Chương 1: Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Một số kiến nghị về đề tài nghiên cứu. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Cơ sở lý luận về IFRS 2. Khái niệm về Chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS) Việc các doanh nghiệp ngày càng mở rộng thương mại quốc tế và tiếp cận thị trường nước ngoài đã thúc đẩy sự tranh luận về việc có cần phải có các chuẩn mực kế toán toàn cầu hay không.
Các công ty trên toàn thế giới đang cạnh về các nguồn lực khan hiếm, các nhà đầu tư, các chủ sở hữu cũng như các công ty đa quốc gia phải bỏ ra chi phí lớn để thực hiện các báo cáo tài chính theo tiêu chuẩn kế toán của từng quốc gia. Các chuyên gia nhận ra sự cần thiết của một hệ thống chuẩn mực kế toán thống nhất cho tất cả các công ty trên toàn thế giới (Murphy, 2000). Với nhu cầu đó, IFRS (International Financial Reporting Standards) ra đời. IFRS là các chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế bao gồm các chuẩn mực kế toán được ban hành bởi Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (International Accounting Standards Board - IASB) và được thuyết minh bởi Ủy ban giải trình chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRIC) biên soạn theo định hướng thị trường vốn và hệ thống lập báo cáo tài chính.
Theo Jacob và Madu (2009), IFRS đại diện cho một tập hợp chất lượng cao các chuẩn mực kế toán được chấp nhận trên toàn cầu có thể nâng cao khả năng so sánh và phân tích của báo cáo tài chính trên toàn cầu. Điều này có thể dẫn đến các quyết định đầu tư tốt hơn và đảm bảo việc phân bổ các nguồn lực tối ưu trên toàn cầu. Tương tự, trong bài nghiên cứu của mình, Cai và Wong (2010) cho rằng IFRS là một tập hợp các chuẩn mực báo cáo tài chính được chấp nhận rộng rãi nhưng vẫn đảm bảo sự cân bằng và đa dạng về mặt kế toán giữa các nước, tạo điều kiện cho các hoạt động kinh doanh và hội nhập toàn cầu. Sự khác nhau giữa IFRS và VAS Các Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) đã xây dựng một phần dựa trên các Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) và được sửa đổi, bổ sung để có thể phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội tại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Do 10 vậy, IFRS và VAS có những nét tương đồng nhưng có những nét rất khác nhau. Sự khác nhau của 2 hệ thống có thể được chia ra làm 3 nội dung như sau: Thứ nhất, IFRS không bắt buộc về hình thức của các biểu mẫu như báo cáo thống nhất, hệ thống tài khoản kế toán thống nhất, hình thức sổ kế toán, mẫu các chứng từ gốc thống nhất. Khác với VAS, IFRS mặc dù đưa ra rất chi tiết các định nghĩa, phương pháp làm, cách trình bày và những thông tin bắt buộc phải trình bày trong các báo cáo tài chính nhưng IFRS cũng như ở hầu hết các nước không bắt buộc tất cả các doanh nghiệp phải sử dụng chung các biểu mẫu báo cáo tài chính giống nhau vì các công ty có quy mô, đặc điểm ngành nghề kinh doanh rất khác nhau nên hệ thống tài khoản, các hệ thống chứng từ, các sổ kế toán thống nhất và đặc biệt là các biểu mẫu báo cáo tài chính thống nhất sẽ không áp dụng được yêu cầu đa dạng và phong phú của các doanh nghiệp và các nhà đầu tư. Chế độ kế toán Việt Nam đưa ra một hệ thống tài khoản kế toán thống nhất, biểu mẫu báo cáo tài chính bắt buộc cho tất cả các doanh nghiệp áp dụng (hầu hết các quốc gia trên thế giới không làm như vậy).
Một số ít quốc gia, như Pháp, có hệ thống tài khoản kế toán thống nhất nhưng nó mang tính hướng dẫn nhiều hơn là tính bắt buộc. Những vấn đề mang tính hình thức bên ngoài, chế độ kế toán Việt Nam mang tính bắt buộc rất cao. Việc áp dụng sự bắt buộc này, có thể giúp cho các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp mang tính thống nhất rất cao, tiện so sánh, tuy nhiên hạn chế rõ ràng của nó đó chính là sự gò bó mà các doanh nghiệp phải thực hiện. Thứ hai, IFRS có bộ khung khái niệm và tính thống nhất cao giữa các chuẩn mực, trong khi đó VAS còn nhiều nội dung chưa rõ ràng và đặc biệt là còn mâu thuẫn giữa các chuẩn mực.
Có thể lấy ví dụ như, VAS chưa có quy định cho phép đánh giá lại tài sản và nợ phải trả theo giá trị hợp lý tại thời điểm báo cáo. Điều này ảnh hưởng lớn đến việc kế toán các tài sản và nợ phải trả được phân loại là công cụ tài chính, làm suy giảm tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính và chưa phù hợp với IAS/IFRS. Hoặc như trong VAS 2, để tính giá trị hàng hóa xuất kho, chuẩn mực cho phép sử dụng cả phương pháp “Nhập sau - Xuất trước” (LIFO) (tuy nhiên chuẩn mực cũng 11 ràng buộc nếu sử dụng thì doanh nghiệp phải thuyết minh khi sử dụng) mặc dù phương pháp LIFO còn rất nhiều hạn chế, đặc biệt trong sử dụng để định giá hàng tồn kho nếu hàng tồn kho thuộc dạng sản phẩm cũ, đã lỗi thời. Thứ ba, sự khác nhau về hệ thống tài khoản kế toán.
