Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 1993 - 2008, công cuộc đổi mới kinh tế đã giúp Việt Nam đạt được bước tiến vượt bậc khi đưa khoảng 30 triệu người thoát nghèo, giảm tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước từ 58,1% xuống còn 18,1% vào năm 2004. Tuy nhiên, khi áp dụng chuẩn nghèo mới giai đoạn 2011 - 2015 theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ với mức chuẩn 400.000 đồng/người/tháng cho khu vực nông thôn và 500.000 đồng/người/tháng cho khu vực thành thị, tỷ lệ nghèo toàn quốc năm 2010 đã tăng lên 14,2%. Thực tế này phản ánh một bộ phận lớn dân cư vẫn sống bấp bênh quanh ranh giới nghèo đói và rất dễ tổn thương trước các biến cố kinh tế. Khoảng cách thu nhập và điều kiện sống giữa đô thị và nông thôn, cũng như giữa người Kinh với các nhóm dân tộc thiểu số tiếp tục có xu hướng giãn rộng.

Luận văn tập trung giải quyết câu hỏi cốt lõi: Tại sao một số hộ gia đình rơi vào cảnh nghèo đói cùng cực trong khi những hộ khác lại vươn lên thành công, và những chiến lược sinh kế nào thực sự mang lại hiệu quả thoát nghèo bền vững? Nghiên cứu được thực hiện tại xã biên giới Lộc Thành, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước trong giai đoạn 2009 - 2013. Đây là địa bàn có 1.064 hộ dân với hơn 50% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số Khmer và S'Tiêng, sinh sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi đánh giá khách quan mục tiêu giảm nghèo 3% mỗi năm của địa phương, tương đương việc đưa 117 hộ thoát nghèo trong giai đoạn 2011 - 2013, đồng thời vạch rõ những lỗ hổng trong bình xét hộ nghèo theo tiêu chí thu nhập truyền thống.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng khung lý thuyết nghèo đa chiều do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế cùng Cơ quan Phát triển Quốc tế Australia xây dựng, nhìn nhận nghèo đói vượt ra ngoài khía cạnh thiếu hụt thu nhập thuần túy để bao hàm năm năng lực cơ bản của con người: kinh tế, con người, chính trị, văn hóa xã hội và khả năng chống chịu rủi ro. Tác giả kết hợp khung phân tích động thái nghèo đói của Krishna nhằm lý giải nguyên nhân đẩy các hộ gia đình rơi vào bần cùng hóa cũng như các yếu tố thúc đẩy thoát nghèo. Đồng thời, nghiên cứu kế thừa mô hình đánh giá vị thế kinh tế - xã hội dựa trên tài sản tích lũy của Ngan, Pincus và Sender.

Các khái niệm chính được sử dụng xuyên suốt bao gồm: chuẩn nghèo tuyệt đối theo thu nhập tối thiểu; chỉ số vị thế kinh tế - xã hội phản ánh mức sống qua điều kiện nhà ở, tài sản lâu bền và dinh dưỡng; tỷ lệ phụ thuộc trong hộ gia đình; thâm canh nông nghiệp và đa dạng hóa nguồn thu nhập nông thôn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành khảo sát thực địa trên cỡ mẫu gồm 100 hộ gia đình tại ba ấp tiêu biểu của xã Lộc Thành: ấp trung tâm K'Lieu, ấp Lộc Bình I nơi tập trung đồng bào S'Tiêng nghèo nhất xã, và ấp Cần Đực của đồng bào Khmer có mức sống khá giả hơn. Mẫu khảo sát bao gồm 36 hộ người Kinh, 30 hộ Khmer và 34 hộ S'Tiêng.

Do ranh giới giàu nghèo tại địa phương mang tính nhạy cảm và khó xác định chính xác qua danh sách hành chính, nghiên cứu lựa chọn phương pháp chọn mẫu quả cầu tuyết. Tác giả bắt đầu từ việc phỏng vấn sâu lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã, ban điều hành ấp, già làng và cán bộ đoàn thể, sau đó để các đối tượng được phỏng vấn giới thiệu tiếp các trường hợp hộ nghèo kinh niên và hộ khá giả tiêu biểu.

