phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được bố cục thành ba chương: Chƣơng 1: Lý luận về nhân cách, nhân cách văn hóa và bối cảnh hình thành nhân cách văn hóa Mahathir Mohamad. Trong chương này, người viết tập trung xây dựng những lý luận cơ bản về nhân cách và nhân cách văn hóa – đây chính là cơ sở lý luận cần thiết để tạo tiền đề nghiên cứu cho nội dung chính của luận văn. Thông qua lý luận sẽ có những nhận định khái quát về nhân cách và nhân cách văn hóa từ góc nhìn văn hóa học, từ đó có cơ sở phản ánh đúng đắn về nhân cách văn hóa của Mahathir. Hai là bối cảnh hình thành nhân cách văn hóa Mahathir, bao gồm bối cảnh không gian, bối cảnh thời gian, bối cảnh lịch sử, gia đình, xã hội….nơi Mahathir sinh ra, học tập, hoạt động tạo dựng sự nghiệp để từ đó tạo nên một nhân cách văn hóa lỗi lạc.
Chƣơng 2: Mahathir Mohamad với tư cách là một Muslim Nội dung nghiên cứu chính ở chương 2 là những đặc trưng nhân cách đậm chất Islam góp phần tạo nên nhân cách văn hóa Mahathir. Những đặc trưng nhân cách này bao gồm: người Islam ôn hòa; kính trọng cha mẹ và yêu thương gia đình; tôn trọng quyền của người khác… Chƣơng 3: Mahathir Mohamad với tư cách là một nhà lãnh đạo đất nước. Chương 3 luận văn tập trung trình bày những đặc trưng nhân cách đậm chất thế tục cũng đã góp phần tạo nên nhân cách văn hóa Mahathir. Những đặc trưng nhân cách loại này bao gồm: tạo dựng công bằng xã hội; giải quyết mâu thuẫn tộc người; xây dựng đất nước Malaysia đoàn kết.
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ NHÂN CÁCH, NHÂN CÁCH VĂN HÓA VÀ BỐI CẢNH HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH VĂN HÓA MAHATHIR MOHAMAD 1. LÝ LUẬN VỀ NHÂN CÁCH VÀ NHÂN CÁCH VĂN HÓA 1. Khái niệm nhân cách và nhân cách văn hóa 1. Nhân cách Thuật ngữ nhân cách được biết đến như một đối tượng nghiên cứu của khoa học.
Xét về mặt từ nguyên, thuật ngữ nhân cách xuất phát từ tiếng La tinh cổ đại là “persona” và tiếng La tinh trung cổ là Personalitas, có nghĩa là mặt nạ, nó chỉ vẻ bên ngoài của một cá nhân, xuất phát từ tục sùng bái totem và sùng bái tổ tiên của người nguyên thủy. Tuy nhiên hai nhà khoa học nghiên cứu về nhân cách là Barry de Smith và Harlord J.Vietten lại không tán đồng lối giải thích trên. Hai ông phát 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biểu: “Tuy nhiên nghĩa của từ này không được sử dụng lâu dài vì nhân cách (personal) bao hàm rất nhiều ý nghĩa, có đặc điểm bên trong cũng như diện nào bên ngoài của con người ấy” [3, tr. Chính vì sự đa nghĩa và tính phức tạp của thuật ngữ nên có rất nhiều cuộc tranh luận và nhiều học thuyết ra đời nhằm tìm kiếm một sự lý giải trọn vẹn về nhân cách.
Đó là những học thuyết như Phân tâm học về nhân cách của S. Freud, Siêu đẳng và bù trừ của A. Adler… Sau này, nhân cách được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Từ góc độ của tâm lý học, con người được coi là sản phẩm của hoạt động sống, hoạt động sáng tạo của loài.
Khi nó đại diện cho loài, người ta gọi nó là cá thể, khi là thành viên của một tổ chức xã hội, nó được gọi là cá nhân, còn khi nó là chủ thể của một dạng hoạt động sáng tạo nào đó, người ta gọi nó là nhân cách. Từ góc độ của triết học, nhân cách là biểu hiện tập trung của tính chủ thể của con người. Chỉ với tính cách là chủ thể của hoạt động, con người mới có nhân cách. Và chỉ có con người có nhân cách độc lập mới có thể trở thành chủ thể đích thực.
Triết học Mác – Lênin xem nhân cách là “những cá nhân con người với tính cách là sản phẩm của sự phát triển xã hội, chủ thể của lao động, của sự giao tiếp, của nhận thức, bị quy định bởi những điều kiện lịch sử - cụ thể của đời sống xã hội” [12]. Với nhân cách riêng, mỗi cá nhân có khả năng tự ý thức về mình, làm chủ cuộc sống của mình, tự lựa chọn chức năng, niềm vui, trách nhiệm hoạt động cụ thể trong xã hội. Trong đó, đạo đức là thành phần quan trọng nhất, là gốc của nhân cách. Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức là toàn bộ những quy tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và với xã hội, chúng được thực hiện bới niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.
Muốn hiểu nhân cách phải dựa vào hoạt động của chủ thể để phân tích vì hoạt động là cơ sở của nhân cách. Việc nghiên cứu nhân cách phải xuất phát từ sự phát triển của hoạt động, những loại hình cụ thể của hoạt động và mối liên hệ của nhân cách của cá nhân ấy với những người khác. Từ góc độ của xã hội học, nhân cách là một sản phẩm tương đối muộn của sự phát triển xã hội. Cá thể phải trở thành chủ thể, tức là phải qua một quá trình phát triển thì mới thành nhân cách.
