CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA NGHIÊN CỨU 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM 1. Quá trình phát triển của chuẩn mực kế toán Việt Nam Trước khi mở cửa hội nhập, Việt Nam không có chuẩn mực kế toán mà chỉ có chế độ kế toán.
Chế độ kế toán là các quy định do doanh nghiệp Nhà Nước ban hành chủ yếu để hướng dẫn các doanh nghiệp Nhà nước và Hợp tác xã thực hiện công tác kế toán. - Từ năm 1954 đến 1970: Miền bắc Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều của hệ thống kế toán Trung Quốc với các chế độ kế toán quy định cách thức ghi chép các nghiệp vụ cho các đối tượng cụ thể (ví dụ Chế độ kế toán xí nghiệp công nghiệp và Chế độ kế toán kiến thiết cơ bản được ban hành năm 1957). Tại miền Nam, trong giai đoạn 1954 – 1975, hệ thống kế toán Pháp theo tổng hoạch đồ vẫn được các doanh nghiệp sử dụng. Lý do là mặc dù chi phối nhiều đến chính trị, quân sự và kinh tế nhưng Hoa Kỳ không đưa hệ thống quản lý của họ vào Việt Nam vì ảnh hưởng của các doanh nghiệp châu Âu vào Việt Nam còn rất lớn thời bấy giờ.
- Sau ngày thống nhất đất nước năm 1975, hệ thống kế toán thống nhất 1970 được tiếp tục sử dụng trong cả nước cho đến khi Việt Nam tiến hành đổi mới. Trong xu hướng chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường được thể hiện trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), Nhà nước đã có nhiều thay đổi trong chính sách kế toán nhằm nâng cao tính pháp lý trong quản lý kinh tế như ban hành Pháp lệnh kế toán thống kê (1988). Trong thời gian này, đây là văn bản pháp lý cao nhất về kế toán và thống kê của Việt Nam. Hệ thống kế toán đầu tiên thể hiện hướng cải cách này được áp dụng năm 1990.
Một số nội dung mới phù hợp với yêu e 12 cầu của nền kinh tế mới phát sinh như chênh lệch tỷ giá đã được đưa vào kế toán thời kỳ này dù chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn ghi chép trên tài khoản. - Quá trình thực hiện chính sách đa phương hóa về ngoại giao và kinh tế những năm sau đó thúc đẩy những đổi mới trong nhiều lĩnh vực. Luật Đầu tư nước ngoài đầu tiên được ban hành năm 1987 đã thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp mạnh mẽ vào Việt Nam cũng như sự du nhập của các hệ thống kế toán nước ngoài vào Việt Nam. Hoạt động kinh tế phong phú hơn với nhiều thành phần kinh tế và các giao dịch mới đòi hỏi phải có những thay đổi mạnh mẽ hơn nữa trong kế toán.
- Trong quá trình hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới đòi hỏi những bước cải cách mới trong kế toán. Năm 1995, Việt Nam nộp đơn xin gia nhập Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO) và những chuẩn bị cần thiết cho hệ thống kế toán Việt Nam được đặt ra cho Bộ Tài chính. Được sự trợ giúp của EU, Việt Nam bắt đầu triển khai nghiên cứu và soạn thảo các chuẩn mực kế toán Việt Nam từ năm 1999. Trong gần 7 năm sau đó, cho đến năm 2006, Việt Nam đã ban hành được 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam trên nền tảng các chuẩn mực kế toán quốc tế của IASB.
Các chuẩn mực được ban hành từng đợt dưới hình thức một quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính, mỗi đợt ban hành chuẩn mực kèm theo một thông tư hướng dẫn để áp dụng vào hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp theo Quyết định 1141-TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 về việc ban hành Chế độ kế toán doanh nghiệp. Năm 2006, Bộ Tài chính ban hành Chế độ kế toán doanh nghiệp mới theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày tích hợp toàn bộ những yêu cầu của 26 chuẩn mực kế toán đã ban hành. Năm 2014, Bộ Tài chính đã chính thức ban hành Thông tư 202/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 về hướng dẫn lập và trình bày BCTC hợp nhất. Chuẩn mực chung và chuẩn mực trình bày BCTC theo hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam Chuẩn mực kế toán là những quy định do tổ chức có trách nhiệm nghiên cứu và ban hành để làm cơ sở cho việc lập và giải thích các thông tin trình bày trên BCTC.
