ban hành bởi IASB. IFRS là quy tắc chung giúp cho việc lập BCTC được thống nhất, minh bạch, hướng đến việc lập ra một khung chuẩn chung cho các doanh nghiệp tại các quốc gia và vùng lãnh thổ trong việc lập BCTC. IFRS cho DNNVV là chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, được xây dựng dựa trên nền tảng IFRS, bao gồm các chuẩn mực kế toán như IFRS nhưng được đơn giản hóa cho phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa. IFRS cho DNNVV ra đời trên thế giới đã nhiều năm và được phát triển, sửa đổi, bổ sung nhiều lần cho phù hợp với tốc độ phát triển kinh tế của thế giới và để cho các DNNVV có thể áp dụng thuận lợi dễ dàng hơn.
Các quốc gia trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu lợi ích và bất lợi của việc áp dụng IFRS cho DNNVV cũng như nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS cho DNNVV.1 Tổng hợp các nghiên cứu 1.1 Tổng quan về các nghiên cứu tại các quốc gia trên thế giới 1.1 Nghiên cứu về việc áp dụng IFRS cho DNNVV tại các quốc gia trên thế giới Năm 2009, IASB đã công bố IFRS cho DNNVV. Theo thống kê vào năm 2016 của IASB, có 137 quốc gia và vùng lãnh thổ đã công bố cam kết của mình trong việc hỗ trợ bộ CMKT quốc tế (IAS) và yêu cầu toàn bộ hay phần lớn các công ty niêm yết trên thị trường sử dụng IFRS, bởi hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ này muốn hướng tới xây dựng một chuẩn mực chung cho việc lập BCTC, xây dựng ngôn ngữ kế toán chung cho các quốc gia. Đến năm 2018, IASB thống kê được rằng có 86 trên tổng số 166 quốc gia và vùng lãnh thổ yêu cầu và cho phép vận dụng IFRS cho DNNVV. Có thể thấy rằng IFRS cho DNNVV được nhiều nước và vùng lãnh thổ trên thế giới áp dụng trong một thời gian dài và đã đạt được những hiệu quả nhất định.
Xét riêng ở châu Âu, từ năm 2005, việc áp dụng IFRS đã phổ biến ở nhiều quốc gia bởi IFRS được xây dựng và phát triển phù hợp với sự phát triển của các quốc gia ở 5 châu Âu. Họ không gặp trở ngại bởi việc bất đồng ngôn ngữ nên việc vận dụng IFRS cũng dễ dàng hơn. Theo Anne Le Manh (2017), Pháp được coi là nơi hội tụ mạnh mẽ giữa GAAP và IFRS, trong thập kỉ 1995 - 2005 Pháp đã thay đổi về tài khoản để nâng cao sự hài hòa mạnh mẽ với IFRS. Brouwer & Hoogendoorn (2017) đưa ra quan điểm rằng luật của Hà Lan tích cực hướng đến IFRS và khác biệt giữa IFRS và GAAP của Hà Lan cũng có giới hạn.
Kvaal (2017) đã đưa ra một vấn đề là EU đã yêu cầu Na Uy thực hiện Chỉ thị Kế toán của EU thông qua thỏa thuận EEA, để thực hiện điều đó, Na Uy đã huy động chuyên gia để chuẩn bị luật liên quan đến IFRS mặc dù Na Uy chưa phải là thành viên EU để hòa hợp với EU. Trong khi đó tại Ba Lan thì Klimczak & Krasodomska (2017) cho rằng chính phủ không áp dụng IFRS trên phạm vi rộng, nghĩa là không áp dụng cho tất cả các công ty mà sẽ áp dụng theo các cách như: áp dụng IFRS với các giao dịch kế toán mà pháp luật không quy định, điều chỉnh; thứ hai, các công ty có kế hoạch tham gia thị trường chứng khoán đại chúng, công ty niêm yết hoặc tham gia đầu tư quốc tế cần xem xét việc áp dụng IFRS; cuối cùng, việc xem xét áp dụng IFRS cần phải được đề xuất như quy định của quốc gia. Có thể thấy đối với EU và các nước lân cận liên minh này, việc áp dụng IFRS cũng có nhiều hình thức khác nhau và luôn giữ xu hướng tự nguyện áp dụng. Liên minh Châu Âu sau khi áp dụng IFRS một thời gian đã góp phần sửa đổi, hoàn thiện và mở rộng IFRS cho phù hợp với sự phát triển kinh tế của thế giới.