Nói theo Karl Marx, nhân cách được “sản sinh ra”, 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tương tự như ý thức được sản sinh ra, nhân cách được tạo ra bởi các mối quan hệ xã hội mà cá nhân gia nhập vào đó trong hoạt động của mình. Nhân cách là một cấu tạo chuyên biệt của con người, là sự tự ý thức xem xét các hoạt động của bản thân. Tổng hợp lại, có thể hiểu một cách khái quát nhân cách là một hệ thống dạng thức ứng xử đối với thế giới bên ngoài và với chính bản thân của từng con người, qua đó biểu hiện các phẩm chất và năng lực, thể hiện quan niệm về thang bậc giá trị đạo đức của họ. Từ cơ sở nghiên cứu những trường phái học thuật tiêu biểu khác nhau trên thế giới có quan tâm nghiên cứu về nhân cách, có thể đi đến kết luận về nhân cách như sau: Nhân cách xuất hiện khi một cá nhân có những hoạt động tương tác với cộng đồng xã hội và nhân cách bị chi phối, ảnh hưởng bởi nhiều vấn đề vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội.
Nhân cách văn hóa Từ điển Bách khoa Văn hóa học do A. Radugin chủ biên giới thiệu về nhân cách: “Bí mật thiêng liêng của nhân cách, tính sinh tồn siêu hình của nó là tinh thần tự do, thúc đẩy một cách sáng tạo sự phát triển của văn hóa khởi đầu từ những thế hệ trước đó. Thiên chức (ý nghĩa mục tiêu) của nhân cách là thực hiện tinh thần của bản thân, biến văn hóa thành yếu tố khởi đầu và bước phát triển của sáng tạo” [6, tr. Có thể cho rằng, định nghĩa trên đây của A.
Radugin chính là cầu dẫn đưa chúng ta đến với một khái niệm mang tính văn hóa học là “nhân cách văn hóa”. Vì nhân cách văn hóa là một vấn đề thuộc về văn hóa, nên trước khi tìm hiểu về nó thì phải biết rõ văn hóa là gì? Văn hóa là một khái niệm có ngoại diên rộng lớn và nội hàm phong phú. Cho đến ngày nay, người ta thống kê được hơn bốn trăm định nghĩa về văn hóa. Theo tác giả Trần Ngọc Thêm thì có hai cách để hiểu về văn hóa đó là cách hiểu theo nghĩa hẹp và cách hiểu theo nghĩa rộng: “Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian.
Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu như là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật…). Giới hạn theo chiều rộng văn hóa dùng để chỉ giá trị trong từng lĩnh vực (văn hóa giao tiếp, văn hóa kinh doanh…). Giới hạn theo không gian văn hóa được dùng để chỉ cho đặc thù của từng 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Giới hạn theo thời gian, văn hóa được dùng để chỉ giá trị trong từng giai đoạn (văn hóa Hòa Bình, văn hóa Đông Sơn…).
Theo nghĩa rộng, văn hóa được xem như là những gì do con người sáng tạo ra” [7, tr. Có nhiều cách hiểu và nhiều cách tiếp cận về văn hóa như thế, và UNESCO đã định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc” [7, tr. Như vậy có thể hiểu văn hóa là tất cả những vấn đề có liên quan đến cuộc sống con người.
Theo nhiều trường phái học thuật khác nhau thì mỗi nhân cách sống và hoạt động trong môi trường xã hội của mình thì đều có nhân cách. Nhưng để tiến đến việc xem xét nhân cách ấy có phải là nhân cách văn hóa hay không thì phải đặt nhân cách ấy vào hệ quy chiếu của văn hóa. Nghĩa là nhân cách ấy phải hội tụ bốn yếu tố là tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử và tính nhân sinh. Nếu thiếu một trong bốn yếu tố trên, ví dụ như có những nhân cách bị sa đọa nghĩa là không có tính giá trị thì nhân cách ấy vẫn tồn tại nhưng không phải là nhân cách văn hóa.
Văn hóa chính là môi trường nơi nhân cách xuất hiện và trưởng thành. Vì vậy, nhân cách văn hóa chỉ xuất hiện trong môi trường xã hội. Nhân cách văn hóa là những đặc trưng ứng xử của con người trong cộng đồng và có giá trị bền vững. Khi nhân cách của một cá nhân mang trong mình những đặc trưng của văn hóa thì nhân cách ấy được gọi là nhân cách văn hóa.
Vì vậy, các cách gọi như: “nhân cách văn hóa Mahathir Mohamad”, “nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh”…là hợp lý và thuyết phục. Nhân cách văn hóa là hệ thống những phẩm giá của một người được đánh giá từ mối quan hệ qua lại của người đó với thế giới tự nhiên và xã hội xung quanh, trong cái nhìn xuyên suốt quá khứ, hiện tại, tương lai. Nhân cách văn hóa được xây dựng và hình thành trong toàn bộ thời gian con người tồn tại trong thế giới và vẫn còn lưu lại sau khi người đó đã mất đi, như nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh đã trở thành tên gọi của cả một thời đại – thời đại Hồ Chí Minh.