Sự ra đời của chuẩn mực kế toán giúp minh bạch thông tin trên BCTC của doanh nghiệp, có khả năng phản ánh đúng về thực trạng của doanh nghiệp và cơ sở để so sánh tình hình tài chính giữa doanh nghiệp với nhau. Chuẩn mực kế toán gồm hai nguyên tắc, với nguyên tắc chung được hình thành do quá trình thực hành kế toán, nguyên tắc cụ thể được hình thành và xây dựng từ các các quy định của tổ chức quản lý. Chuẩn mực chung (VAS 01) Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và yêu cầu kế toán cơ bản, các yếu tố và ghi nhận các yếu tố của BCTC của doanh nghiệp. Trong hệ thống CMKT Việt Nam, Chuẩn mực chung (VAS 1) quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và yêu cầu kế toán cơ bản, các yếu tố và ghi nhận các yếu tố của BCTC doanh nghiệp.
Chuẩn mực chung quy định các vấn đề chung, làm cơ sở xây dựng và hoàn thiện các CMKT và chế độ kế toán cụ thể theo khuôn mẫu thống nhất; được xem là bộ khung để xây dựng các chuẩn mực mới và xem xét các chuẩn mực hiện hành. Chuẩn mực chung không thay thế các CMKT cụ thể, khi thực hiện thì căn cứ vào CMKT cụ thể. Trường hợp CMKT cụ thể chưa quy định thì thực hiện theo Chuẩn mực chung. Các nguyên tắc kế toán cơ bản trong nội dung Chuẩn mực chung (VAS01) bao gồm: cơ sở dồn tích, hoạt động liên tục, giá gốc, phù hợp, nhất quán, thận trọng và trọng yếu.
Các yêu cầu cơ bản đối với kế toán trong nội dung Chuẩn mực chung bao gồm: trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ e 14 hiểu và có thể so sánh. Các yếu tố của BCTC trong nội dung Chuẩn mực chung (VAS 01) hướng dẫn cụ thể về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp như sau: - Tình hình tài chính Các yếu tố có liên quan trực tiếp đến việc xác định và đánh giá tình hình tài chính là Tài sản, Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu. Những yếu tố này được định nghĩa như sau: Tài sản: Là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai; Nợ phải trả: Là nghĩa vụ hiện tại của doann nghiệp phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực của mình; Vốn chủ sở hữu: Là giá trị vốn của doanh nghiệp, được tính bằng số chênh lệch giữa giá trị tài sản của doanh nghiệp trừ (-) Nợ phải trả. - Tình hình kinh doanh Lợi nhuận là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu, thu nhập khác và chi phí. Doanh thu, thu nhập khác, chi phí và lợi nhuận là các tiêu chí phản ánh tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố doanh thu, thu nhập khác và chi phí được định nghĩa như sau: Doanh thu và thu nhập khác: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ động hoặc chủ sở hữu. Chi phí: Là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc e 15 phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu.
Chuẩn mực trình bày báo cáo tài chính (VAS 21) Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các yêu cầu và nguyên tắc chung về việc lập và trình bày BCTC gồm: Mục đích, yêu cầu, nguyên tắc lập BCTC; kết cấu và nội dung chủ yếu của các BCTC. Chuẩn mực VAS 21 quy định các nội dung sau: - Mục đích của BCTC Mục đích của BCTC là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Để đạt mục đích này BCTC phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về: Tài sản; Nợ phải trả; Vốn chủ sở hữu; Doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ; Các luồng tiền. - Yêu cầu lập và trình bày BCTC BCTC phải trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp.
Để đảm bảo yêu cầu trung thực và hợp lý, các BCTC phải được lập và trình bày trên cơ sở tuân thủ các CMKT, chế độ kế toán và các quy định có liên quan hiện hành của Việt Nam. Doanh nghiệp cần nêu rõ trong phần thuyết minh BCTC là BCTC được lập và trình bày phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam. BCTC được coi là lập và trình bày phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam nếu BCTC tuân thủ mọi quy định của từng chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hướng dẫn thực hiện CMKT Việt Nam của Bộ Tài chính. Trường hợp doanh nghiệp sử dụng chính sách kế toán khác với quy định của chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam, không được coi là tuân thủ chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, mặc dù đã thuyết minh đầy đủ trong chính e 16 sách kế toán cũng như trong phần thuyết minh BCTC.
- Nguyên tắc lập và trình bày BCTC gồm: Hoạt động liên tục, cơ sở dồn tích, nhất quán, trọng yếu và tập hợp, bù trừ. - Kết cấu và nội dung chủ yếu của BCTC Những thông tin chung về doanh nghiệp gồm tên, địa chỉ doanh nghiệp báo cáo; là BCTC riêng hay hợp nhất; Kỳ và ngày lập báo cáo; Đơn vị tiền tệ trong báo. Kỳ báo cáo: BCTC phải được lập ít nhất cho từng kỳ kế toán, trường hợp thay đổi phải nêu rõ lý do.