Mặt khác, Darrel Scott (2019) cho rằng phía châu Âu nên khuyến khích các DNNVV sử dụng IFRS cho DNNVV bởi các lợi ích của nó. Nguyễn Thị Thu Vân, Nguyễn Thị Phước và Hoàng Thụy Diệu Linh (2017) có nêu quan điểm rằng từ năm 2008, ở Mỹ, SEC đưa ra văn bản dự thảo lộ trình hòa hợp IFRS tuy nhiên gặp phải rất nhiều vấn đề và chưa đạt được sự hòa hợp giữa IFRS và US GAAP. Vào năm 2017, SEC lại công bố bản dự thảo chiến lược với mục tiêu xây dựng được một hệ thống CMKT có chất lượng tốt hơn và áp dụng toàn cầu nhưng SEC không đề cập đến việc áp dụng IFRS đối với các doanh nghiệp tại nước Mỹ. 6 Ramona Birău, Gabriel Birău và Jatin Trivedi (2014) cho rằng việc áp dụng IFRS ở Mỹ Latin sẽ tạo ra những tác động cả tích cực và tiêu cực về các mặt như phát triển kinh tế, môi trường văn hóa, truyền thống, các chính sách kinh tế vĩ mô, hội nhập xã hội, chế độ chính trị và tín ngưỡng tôn giáo.
Mặt khác cũng có những nghiên cứu về vấn đề áp dụng IFRS tại Canada, Daniel B. Thornton (2015) cho rằng IFRS sẽ giúp ích rất nhiều cho các vấn đề liên quan đến chứng khoán phái sinh tại Canada. Đồng thời, tác giả cho rằng nên sớm áp dụng IFRS cho DNNVV chứ không thể giảng dạy như một phụ lục được bởi trong tương lai DNNVV sẽ rất phát triển. Về phía châu Phi, quốc gia đi đầu trong việc áp dụng IFRS và IFRS cho DNNVV là Nam Phi.
Các nghiên cứu trong việc áp dụng IFRS và IFRS cho DNNVV tại Nam Phi xuất hiện rất nhiều từ năm 2007 trở đi, các nhà nghiên cứu kinh tế, kế toán ở Nam Phi đều hướng nghiên cứu của mình xoay quanh các vấn đề như Nam Phi sẽ có những lợi ích gì hay nghiên cứu về mức độ phù hợp của IFRS cho DNNVV với Nam Phi. Joachim Gassen (2017) cho rằng ở một số nước hay khu vực thì họ chấp nhận IFRS cho DNNVV như một khuôn khổ báo cáo tùy chọn. Tuy nhiên, việc các nước hay khu vực áp dụng IFRS cho DNNVV còn khá ít. Shazia Essa (2018) đưa ra quan điểm rằng việc thay đổi nhận thức của các DNNVV tại Nam Phi về IFRS cho DNNVV là rất quan trọng bởi có nhiều thách thức khi áp dụng IFRS cho DNNVV vì số lượng DNNVV tại Nam Phi rất nhiều, các doanh nghiệp này đóng góp to lớn đáng kể vào GDP của Nam Phi cũng như giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Sithole đã thực hiện nghiên cứu tại vương quốc Swaziland từ 2015 cho đến 2018 mới được đăng tải, lúc này vương quốc Swaziland đã đổi thành Vương quốc Eswatini. Nghiên cứu này cho ra kết quả hầu hết các DNNVV không biết IFRS cho DNNVV. Do đó, tác giả cho rằng việc quan trọng nhất trong quá trình áp dụng IFRS cho DNNVV là việc đào tạo kế toán và kiểm toán viên trong nước và tìm cách công bố để DNNVV biết đến IFRS. 7 Ở châu Úc cũng có rất nhiều nghiên cứu và phân tích về tình hình khi áp dụng IFRS, đại đa số đều quan tâm đến vấn đề tương thích giữa IFRS và các quốc gia ở châu Úc.