Theo IAS/IFRS: IAS hay IFRS chỉ quy định về các báo cáo tài chính, không quy định về hệ thống tài khoản kế toán vì nó là các phương tiện kế toán để đáp ứng được đầu ra là các báo cáo tài chính. Theo thực tế kế toán quốc tế, doanh nghiệp tự thiết kế hệ thống tài khoản kế toán từ các yêu cầu thông tin và yêu cầu các báo cáo tài chính và báo cáo quản trị (không phải chỉ có yêu cầu của báo cáo tài chính), các nhà thiết kế phân tích và đưa ra một hệ thống tài khoản phù hợp mà nó có thể đáp ứng được các báo cáo tài chính và báo cáo quản trị. Ở hầu hết các nước, không có khái niệm hệ thống tài khoản kế toán thống nhất chung cho một quốc gia vì mỗi công ty có nhu cầu thông tin, quản trị rất khác nhau nên các công ty tự xây dựng cho mình là hợp lý nhất (như ở Mỹ, chuẩn mực kế toán chỉ đưa ra 5 loại tài khoản chính, đó là các loại tài khoản tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí). Các học giả kế toán đúc kết kinh nghiệm, lý thuyết quản trị và kế toán để đưa ra các hệ thống tài khoản có tính hướng dẫn cho các công ty và giảng dạy ở các trường về kế toán.
Theo chế độ kế toán của Việt Nam, Bộ Tài chính ban hành một hệ thống tài khoản kế toán rất chi tiết cả tài khoản cấp 1 và cấp 2 thống nhất dùng chung cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng, hệ thống tài khoản này chỉ đáp ứng được việc lập các báo cáo tài chính thông thường cho các nhà đầu tư nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu quản trị. Có rất nhiều người cho rằng, một hệ thống tài khoản kế toán thống nhất trong một quốc gia là một lợi ích lớn vì sự thống nhất chung giúp cho việc dạy, học kế toán cũng như việc sử dụng kế toán trong các công ty dễ hơn. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng việc dạy và học một hệ thống tài khoản kế toán thống nhất có đánh số sẵn, có thể làm cho người học rất thụ động và máy móc không theo bản chất của giao dịch.
Hầu hết, những người đã được học (hoặc) làm theo các hệ thống kế toán quốc tế hay mang tính thông lệ quốc tế (như US GAAP) đều cho rằng, hệ thống tài khoản kế toán thống nhất của Việt Nam chỉ nên 12 mang tính hướng dẫn. Nếu công ty không quan tâm nhiều đến hệ thống thông tin quản trị, có thể sử dụng hệ thống tài khoản kế toán thống nhất. Những công ty cần nhiều thông tin quản trị, hệ thống tài khoản thống nhất của Việt Nam không đáp ứng được. Các công ty cần xây dựng lại hệ thống tài khoản kế toán, nhưng vẫn phải dùng hệ thống tài khoản kế toán thống nhất làm bộ khung.
Điều đó làm cho hệ thống tài khoản kế toán của các doanh nghiệp trở nên phức tạp hơn nhiều và gây khó khăn cho doanh nghiệp. Hiện tại, các công ty muốn có một hệ thống kế toán hiệu quả cần phải thiết kế riêng cho mình một hệ thống tài khoản dựa trên hệ thống tài khoản thống nhất và các nhu cầu thông tin quản trị nội bộ của công ty. Hệ thống tài khoản kế toán đó phải đáp ứng được yêu cầu của không chỉ các báo cáo tài chính cho các nhà đầu tư theo chế độ kế toán Việt Nam, mà điều quan trọng là cho các báo cáo quản trị nội bộ của công ty. Sự khác nhau của 2 hệ thống chuẩn mực có thể được lý giải qua 2 nhóm nguyên nhân, với nguyên nhân trực tiếp là do VAS về cơ bản được soạn thảo dựa trên các IAS/IFRS tương ứng được ban hành đến cuối năm 2003, nhưng sau đó không được cập nhật những sửa đổi của IAS liên quan và IFRS mới được ban hành sau năm 2003.
Ngoài ra, IAS/IFRS hướng tới đo lường tài sản dựa trên cơ sở giá trị hợp lý, nhằm đảm bảo chất lượng của thông tin kế toán, trong khi đó giá gốc vẫn là cơ sở đo lường chủ yếu được qui định bởi VAS. Ngoài ra, sự khác nhau còn do những nguyên nhân trực tiếp như do văn hoá của người Việt Nam là tránh rủi ro và sự không chắc chắn. Áp dụng IFRS, sự không chắc chắn là rất cao bởi vì báo cáo tài chính theo IAS/IFRS sử dụng nhiều ước tính kế toán, ví dụ như giá trị hợp lý. VAS với các ước tính kế toán ít hơn và thận trọng hơn làm hạn chế những yếu tố không chắc chắn, tuy nhiên, điều này cũng giảm nhiều sự phù hợp của thông tin trên báo cáo tài chính.
Thêm nữa, nền kinh tế thị trường ở Việt Nam còn khá non trẻ, Việt Nam mới phát triển kinh tế thị trường từ những năm cuối của thế kỷ 20, thị trường vốn của Việt Nam là một trong những thị trường non trẻ nhất trên thế giới, mới được hình thành hơn mười năm nay. Đến nay, nó vẫn chưa thể hiện rõ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, mới chỉ trong phạm vi quốc gia, chưa liên thông với thị trường vốn trên thế giới.