CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE LAP VA TRÌNH BAY BAO CÁO TÀI CHINH HOP NHAT 1. Lý luận chung về mô hình “Công ty mẹ - Công ty con” 1. Khái niệm và đặc điểm té chức quan lý: Khái niệm về “Công ty mẹ - Công ty con hay” hay “nhóm Công ty” có một số định nghĩa như sau: Mối quan hệ công ty mẹ - con là một quan hệ sở hữu trong đó công ty mẹ sở hữu ít nhất 50% cé phan của công ty con. Công ty mẹ có quyền kiểm soát và ảnh hưởng đến quyết định kinh doanh của công ty con thông qua việc năm giữ cô phan đa số hoặc quyền biểu quyết trong công ty con.
Quan hệ mẹ - con có thê tồn tại trong các doanh nghiệp trong cùng một quốc gia hoặc đa quốc gia, khi một công ty mẹ có hoạt động kinh doanh ở một hay nhiều quốc gia và sở hữu các công ty con hoạt động độc lập tại một hoặc các quốc gia khác nhau. Mối quan hệ này thường xuyên xảy ra trong ngành công nghiệp va thị trường có quy mô lớn, nơi các công ty nhóm công ty muốn mở rộng hoạt động kinh doanh và tận dụng lợi thế cạnh tranh. Mỗi quan hệ công ty mẹ - con có sự liên kết chặt chẽ và yêu cầu công ty mẹ thực hiện quản trị và kiểm soát công ty con để đảm bảo sự hợp nhất và tăng cường giá trị của cả hệ thống công ty. Quan hệ này cũng đặt ra nhiều thách thức về quản trị, quản lý rủi ro và quyền lợi của các bên liên quan.
Trong nghiên cứu "Tác động của mối quan hệ công ty mẹ - công ty con đến cấu trúc tài chính của các công ty đa quốc gia/ The Impact of Parent- Subsidiary Relationship on the Financing Structure of Multinational Corporations) nam 2018, công ty me - công ty con được định nghĩa như sau: Công ty mẹ - công ty con là một quan hệ sở hữu trong đó công ty me (parent company) sở hữu một phần cô phần hoặc toàn bộ cổ phan của công ty con (subsidiary company). Công ty mẹ có quyền kiểm soát và quản lý công ty con thông qua việc nắm giữ cô phần hoặc quyền biểu quyết. Các công ty con hoạt động độc lập và thường được thành lập trong các quốc gia khác nhau dé tận dụng lợi thế kinh doanh và thị trường. Theo Wikipedia thì nhóm công ty được định nghĩa là “là tập hợp các Công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác.
Nhóm công ty bao gồm các hình thức sau: Công ty mẹ - công ty con Nhóm công ty kinh tế Doanh nghiệp nhà nước (quốc doanh) Hình thức khác Tại Việt Nam, có thể tìm thấy định nghĩa về nhóm công ty trong một số văn bản pháp luật như: Luật doanh nghiệp 2020: Căn cứ Khoản 1, Điều 195, Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về các trường hợp được coi là công ty mẹ như sau: a. Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cô phần phổ thông của công ty đó; b. Có quyên trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định b6 nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó; c. Có quyền quyết định việc sửa đổi, bỗ sung Điều lệ của công ty đó.
Như vậy, với quy định trên thì Công ty con thì được hiểu là một pháp nhân/doanh nghiệp được sở hữu bởi một pháp nhân/ doanh nghiệp khác. Ở góc độ tài chính kế toán thì công ty con là đơn vị có tư cách pháp nhân, có hạch toán độc lập và chịu sự kiểm soát của một công ty khác gọi là công ty mẹ. Quyên kiêm soát là quyên chi phôi chính sách tài chính, kê toán và các hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp nhằm thu được lợi ích kinh tế từ các hoạt động kinh doanh đó. Quyền kiểm soát của công ty mẹ với công ty con được xác định khi công ty mẹ nam giữ trên 50% quyền biểu quyết ở công ty con (có thể sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp qua công ty con khác), trừ trường hợp xác định quyên sở hữu không gắn liền với quyền kiểm soát.
Tổng kết lại ta có thê thấy, mặc dù có nhiều hình thức khác nhau, sự liên kết trong hoạt động kinh doanh có thể nhiều hoặc ít thì nhóm các Công ty có các đặc điểm chung như sau: Bao gồm ít nhất hai công ty, có tư cách pháp nhân và hạch toán độc lập, trong đó có một công ty có quyền kiểm soát tất cả các công ty còn lại, cũng có thé có thêm một hoặc nhiều hơn một công ty có quyền kiểm soát đối với một hoặc một vài công ty còn lại trong nhóm các công ty nay. Mỗi quan hệ công ty mẹ - công ty con thường dựa trên cơ sở công ty me đầu tư tài chính vào công ty con. Từ nên tảng đầu tư tài chính, công ty mẹ sẽ có quyền kiểm soát đối với công ty con và từ đó tiến hành chi phối, kiểm soát và định hướng hoạt động kinh doanh và các quyết định về tài chính của công ty con dé đạt được các mục đích về kinh doanh, tài chinh,. của công ty mẹ.
Nhóm các công ty mẹ - công ty con có thể được tô chức theo cấu trúc đơn giản hoặc hỗn hợp, cụ thể như sau: Cấu trúc đơn giản: chỉ có sự đầu tư thuận chiều từ trên xuống dưới, không có sự sở hữu đồng thời lẫn nhau giữa các công ty đồng cấp, không có sự đông sở hữu đôi với công ty con, không có sở hữu ngược chiêu So đồ 1. Câu trúc đơn giản của nhóm mẹ - Công ty con Cấu trúc hỗn hợp: trường hợp này sẽ xuất hiện sự sở hữu chéo lẫn nhau giữa các công ty dong cap, đông sở hữu, sở hữu ngược chiéu. Các mỗi quan hệ chủ yéu giữa Công ty mẹ và Công ty con ® Phương thức hình thành nhóm công ty mẹ - cong ty con: Dựa theo lịch sử hình thành và phát triển của hình thái tổ chức tên gọi là “công ty” thì nhóm công ty mẹ - công ty con được hình thành thông qua một sô cách thức phô biên như sau: Mua lại: Công ty mẹ mua lại hoặc sáp nhập với công ty con dé sở hữu hoặc kiểm soát công ty con. Quá trình mua lại có thể diễn ra thông qua mua cô phần hoặc tài sản của công ty con.
Chia tách: Công ty mẹ quyết định tách rời một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình thành một công ty con độc lập. Công ty con có thé được hoạt động độc lập hoặc tiếp tục hoạt động dưới sự quản lý của công ty mẹ. Đầu tư: Công ty mẹ đầu tư vào một công ty con mà nó không sở hữu hoặc kiểm soát hoàn toàn. Điều này có thể xảy ra khi công ty mẹ muốn tận dụng tiềm năng phát triển của công ty con hoặc tạo ra mối quan hệ đối tác chiến lược.
Xây mới: Công ty mẹ thành lập một công ty con hoàn toàn mới từ đầu. Công ty con này có thê được thành lập dé khai thác một thị trường mới, phân chia công việc hoặc quản lý rủi ro kinh doanh. Liên doanh/ hợp tác đầu tư: Công ty mẹ và công ty con khác hợp tác thành lập một công ty liên doanh mới. Các công ty cùng chia sẻ nguồn lực, rủi ro và lợi ích từ hoạt động kinh doanh chung.
Nhìn chung mỗi trường hợp có điểm mạnh và yếu riêng, việc quyết định hình thành mối quan hệ công ty mẹ - công ty con theo cách thức nào phụ thuộc vào mục tiêu kinh doanh, chiến lược và ngành nghề kinh doanh của công ty mẹ và công ty con. e Các mối quan hệ chủ yếu giữa công ty mẹ - công ty con: Mối quan hệ giữa Nhà đầu tư và bên nhận đầu tư: Đây là điều kiện tiền dé dé hình thành mối quan hệ công ty mẹ - công ty con. Giá trị đầu tư có thé băng tiền hoặc tài sản cố định hữu hình, tài sản vô hình. Quản lý và kiểm soát: Công ty mẹ thường sở hữu hoặc kiểm soát công ty con, và do đó, có quyền quản lý và định hướng các hoạt động của công ty con.
Công ty mẹ có vai trò giám sát, đưa ra quyết định chiến lược, và có thể can thiệp vào hoạt động hàng ngày của công ty con. 10 Chia sẻ nguồn lực: Một mối quan hệ chủ yếu là chia sẻ nguồn lực giữa công ty me và công ty con. Công ty mẹ có thé cung cấp vốn, kỹ thuật, quy trình kinh doanh, thương hiệu, hoặc quyền sở hữu trí tuệ cho công ty con. Điều nảy giúp công ty con tận dụng lợi thế của công ty mẹ và đạt được mức độ phát triển cao hơn.
Hợp tác chiến lược: Mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con thường dựa trên một hợp tác chiến lược. Hai công ty có thể hợp tác trong việc nghiên cứu và phát triển sản pham mới, mở rộng vào thị trường mới, chia sẻ khách hàng hoặc mạng lưới cung ứng. Điều này giúp tăng cường sức mạnh cạnh tranh và đạt được lợi ích tối đa từ sự kết hợp của hai công ty. Chia sẻ lợi nhuận: Công ty mẹ thường có quyền nhận được lợi nhuận từ hoạt động của công ty con.
Theo thỏa thuận, công ty con có thé trích lập một phần lợi nhuận để chia sẻ với công ty mẹ. Điều này tạo động lực cho công ty me dé dau tư và phát triển công ty con. Kiểm soát rủi ro: Mối quan hệ công ty mẹ - công ty con cũng giúp công ty mẹ kiểm soát và quản lý rủi ro. Nếu công ty con gặp khó khăn hoặc rủi ro tài chính, công ty mẹ có thé hỗ trợ và bảo vệ công ty con khỏi những tác động tiêu cực.
Lý luận chung về BCTC hợp nhất 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu: Tổng quan nghiên cứu nước ngoài: Nghiên cứu của tác giả Victor Octavian Muller với đề tài “The impact of IFRS adoption on the quality of consolidated financial report” - nội dung nghiên cứu về ảnh hưởng của việc thực hiện IFRS với chất lượng BCTC hợp nhất. Nghiên cứu được thực hiện dựa trên số liệu của một số các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Paris, London và Frankfurt.