Chương 1 cũng nêu sơ lược về tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, xác định mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và đối tượng khảo sát, phạm vi và thời gian nghiên cứu của đề tài. Nhóm tác giả cũng trình bày trong chương này phương pháp nghiên cứu, tính mới và kết quả dự kiến của đề tài. 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LOGISTICS VÀ QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN NHÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ LOGISTICS CỦA CÁC CÔNG TY XUẤT KHẨU THỰC PHẨM TIÊU DÙNG NHANH Cơ sở lý luận về logistics 2. Khái niệm về dịch vụ logistics 2.
Khái niệm về logistics Quan điểm thịnh hành cho rằng thuật ngữ logistics xuất phát từ cuối thế kỷ XIX: bắt nguồn từ chữ logistique của Pháp và được sử dụng đầu tiên bởi nhà quân sự Baron de Jomini trong chiến tranh Napoleon với nghĩa: “một phân ngành của khoa học quân sự liên quan đến thu mua, bảo dưỡng và vận chuyển khí tài, nhân lực và trang thiết bị”. Một quan điểm phổ biến khác cho rằng logistics cấu thành từ hai chữ Hy Lạp: λόγος (Logos) mang hàm nghĩa “hợp lý, lý trí” và λογιστικός (logistikós) mang hàm nghĩa “sự tính toán hợp lý”; trong chiến tranh Hy Lạp – La Mã, những chiến binh có chức danh "logistikas" được giao nhiệm vụ chu cấp và phân phối vũ khí và nhu yếu phẩm. Như vậy, có thể thấy từ logistics ban đầu được sử dụng như một thuật ngữ trong bộ môn khoa học quân sự, sau này đã phát triển rộng ra các ngành khác trong cuộc sống và trở thành một bộ môn khoa học riêng biệt. Tại Việt Nam, logistics còn được hiểu theo nghĩa hẹp của nó là “hậu cần”, tuy nhiên từ này chưa bao hàm trọn vẹn ý nghĩa của logistics.
Hội đồng Quản trị Logistics (CLM) đưa ra định nghĩa về logistics như sau: “Logistics là một phần của chuỗi cung ứng bao gồm việc hoạch định, thực thi, và kiểm soát một cách hiệu quả dòng lưu chuyển và lưu trữ hàng hóa, dịch vụ và các thông tin có liên quan từ điểm đầu đến điểm tiêu thụ cuối cùng, nhằm đáp ứng yêu cầu khách hàng” (CLM, 1999). Hội đồng Chuyên gia Quản trị Chuỗi cung ứng (CSCMP), phát triển thay thế CLM, đưa ra định nghĩa cập nhật về logistics như sau: “Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách có hiệu quả việc lưu thông và lưu trữ hàng hoá, bao gồm dịch vụ và các thông tin có liên quan từ điểm xuất phát đến điểm tiêu thụ với mục tiêu đáp ứng các yêu cầu của khách hàng, quá trình này bao gồm các các hoạt động đầu vào, đầu ra, bên trong và bên ngoài” (CSCMP, 2013). 11 Có thể nhận ra có sự định nghĩa về logistics có sự phát triển không ngừng qua thời gian. Trong bài nghiên cứu này, có thể nêu lên định nghĩa chung về logistics như sau: Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí và thời điểm, tối ưu hóa việc vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu vào đầu tiên đến tay người tiêu dùng cuối cùng, nhằm đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dùng với chi phí thích hợp, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế (Đoàn Thị Hồng Vân, 2010).
Phân loại các loại hình dịch vụ logistics Sự phát triển của logistics như chúng ta biết ngày nay bắt nguồn từ những năm 1960, được đặc trưng bởi sự gia tăng tính kết nối giữa những nhiệm vụ chuyên biệt như vận tải, lưu kho, giao nhận… Có nhiều tiêu chí để phân loại các hoạt động logistics, trong đó bốn phương pháp phổ biến là phân loại theo hình thức, quá trình, đối tượng hàng hoá và phạm vi công việc. Phân loại theo hình thức, logistics hiện được chia thành 5 cấp bậc: 1PL, 2PL, 3PL, 4PL và 5PL (N. 1PL – Logistics bên thứ nhất (First Party Logistics) hay Logistics tự cấp: hầu như mọi khâu liên quan đến vận chuyển và lưu trữ hàng hóa để sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu,… đều do công ty tự cung cấp: phương tiện vận tải, nhà xưởng, thiết bị xếp dỡ và các nguồn lực khác, bao gồm cả con người, để hoàn thành chu trình Logistics. 2PL – Logistics bên thứ hai (Second Party Logistics) hay Cung cấp dịch vụ logistics bên thứ hai là các nhà cung cấp dịch vụ cho từng hoạt động đơn lẻ trong chuỗi hoạt động logistics như vận tải, kho vận, thủ tục hải quan, thanh toán,… nhằm đáp ứng nhu cầu của chủ hàng nhưng chưa tích hợp với hoạt động logistics (chỉ đảm nhận một khâu trong chuỗi logistics).
3PL – Logistics bên thứ ba (Third Party Logistics) hay Logistics theo hợp đồng là bên độc lập thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận như: thay mặt cho người gửi hàng thực hiện thủ tục XK, cung cấp chứng từ giao nhận – vận tải hoặc thay mặt cho người nhập khẩu làm thủ tục thông quan hàng hóa và đưa hàng đến điểm đến quy định,…3PL bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hoá, xử lý thông tin,…. có tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng. Sử dụng 3PL là việc 12 thuê các công ty bên ngoài để thực hiện các hoạt động logistics, có thể là toàn bộ quá trình quản lý logistics hoặc chỉ là một số hoạt động có chọn lọc. 4PL – Logistics bên thứ tư (Fourth Party Logistics) hay Logistics chuỗi phân phối, trong đó các NCC dịch bụ quản lý và thực hiện các hoạt động logistics phức tạp như quản lý nguồn lực, trung tâm điều phối kiểm soát, các chức năng kiến trúc và tích hợp các hoạt động logistics.