Hai nước đi đầu trong việc áp dụng IFRS là Úc và New Zealand cũng tiến hành thông qua và áp dụng toàn bộ IFRS từ rất sớm vào giai đoạn 2001-2005, các công niêm yết tại hai quốc gia này đều phải thực hiện BCTC theo IFRS. Cho đến 2010 thì việc áp dụng IFRS trở nên sôi nổi ở đây, Stephen A. Zeff và Christopher W. Nobes (2010) đã từng khẳng định rằng Australia chắc chắn áp dụng IFRS (Australia definitely adopts IFRSs) trên một nghiên cứu của họ.
Và hiện tại, các quốc gia ở châu Úc đã biên soạn sách đưa IFRS vào chương trình giảng dạy và họ cũng dần hướng các DNNVV tại đây vận dụng IFRS cho DNNVV. Gray, Joanne Pickering và Sally Aisbitt (2014) đã phát hiện ra rằng hầu hết các doanh nghiệp đều quan ngại vấn đề về chi phí và lợi ích nếu vận dụng IFRS trong nghiên cứu của mình, cụ thể họ lo sợ về chi phí phải bỏ ra quá nhiều nhưng không đạt được lợi ích như dự kiến. Dinuja Perera và Parmod Chand (2015) cho rằng IFRS là một thách thức lớn đối với DNNVV, có rất nhiều bằng chứng cho thấy DNNVV tại Australia và các nước khác sẽ gặp nhiều khó khăn khi áp dụng IFRS, nhất là những nước đã có soạn thảo ban hành chế độ, quy định về kế toán rồi và cần phải có cách để hội tụ giữa IFRS với quy định riêng của từng nước để thuận lợi cho DNNVV vận dụng. Mahesh Joshi, Prem W.
Senarath Yapa, Diane Kraal (2016) khẳng định Hồng Kông ở châu Á là nước quan tâm về IFRS và giảng dạy về IFRS và IFRS cho DNNVV từ rất sớm. Điều đó được chứng minh bởi Camelia Iulianan Lungu, Chirata Caraiani, Cornelia Dascalu (2007) đã tìm được sách giảng dạy vào năm 2007 ở các trường đại học khi họ nghiên cứu về IFRS áp dụng vào các quốc gia như thế nào. Họ cho rằng Hồng Kông thời điểm đó chỉ đưa ra các chuẩn mực đơn giản, định nghĩa đơn giản về một vấn đề chứ không áp dụng toàn bộ. Trải qua 10 năm, Hồng Kông đã đưa ra một lộ trình để từ từ hòa hợp giữa chuẩn mực riêng trong nước cùng IFRS và giữ song song cả hai để phục vụ các mục đích khác nhau của các doanh nghiệp trong nước.
Ngoài Hồng Kông ra thì còn có Singapore là một quốc gia quan tâm đến IFRS từ rất 8 sớm. Mahesh Joshi, Prem W. Senarath Yapa, Diane Kraal (2016) nêu trong nghiên cứu của mình rằng Singapore đã cam kết áp dụng IFRS hoàn toàn vào năm 2005, ngoài ra còn có Indonesia đã cam kết xóa bỏ những khác biệt giữa CMKT riêng và IFRS vào 2009. Các nước này có sự tương đồng về cách áp dụng đó là xem xét, sửa đổi cho phù hợp, áp dụng công ty niêm yết trước rồi nhận định vấn đề và tìm cách khắc phục.
Hiện tại họ vẫn khuyến khích các DNNVV lựa chọn áp dụng IFRS cho DNNVV. Diga (2002) cho rằng việc các nước có vị trí địa lý gần nhau thì việc xây dựng hệ thống kế toán sẽ có sự tương đồng để hướng đến sự hài hòa trong khu vực và hỗ trợ cho việc thực hiện các cam kết về kinh tế trong khối được dễ dàng hơn. Trái với các nước trên, Mahesh Joshi, Prem W.