CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Cơ sở lý luận về sự thoả mãn của người lao động đối với công việc 2.1 Các khái niệm về sự hài lòng của người lao động đối với công việc - Sự hài lòng (sự toại nguyện, sự mãn ý, sự vừa lòng) , tiếng anh: satisfaction là một hiện tượng tâm lý của con người, tức là khi con người được giải quyết các đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của mình về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. - Sự hài lòng đối với công việc : Một trong những định nghĩa đầu tiên về sự hài lòng công việc và được trích dẫn nhiều nhất có thể kể tới định nghĩa của Robert Hoppock,1935 (trích trong Châu Văn Toàn, 2009). Tác giả cho rằng, việc đo lường sự hài lòng công việc bằng hai cách đó là đo lường sự hài lòng công việc nói chung và đo lường sự hài lòng công việc ở các khía cạnh khác nhau liên quan đến công việc. Ông cũng cho rằng sự hài lòng công việc nói chung không chỉ đơn thuần là tổng cộng sự hài lòng của các khía cạnh khác nhau, mà sự hài lòng công việc nói chung có thể được xem như một biến riêng.
Sự hài lòng công việc được định nghĩa chung là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của người nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc của họ. Nói đơn giản hơn, môi trường làm việc càng đáp ứng được nhu cầu, giá trị và tính cách của người lao động thì mức độ hài lòng công việc càng cao (Ellickson và Logsdon,2001). Sự hài lòng công việc như là sự phản ứng về mặc tình cảm và cảm xúc đối với khía cạnh khác nhau trong công việc của nhân viên. Nguyên nhân của sự hài lòng công việc bao gồm vị trí công việc, sự giám sát của cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ và các phần thưởng gồm thăng tiến, điều kiện vật chất của môi trường làm việc, cũng như cơ cấu của tổ chức (Schemerhon,1993; được trích dẫn bởi Luddy,2005).
Sự hài lòng công việc chỉ yếu phản ánh mức độ một cá nhân yêu thích công việc của mình. Đó chính là tình cảm hay cảm xúc của người nhân viên đó đối với công việc của mình (Kreitner và Kinicki,2007). Như vậy đã có rất nhiều các định nghĩa về sự hài lòng công việc nhưng tựu chung lại chúng ta có thể thấy rằng sự hài lòng công việc là việc người lao động LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 thấy yêu thích công việc và các khía cạnh của công việc, cảm thấy hài lòng, vừa ý đối với công việc đang thực hiện và các yếu tố khác xung quanh công việc.2 Các lý thuyết về sự hài lòng của người lao động đối với công việc 2.1 Tháp nhu cầu của Maslow Tháp nhu cầu của Maslow (Maslow’s hierarchy of needs) được nhà tâm lý học Abraham Maslow đưa ra vào năm 1943 trong bài viết A Theory of Human Motivation và là một trong những lý thuyết quan trọng nhất của quản trị marketing. Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia thành hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản ( basic needs) và nhu cầu bậc cao ( meta needs) Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ….Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày.
Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao. Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân…. Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao này.Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống….họ sẽ không quan tâm đến các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng…. Cấu trúc của Tháp nhu cầu có 5 tầng, trong đó, những nhu cầu con người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc kiểu kim tự tháp.
Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được hài lòng trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn. Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được hài lòng ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới ( phía đáy tháp) đã được đáp ứng đầy đủ. + 5 tầng trong tháp nhu cầu của Maslow Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc về “ thể lý” ( physiological)-thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi. Tầng thứ hai: nhu cầu an toàn ( safety)- cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Tầng thứ ba: nhu cầu được giao lưu tình cảm và được chấp nhận, bạn bè, xã hội( love/belonging) – muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy. Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến ( esteem)- cần có cảm giác được tôn trọng, kính mến, được tin tưởng. Tầng thứ năm: Nhu cầu về sự thể hiện bản thân ( self actualization) – muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt. Thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow được xem xét và ứng dụng vào nghiên cứu này tương ứng với các nhân tố đề xuất của đề tài, ví dụ: các nhu cầu cơ bản và an toàn có thể được thể hiện ở các biến đo lường về thu nhập, điều kiện làm việc.
Tương tự, sự thỏa mãn về nhu cầu được quý trọng và tự thể hiện thông qua các biến đo lường về lãnh đạo, đồng nghiệp, cơ hội đào tạo và thăng tiến Hình 2. Các cấp bậc của nhu cầu Maslow 2.2 Thuyết ERG của Alderfer( 1969) Clayton Alderfer ( giáo sư đại học Yale) đã tiến hành sắp xếp lại nghiên cứu của Maslow và đưa ra kết luận của mình, ông cho rằng: hành động của con người bắt nguồn từ nhu cầu- cũng giống như các nhà nghiên cứu khác – song ông cho rằng con người cùng một lúc theo đuổi việc hài lòng ba nhu cầu cơ bản : nhu cầu tồn tại, nhu cầu quan hệ và nhu cầu phát triển. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 (1) Nhu cầu tồn tại (Existence needs) bao gồm những đòi hỏi vật chất tối cần thiết cho sự tồn tại của con người, nhóm nhu cầu này có nội dung giống như nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn của Maslow (2) Nhu cầu quan hệ ( Relatedness needs) là những đòi hỏi về quan hệ và tương tác qua lại giữa các cá nhân.Nhu cầu quan hệ bao gồm nhu cầu xã hội và một phần nhu cầu tự trọng ( được tôn trọng) (3) Nhu cầu phát triển ( Growth needs) là đòi hỏi bên trong mỗi con người cho sự phát triển cá nhân, nó bao gồm nhu cầu tự thể hiện và một phần nhu cầu tự trọng ( tự trọng và tôn trọng người khác). Điều khác biệt ở thuyết này là Alderfer cho rằng con người cùng một lúc theo đuổi việc hài lòng tất cả các nhu cầu chứ không phải chỉ một nhu cầu như quan điểm Maslow.
Hơn nữa, thuyết này còn cho rằng trong khi một nhu cầu nào đó bị cản trở và không được hài lòng thì con người có xu hướng dồn nỗ lực của mình sang hài lòng các nhu cầu khác.Tức là nếu nhu cầu tồn tại bị cản trở, con người sẽ dồn nỗ lực của mình sang việc theo đuổi nhu cầu quan hệ và nhu cầu phát triển. Điều này giải thích khi cuộc sống khó khăn con người có xu hướng gắn bó với nhau hơn, quan hệ giữa họ tốt hơn và họ dồn nỗ lực đầu tư cho tương lai nhiều hơn. Thuyết ERG của Alderfer được xem xét và ứng dụng vào nghiên cứu này. Đó là nghiên cứu đã đưa ra nhiều biến độc lập khác nhau (sự hài lòng của các nhu cầu khác nhau), tức là có xét đến yếu tố bù đắp giữa các nhu cầu.
Một nhu cầu không được đáp ứng có thể bù đắp bởi nhu cầu khác, ví dụ không thể đáp ứng nhu cầu về thu nhập thì có thể bù đắp bằng môi trường làm việc, cơ hội đào tạo, thăng tiến….2 Thuyết ERG của Alderfer LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Thuyết hai nhân tố của Frederick Herzberg Thuyết hai nhân tố được nhà tâm lý học người Mỹ Frederick Herzberg khởi xướng năm 1959. Học thuyết này đã và đang được các nhà quản lý doanh nghiệp áp dụng rộng rãi. Để xây dựng học thuyết hai nhân tố , Herzberg đã tiến hành phỏng vấn 203 nhân viên kế toán và kỹ sư tại Mỹ. Phát hiện của Herzberg đã tạo ra một sự ngạc nhiên lớn vì nó đã đảo lộn nhận thức thông thường.
Các nhà quản lý thường cho rằng đối ngược với hài lòng là bất mãn và ngược lại. Nhưng, Herzberg lại cho rằng đối nghịch với bất mãn không phải là hài lòng mà là không bất mãn và đối nghịch với hài lòng không phải là bất mãn mà là không hài lòng. Học thuyết này chia các nhân tố thành hai loại: các nhân tố động viên và các nhân tố duy trì.Các yếu tố động viên gồm: thành đạt, bản thân công việc, sự thừa nhận, trách nhiệm, sự thăng tiến, tiến bộ. Nếu nhân viên được đáp ứng sẽ mang lại sự hài lòng trong công việc cho họ, ngược lại nhân viên sẽ không có sự hài lòng.
Các yếu tố duy trì gồm: chính sách và quy định quản lý của doanh nghiệp, sự giám sát, điều kiện làm việc, những mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, tiền lương, địa vị, công việc ổn định. Các nhân tố này nếu được đáp ứng sẽ không dẫn tới sự bất mãn trong công việc và ngược lại sẽ dẫn đến sự bất mãn. Thuyết hai nhân tố được xem xét và ứng dụng trong nghiên cứu đó là: những nhân tố làm hài lòng người lao động là khác với các nhân tố tạo ra sự bất mãn.