5PL – Logistics bên thứ năm (Fifth Party Logistics): mô hình này còn rất mới, là loại dịch vụ thị trường thương mại điện tử, bao gồm các 3PL và 4PL quản lý tất cả các bên liên quan trong chuỗi phân phối trên nền tảng thương mại điện tử. Loại hình này đòi hỏi các hệ thống CNTT mạnh như EDI, ERP,…để có thể hoạt động. Phân loại theo quá trình, logistics được phân chia thành 3 công đoạn: Logistics đầu vào, Logistics đầu ra và Logistics ngược (Stock, Lambert, 2001). Logistics đầu vào (Inbound logistics): quản lý dòng vật tư kỹ thuật sản xuất di chuyển từ nơi cung cấp đến doanh nghiệp sản xuất dưới dạng thô hay sơ chế; Logistics đầu ra (Outbound logistics): liên quan đến việc dịch chuyển hàng hóa từ điểm cuối cùng của dây chuyền sản xuất đến khách hàng.
Logistics ngược (Reverse logistics) hay còn gọi là Logistics thu hồi: quản lý dòng chảy ngược của sản phẩm và dịch vụ sau quá trình tiêu dùng về trở lại doanh nghiệp, như vỏ chai rỗng, linh kiện hư hỏng thay thế,… Phân loại theo đối tượng hàng hoá khá đa dạng, do tuỳ thuộc vào tính chất của từng ngành hàng (Alessandra, 2010). Logistics hàng tiêu dùng nhanh (FMCG logistics): là hoạt động logistics cho những mặt hàng tiêu dùng có thời hạn sử dụng ngắn và được tiêu dùng thường xuyên như thực phẩm, các loại hoá mỹ phẩm chăm sóc cơ thể, thuốc lá, khăn giấy, tã lót,… Logistics hàng điện tử (Electronic logistics): là hoạt động logistics phục vụ cho ngành hàng điện tử, linh kiện điện tử, sản phẩm công nghệ cao,… Logistics hàng hoá chất (Chemical logistics): là hoạt động logistics cho ngành hàng hoá chất và chế phẩm từ hoá chất, bao gồm cả các loại có tính độc và độ nguy hiểm cao. 13 Logistics dầu khí (Petroleum logistics), Logistisc ngành dược phẩm (Pharmaceutical logistics), Logistics ngành ô tô (Automotive logistics),… Theo phạm vi công việc, Alessandra, 2010 cũng phân loại logistics theo từng phân đoạn công việc chuyên sâu và nhiệm vụ của người thực hiện dịch vụ logistics. Có thể liệt kê ra một số loại hình điển hình như Logistics Thu mua (Procurement logistics), trong đó bao gồm nghiên cứu thị trường, quản lý nhà cung cấp, đặt hàng, kiểm soát đơn hàng,… Logistics phân phối (Distribution logistics) giữ vai trò phân phối thành phẩm đến tay khách hàng.
Logistics Nhân đạo, hay logistics khẩn cấp (Emergency logistics) nắm vai trò phân phối nhanh chóng hàng hoá, vật phẩm hoặc hàng cứu trợ trong trường hợp khẩn cấp, thiên tai. Logistics sản xuất (Production logistics) đảm bảo dây chuyền sản xuất nhận được đúng vật phẩm với đúng số lượng và phẩm chất vào đúng thời gian. Loại hình phân chia này vô cùng đa dạng, không cố định và tuỳ thuộc vào đặc điểm vận hành riêng của từng tổ chức. Có thể lấy ví dụ, từ những năm 1980 đã xuất hiện phạm trù Logistics xanh (green logistics) nhằm mô tả các hoạt động logistics có mục tiêu đo lường và tối thiểu hoá các tác động đến môi trường.
Còn có thể kể đến RAM logistics, xuất phát từ R – Reliability: đáng tin cậy, A – Availability: tính sẵn sàng, M – Maintainability: tính dễ bảo trì, nâng cấp, là hoạt động kết hợp giữa logistics quân sự và logistics kinh tế. Ngoài ra, còn có Logistics xây dựng (Construction logistics), logistics thắt chặt (Disposal logistics), logistics sau bán hàng (After-sale logistics),… 2. Khái niệm dịch vụ logistics Luật Thương mại Việt Nam 2005 quy định: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Có thể nhận xét rằng, định nghĩa của Luật thương mại đã không còn phù hợp với thực tiễn; khi mà hiện nay, dịch vụ logistics không còn giới hạn ở phần việc giao nhận hay làm thủ tục đơn thuần mà đã phát triển thành những hoạt động kinh tế mang tính tích hợp sâu vào hoạt động của các tổ chức, tạo giá trị gia tăng cao.
Dịch 14 vụ logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên, nhiên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng, trở thành công cụ liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu. Khái niệm nhà cung cấp dịch vụ logistics Nhà cung cấp (NCC) dịch vụ logistics (Logistics Service Provider – LSP) là bất kể loại hình kinh doanh nào cung cấp dịch vụ logistics (CSCPM, 2013).Luật Thương mại Việt Nam 2005 nêu định nghĩa: “Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật”. Những quy định cụ thể này được liệt kê trong Nghị định số 140/2007/NĐ-CP Quy định chi tiết về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics.