Chương 1 nhằm giới thiệu tổng quan về nghiên cứu này. Chương này bao gồm tám phần chính: Sự cần thiết của vấn đề NC, mục tiêu NC, câu hỏi NC, đối tượng NC, phạm vi NC, phương pháp NC, ý nghĩa thực tiễn của NC và thể hiện cấu trúc của luận án. Thông qua nội dung của chương, tác giả mô tả một cách tổng quát các vấn đề được trình bày trong luận án, giúp người đọc nắm được quy trình nghiên cứu tương ứng để đạt được các mục tiêu và trả lời câu hỏi nghiên cứu, hướng đến các phát hiện khoa học của nghiên cứu. SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Bối cảnh thực tiễn Với xu hướng phát triển kinh tế một cách chóng mặt như hiện nay, nguồn nhân lực đang trở thành một chủ đề được nói đến nhiều nhất và được các doanh nghiệp hết sức quan tâm trong chiến lược phát triển của mình.
Theo Wrigh và cộng sự (1993), NNL trong phạm vi doanh nghiệp được ngầm hiểu là: “nguồn vốn con người và sử dụng nguồn vốn này nhằm hoàn thành các mục tiêu của doanh nghiệp”. Tuy nhiên, khác với các nguồn lực khác trong doanh nghiệp, nguồn vốn nhân lực được cho là có giá trị, khan hiếm, không thể bắt chước và thay thế hoàn toàn. Do đó, dựa theo lý thuyết nguồn lực của Boxall và Purcell (2003) cho rằng: “Nguồn nhân lực có tiềm năng đem lại lợi thế cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp”. Trước bối cảnh hội nhập, ngày càng có nhiều DN nước ngoài ồ ạt đầu tư vào Việt Nam, điều này dẫn đến thị trường lao động trong nước có sự cạnh tranh quyết liệt và các DN trong nước cũng gặp nhiều khó khăn hơn trong việc duy trì và quản lý NNL, nếu không sẽ bị tụt hậu, không đáp ứng được các mục tiêu chung của tổ chức.
Đây chính là một lý do nữa cho thấy tính cấp thiết và quan trọng của việc quản trị và PTNNL thế nào để duy trì họ gắn bó lâu dài với tổ chức, doanh nghiệp. Ngành du lịch là một ngành dịch vụ, nơi giá trị chính thường được tạo ra bởi nguồn nhân lực của tổ chức. Đây là một ngành được mô tả là rất năng động. Các DN trong lĩnh vực DL luôn phải đối mặt với những vấn đề chung liên quan đến quản lý và PTNNL như: nhân viên kỹ năng thấp, nhân viên thiếu kinh nghiệm, thiếu lực lượng lao 1 động thời vụ, thiếu động lực và việc luân chuyển nhân viên thường xuyên (Úbeda-García và ctg, 2012).
Phát triển NNL là yêu cầu bức thiết để tăng tính chuyên nghiệp, sự hài lòng trong nghề nghiệp nhằm cải thiện dịch vụ khách hàng, vì vậy phát triển NNL phải là một trong những ưu tiên của tổ chức (Drucker, 2004). Thực tế tại Việt Nam, ngành DL trong những năm vừa qua đã phát triển một cách ấn tượng và đã đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động từ cả khu vực nông thôn và thành thị. Tuy nhiên, NNL trong lĩnh vực này tại Việt Nam vẫn đang trong cơn khát. Đây là thực trạng kéo dài trong nhiều năm qua mà ngành này vẫn đang loay hoay tìm lời giải.
Nghị quyết 08- NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị ban hành về việc phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn xác định: “Đến năm 2020, ngành du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; thu hút 17-20 triệu lượt khách du lịch quốc tế, 82 triệu lượt khách du lịch nội địa; Ðóng góp trên 10% GDP; Tạo ra 4 triệu việc làm, trong đó có 1,6 triệu việc làm trực tiếp. Phấn đấu đến năm 2030, du lịch Việt Nam thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác. Việt Nam thuộc nhóm các nước có ngành du lịch phát triển hàng đầu khu vực Đông Nam Á”. Điều này một mặt khẳng định còn khá nhiều tiềm năng để phát triển ngành này, nhưng mặt khác cũng bộc lộ lỗ hổng lớn về nhân lực của ngành.
Mặc dù những năm vừa qua, hầu hết các cơ sở đào tạo đã tập trung vào lĩnh vực này nhưng vẫn chỉ đáp ứng được 60% nhu cầu. Đó là chưa nói đến một thực trạng là không chỉ thiếu về số lượng mà ngay cả chất lượng đào tạo cũng là vấn đề lo lắng của nhiều doanh nghiệp. Theo nhận định của chuyên gia Vũ Thành Long thì chất lượng nhân lực ngành du lịch còn nhiều hạn chế và chưa đáp ứng được nhiệm vụ phát triển du lịch khi Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng. Bên cạnh đó, chuyên gia Vũ Thành Long cũng cho rằng số lượng nhân lực ngành du lịch còn ít, cơ cấu không đồng bộ và năng lực chuyên môn chưa “theo kịp” được với xu hướng phát triển của ngành du lịch.
Ngoài ra, nhân lực có trình độ và nghiệp vụ cao chưa nhiều và ngày càng thiếu NNL có chất lượng cao (Vũ Thành Long, 2021). Vì vậy để phát triển NNL cho ngành DL thì cần một số giải pháp theo chuyên gia Vũ Thành Long nhận định: • Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách về phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch. 2 • Tăng cường ứng dụng công nghệ tiên tiến trong các hoạt động du lịch. • Tăng cường tập huấn, bồi dưỡng, đào tạo và đào tạo lại cho NNL du lịch.
• Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tăng cường phối hợp liên ngành trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học. Đại dịch Covid -19 đã để lại những hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, từ thiệt hại về kinh tế đến sức khỏe, tính mạng con người…Ngành du lịch cũng không ngoại lệ. Theo thống kê từ WTTC (Hội đồng lữ hành thế giới) cho thấy chỉ trong hai năm 2020- 2021, đại dịch Covid -19 đã làm mất đi 62 triệu/334 triệu việc làm trong ngành du lịch. Từ đó, đặt ra nhiều vấn đề đối với NNL du lịch khi đất nước mở cửa trở lại.
Đồng quan điểm với GS. Nguyễn Văn Đính, bà Nguyễn Thanh Bình bổ sung và nhấn mạnh cần phát triển nguồn nhân lực theo cơ cấu hợp lý, cân đối về cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo, vừa đảm bảo số lượng nhưng cũng cần chú trọng chất lượng, tính chuyên nghiệp và đặc biệt trong ngành du lịch cần quan tâm phát triển đội ngũ thuyết minh viên du lịch, hướng dẫn viên du lịch, khuyến khích hình thành đội ngũ tình nguyện viên hướng dẫn, hỗ trợ khách du lịch (Mai Châu, 2022)… Để hỗ trợ cho ngành du lịch, Ông Lê Anh Tuấn – Vụ Trưởng Vụ Đào Tạo (Bộ văn hóa thể thao và du lịch) cho biết thêm, Bộ Văn Hoá Thể Thao và Du Lịch đã ban hành quyết định phê duyệt Đề án “Phát triển nguồn nhân lực du lịch thích ứng với tác động của đại dịch Covid-19 giai đoạn 2021-2030” trong đó xác định 3 nhóm giải pháp chính bao gồm: nhóm giải pháp hỗ trợ cấp bách nguồn nhân lực ngành du lịch, phát triển nguồn nhân lực của ngành thích ứng với đại dịch và chuẩn bị cho sự phục hồi (Mai Châu, 2022); nhóm giải pháp đảm bảo nguồn nhân lực ngành du lịch trong giai đoạn phục hồi sau đại dịch; và nhóm giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch trong giai đoạn phát triển (Mai Châu, 2022). Tuy nhiên, những giải pháp nêu trên của các chuyên gia nhằm giúp phát triển nguồn nhân lực chung cho ngành DL nhưng khi áp dụng vào từng loại hình doanh nghiệp du lịch thì thực sự có giúp cho từng doanh nghiệp du lịch phát triển được nguồn nhân lực hay không và hiện nay việc áp dụng những giải pháp nêu trên đạt được kết quả ra sao thì vẫn chưa được làm rõ và chưa có những số liệu và thông tin chính thức về kết quả đạt được và những giải pháp của các chuyên gia nêu ra phần lớn là áp dụng cho ngành du lịch, vậy thì từng DN trong ngành du lịch có thể vận dụng được giải pháp nào và thật sự các giải pháp dành cho ngành du lịch có phù hợp với từng loại hình doanh 3 nghiệp trong ngành du lịch hay không? Và đây là điều lo lắng, băn khoăn của các nhà quản trị DN du lịch trong ngành DL hiện nay. Do đó, để có bộ giải pháp toàn diện cho từng loại hình doanh nghiệp du lịch thì việc phát triển nguồn nhân lực cần phải có những giải pháp thật sự hữu ích, thiết thực và có thể áp dụng được thì việc phát triển nguồn nhân lực trong tất cả các doanh nghiệp trong ngành du lịch mới khả thi và có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng trong bối cảnh hội nhập toàn cầu như hiện nay.
Tuy nhiên, hiện tại việc áp dụng các giải pháp của các chuyên gia trong ngành DL vào từng loại hình DN du lịch thì chưa có thông tin và số liệu chính thức và kết quả đạt được ra sao khi áp dụng các chính sách chung cho ngành du lịch vào từng doanh nghiệp trong ngành du lịch thì vẫn chưa được làm rõ và còn mơ hồ; vì vậy việc nghiên cứu các giải pháp để phát triển NNL trong từng DN của ngành du lịch là điều cần thiết và quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Mặt khác, công tác quản lý nhà nước về bồi dưỡng và đào tạo nhân lực du lịch của ngành còn nhiều bất cập như sau: Thứ nhất, thiếu lao động lành nghề, tình trạng phổ biến là các doanh nghiệp sau khi tuyển dụng nhân sự vừa tốt nghiệp ở những nơi đào tạo thì các DN du lịch lại phải tiếp tục đào tạo lại, bổ túc, bồi dưỡng.thì mới có thể đáp ứng nhu cầu thực tế; Thứ hai, chất lượng của NNL du lịch Việt Nam chưa đáp ứng yêu cầu xã hội, còn nhiều điều phải bàn như trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ. “Số lao động chưa tốt nghiệp phổ thông trung học chiếm 30% trong tổng số lao động. Bên cạnh đó, tỷ lệ lao động có chuyên môn, nghiệp vụ về du lịch còn thấp, chỉ chiếm khoảng 43% tổng số lao động du lịch.
Còn phần lớn là lao động từ ngành khác chuyển sang hoặc lao động chưa qua đào tạo, bồi dưỡng. Trong tổng số lao động được đào tạo từ sơ cấp, trung cấp đến cao đẳng là 47,3%. Tỷ lệ được đào tạo đại học và sau đại học là 7,4%.