Để xử lý dữ liệu, tác giả sử dụng phương pháp phân tích thành phần chính trên phần mềm bảng tính nhằm xây dựng điểm số tài sản tổng hợp từ 10 chỉ báo nhị phân: vật liệu sàn nhà, vách tường, mái lợp, nhà vệ sinh hợp chuẩn, quyền sở hữu xe máy, xe đạp, tivi, tủ lạnh, máy giặt, máy vi tính và tần suất sử dụng thực phẩm giàu dinh dưỡng. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thành phần chính thay vì khảo sát thu nhập - chi tiêu truyền thống là nhằm triệt tiêu sai số do người dân không nhớ chính xác các khoản tiền lẻ tẻ, đồng thời cho phép kiểm chứng trực quan tại chỗ các tài sản hữu hình, đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy cao cho dữ liệu sơ cấp thu thập trong năm 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc làm bấp bênh và trình độ học vấn thấp là nguyên nhân trực tiếp giam hãm người dân trong bẫy nghèo. Có tới 41 trong tổng số 63 chủ hộ nghèo trong mẫu khảo sát (tương đương 65,1%) phải mưu sinh bằng nghề làm thuê thời vụ, trong đó 40 người làm thuê thuần nông với mức tiền công chỉ từ 90.000 đến 120.000 đồng/ngày. Vào mùa giáp hạt, họ chỉ tìm được việc từ 3 đến 5 ngày mỗi tháng. Về học vấn, 26 trên 41 lao động làm thuê hoàn toàn không được đi học, khiến họ không thể tiếp cận thị trường lao động chính thức.

Thứ hai, khoảng cách kinh tế giữa các nhóm dân tộc ngày càng phân hóa sâu sắc. Điểm số phân tích thành phần chính bình quân của người Kinh đạt mức dương 0,42, người Khmer đạt 0,10, trong khi người S'Tiêng rơi xuống mức âm 0,52. Tỷ lệ hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Lộc Thành tăng liên tục từ 60% năm 2009 lên 74% năm 2013. Đồng bào S'Tiêng chỉ sở hữu bình quân 0,93 ha đất canh tác trên mỗi hộ, thấp hơn một nửa so với mức 1,82 ha của người Kinh và 2,00 ha của người Khmer.

Thứ ba, hiệu quả sử dụng đất thấp kìm hãm thu nhập của nông dân nghèo. Mặc dù cùng canh tác cây điều, các hộ không nghèo đạt doanh thu bình quân 36 triệu đồng/ha/năm nhờ bón phân định kỳ mỗi năm một lần và phun thuốc bảo vệ thực vật hai lần mỗi vụ. Ngược lại, các hộ nghèo chỉ thu về 14,9 triệu đồng/ha/năm (thấp hơn 58,6%) do thiếu vốn đầu tư phân bón và bỏ bê chăm sóc.

Thứ tư, cú sốc thị trường và bẫy nợ tín dụng đen đẩy nhiều gia đình vào cảnh trắng tay. Cuối thập niên 1990, khi giá hồ tiêu giảm sốc tới 90% so với mức đỉnh 110.000 - 120.000 đồng/kg, 6 hộ gia đình người Kinh tại ấp Tân Bình II đã mất toàn bộ đất đai vì không thể trả nợ ngân hàng. Bên cạnh đó, có 7 hộ gia đình rơi vào bần cùng hóa do chi phí y tế khẩn cấp khi người thân mắc bệnh hiểm nghèo hoặc gặp tai nạn giao thông, buộc phải vay nợ tư nhân với lãi suất cắt cổ lên tới 6%/tháng.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực địa cho thấy nghèo đói không phải là một trạng thái tĩnh mà là kết quả của sự tích tụ nhiều bất lợi liên hoàn. Khi đối chiếu với các nghiên cứu kinh tế học phát triển quốc tế, quan điểm tăng trưởng có lợi cho người nghèo chỉ phát huy tác dụng khi người nghèo sở hữu năng lực tiếp cận tư liệu sản xuất.

Dữ liệu phân bố điểm số tài sản của 100 hộ khảo sát có thể được mô tả trực quan qua biểu đồ phân phối chuẩn lệch dương, với điểm yếu vị tại mức âm 1,07 và giá trị trung bình là âm 0,05. Khoảng cách điểm số trải rộng từ âm 2,29 đến dương 1,69 phản ánh sự phân tầng giàu nghèo gay gắt. Một bảng so sánh cơ cấu cây trồng sẽ làm nổi bật sự vượt trội của cây cao su (mang lại doanh thu bình quân hơn 140 triệu đồng/hộ/năm) so với cây điều truyền thống (khoảng 23 triệu đồng/hộ/năm).

Nghiên cứu cũng chỉ ra hạn chế của tiêu chí nghèo dựa trên thu nhập 400.000 đồng/người/tháng. Mức thu nhập này chỉ đủ đảm bảo nhu cầu năng lượng 2.100 Kcal/ngày chứ không đủ tạo lập tích lũy. Áp lực hoàn thành chỉ tiêu hành chính giảm 3% hộ nghèo mỗi năm dẫn đến tình trạng gạch tên cơ học các hộ thực sự khó khăn ra khỏi danh sách hỗ trợ. Đồng thời, việc thực thi chính sách trợ cấp người cao tuổi neo đơn theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP bị sai lệch khi 8 trong số 12 cụ nhận trợ cấp thực tế vẫn sống cùng hoặc nhận phụng dưỡng đầy đủ từ con cái khá giả.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, rà soát và chuẩn hóa quy trình phân loại hộ nghèo cấp cơ sở. Ủy ban nhân dân xã Lộc Thành cần chuyển đổi phương thức rà soát từ ước tính thu nhập sang áp dụng bộ tiêu chí vị thế kinh tế - xã hội đa chiều dựa trên tài sản và khả năng tiếp cận dịch vụ công. Cần tổ chức thanh tra, loại bỏ 66,7% số hồ sơ nhận trợ cấp không đúng thực tế theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP trong quý 1 hàng năm để chuyển giao nguồn ngân sách này cho 4 cụ già neo đơn đặc biệt khó khăn.

Thứ hai, đổi mới phương thức khuyến nông và hỗ trợ vốn thâm canh theo nhóm. Trạm Khuyến nông huyện Lộc Ninh cần chấm dứt hình thức giảng dạy lý thuyết thuần túy trong hội trường, chuyển sang xây dựng các mô hình trình diễn thâm canh điều và cao su trực tiếp trên vườn rẫy. Cần phối hợp với các già làng, người có uy tín trong từng sóc để hướng dẫn kỹ thuật cho đồng bào dân tộc thiểu số. Hội Nông dân tỉnh Bình Phước cần ưu tiên phân bổ nguồn vốn 20 tỷ đồng từ Quỹ Hỗ trợ Nông dân cho các tổ hợp tác vay không cần thế chấp tài sản, đặt mục tiêu nâng năng suất điều của hộ nghèo từ 1,0 tấn/ha lên 2,0 tấn/ha trong vòng 2 năm.

Thứ ba, mở rộng mạng lưới đào tạo nghề cạo mủ cao su và giải quyết việc làm phi nông nghiệp. Hội Liên hiệp Phụ nữ và Đoàn Thanh niên xã cần liên kết với Công ty Cao su Bình Long tổ chức các khóa dạy nghề cạo mủ cao su miễn phí cho 100% lao động nghèo trong độ tuổi. Kỹ năng này giúp người lao động nhận mức lương ổn định 5,5 triệu đồng/tháng cùng tiền thưởng cuối năm khoảng 30 triệu đồng. Đồng thời, ngành giáo dục địa phương cần đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng học sinh sinh viên theo Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg xuống tận cấp trung học cơ sở nhằm ngăn chặn tình trạng 100% trẻ em thuộc các hộ đông con bỏ học sớm.

Thứ tư, thiết lập quỹ tương trợ khẩn cấp tại cộng đồng ngăn chặn bẫy tín dụng đen. Ban điều hành các ấp cần nhân rộng mô hình quỹ tương trợ tự quản (như ấp K'Lieu đã tiết kiệm từ kinh phí lễ hội Chol Chnam Thmay) để cung cấp các khoản vay khẩn cấp từ 10 đến 20 triệu đồng với lãi suất 0% cho các hộ gặp tai nạn hoặc bệnh tật hiểm nghèo. Giải pháp này giúp triệt tiêu hoàn toàn nhu cầu tiếp cận nguồn vốn tư nhân lãi suất 6%/tháng, bảo vệ tư liệu sản xuất cho người dân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Dân tộc và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh miền núi, biên giới. Kết quả nghiên cứu cung cấp căn cứ thực tiễn để hoàn thiện bộ công cụ đo lường nghèo đa chiều và khắc phục căn bệnh hành chính hóa chỉ tiêu giảm nghèo tại cơ sở.

Nhóm thứ hai là các chuyên gia, cán bộ dự án thuộc các tổ chức phi chính phủ và định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới, UNDP hay Oxfam. Báo cáo cung cấp một nghiên cứu tình huống điển hình về phương pháp can thiệp sinh kế dựa trên chuỗi giá trị nông nghiệp và mô hình chăn nuôi liên kết nhóm 14 hộ thành công tại vùng sâu vùng xa.

Nhóm thứ ba là các giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Chính sách công, Kinh tế phát triển và Xã hội học. Luận văn đóng vai trò tài liệu tham khảo mẫu mực về kỹ thuật ứng dụng phương pháp phân tích thành phần chính trong nghiên cứu định lượng mức sống hộ gia đình.

Nhóm thứ tư là đội ngũ cán bộ khuyến nông, ban quản lý chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và lãnh đạo chính quyền cấp xã. Nghiên cứu cung cấp bài học thực tế về việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ độc canh sang đa dạng hóa nguồn thu bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao chuẩn nghèo thu nhập 400.000 đồng/người/tháng giai đoạn 2011 - 2015 chưa phản ánh thực chất tình trạng nghèo tại nông thôn? Mức thu nhập 400.000 đồng chỉ tương đương 4 ngày công lao động phổ thông với mức tiền công 100.000 đồng/ngày. Khoản tiền này chỉ vừa đủ cung cấp khẩu phần ăn tối thiểu 2.100 Kcal/ngày mà hoàn toàn không có khả năng trang trải chi phí giáo dục, y tế hay tạo tích lũy phòng ngừa rủi ro mùa vụ.

Phương pháp phân tích thành phần chính khắc phục nhược điểm nào của khảo sát truyền thống? Phương pháp phân tích thành phần chính lượng hóa 10 chỉ báo tài sản và điều kiện sinh hoạt cụ thể như nền nhà gạch, mái ngói, xe máy, nhà vệ sinh. Các chỉ báo này có thể quan sát trực tiếp tại chỗ, loại trừ hoàn toàn sai số do người dân nhớ sai hoặc cố tình che giấu thu nhập thực tế.

Nguyên nhân căn bản nào khiến đồng bào dân tộc S'Tiêng có tỷ lệ nghèo cao hơn người Kinh và Khmer? Tình trạng nghèo của người S'Tiêng bắt nguồn từ sự bất lợi kép: học vấn rất thấp (trung bình chỉ 0,74 năm đến trường, 20/24 chủ hộ làm thuê không biết chữ) và diện tích đất canh tác hạn hẹp (bình quân 0,93 ha/hộ). Do đó họ bị mắc kẹt vào các công việc làm thuê thời vụ với thu nhập bấp bênh.

Mô hình đa dạng hóa nguồn thu nào giúp các hộ gia đình thoát nghèo hiệu quả nhất trong nghiên cứu? Hơn 21% hộ không nghèo đã kết hợp trồng cao su, tiêu với chăn nuôi bò, dê (thu lãi 2 triệu đồng/con) hoặc tham gia câu lạc bộ nuôi gà thả vườn 14 thành viên. Mô hình này giúp nông dân mua thức ăn giá sỉ, kiểm soát dịch bệnh và có nguồn thu thường xuyên để tái đầu tư vườn rẫy.

Yếu tố nào là nguyên nhân phổ biến nhất đẩy một hộ gia đình rơi vào cảnh bần cùng hóa đột ngột? Chi phí y tế đột xuất và gánh nặng bồi thường tai nạn là tác nhân tàn phá kinh tế nặng nề nhất. Khi phải chi trả từ 30 đến 40 triệu đồng viện phí mà không có bảo hiểm, người dân buộc phải vay tín dụng đen với lãi suất 6%/tháng rồi bán sạch đất đai để trả nợ.

Kết luận

  • Tỷ lệ nghèo tại xã Lộc Thành giảm từ 17% năm 2011 xuống 11% năm 2013 nhưng khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa người Kinh và đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng mở rộng khi người thiểu số chiếm tới 74% tổng số hộ nghèo.
  • Tình trạng nghèo đói tại địa phương là hệ quả của vòng luẩn quẩn giữa việc làm thời vụ bấp bênh, học vấn thấp, thiếu tư liệu sản xuất và gánh nặng tỷ lệ phụ thuộc cao trong gia đình.
  • Thâm canh nông nghiệp đúng quy trình kỹ thuật giúp tăng gấp đôi doanh thu cây điều lên 36 triệu đồng/ha/năm, kết hợp với đa dạng hóa vật nuôi và sở hữu kỹ năng nghề cạo mủ cao su là ba trụ cột vững chắc nhất để thoát nghèo.
  • Chính sách an sinh xã hội theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP cần được chuẩn hóa quy trình thẩm định để xóa bỏ triệt để tình trạng 66,7% đối tượng nhận trợ cấp không đúng thực tế.
  • Các địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số cần khẩn trương thành lập quỹ tương trợ khẩn cấp tại cộng đồng và mở rộng vốn vay học sinh sinh viên theo Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngay trong niên khóa mới để ngăn chặn nguy cơ tái nghèo liên thế hệ.