phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo và các bảng phụ lục, luận văn kết cấu gồm 2 chương 4 tiết. Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC KINH TẾ DU LỊCH THỦ ĐÔ HÀ NỘI 1. Kinh tế du lịch và nguồn nhân lực kinh tế du lịch 1. Du lịch và kinh tế du lịch * Quan niệm về du lịch - Thuật ngữ Du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa đi một vòng.
Thuật ngữ này được La tinh hoá thành tornus và sau đó thành tourisme (tiếng Pháp), tourism (tiếng Anh). Cho đến nay có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm Du lịch. Chẳng hạn, có tác giả tập trung giải thích du lịch như một hiện tượng di chuyển, lưu trú ngoài nơi cư trú thường xuyên; nhóm khác lại tập trung vào bản thân du khách và khía cạnh kinh tế của Du lịch. Ở Việt Nam, khái niệm được nêu trong Luật Du lịch (2005) như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [13, Khoản 1, Điều 4].
Đây là một định nghĩa súc tích, mang tính khái quát, bao hàm được cả 2 khía cạnh cơ bản của du lịch là chuyến đi ngoài nơi cư trú với mục đích tham quan nghỉ dưỡng và các hoạt động liên quan đến chuyến đi đó. Do vậy, luận văn chọn cách định nghĩa này trong Luật Du lịch. * Kinh tế du lịch và đặc điểm của kinh tế du lịch Kinh tế du lịch Cùng với sự phát triển của hoạt động du lịch là hoạt động kinh doanh du lịch. Kinh tế du lịch từng bước trở thành một bộ phận hợp thành của hoạt động kinh tế - xã hội, lấy sự phát triển các loại hình kinh doanh du lịch, biến các tài nguyên du lịch của một quốc gia, một vùng lãnh thổ thành những hàng hóa và dịch vụ du lịch đáp ứng nhu cầu cho du khách.
Luan van Để đáp ứng nhu cầu đó, đã xuất hiện các nghề mới trong dân chúng ở các vùng có tài nguyên du lịch như kinh doanh du lịch, nhà hàng, môi giới, hướng dẫn du lịch. Hàng loạt các cơ sở chuyên phục vụ du lịch như khách sạn, quán ăn, cửa hàng, tiệm giải khát, dịch vụ cho thuê, giặt là, mát xa. cùng các tổ chức du lịch và đội ngũ phục vụ du khách lần lượt ra đời. Từng bước hình thành một ngành nghề mới là ngành kinh doanh du lịch và theo đó xuất hiện một thị trường mới là thị trường du lịch.
Trong cuốn Kinh tế du lịch, Tiến sỹ Nguyễn Hồng Giáp cho rằng: “Toàn bộ kinh tế du lịch là một hệ thống gồm những phần nhỏ hay là tiểu hệ thống, nguyên nó có thể chia nhỏ ra thêm nữa và những biến số độc lập với nhau cho phép biến đầu vào (nguồn nhân lực, nguyên liệu, tư bản, khoa học kỹ thuật) thành đầu ra (sản phẩm và dịch vụ) [27, tr. Đây là cách tiếp cận kinh tế du lịch dưới góc độ lý thuyết kinh tế học hiện đại theo hướng quan tâm đến toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia ở tầm vĩ mô như sản lượng quốc gia, thu nhập quốc dân, tiêu dùng các hộ gia đình, chi tiêu quốc gia, tiết kiệm, đầu tư, thất nghiệp, việc làm, tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế. Từ điển Bách khoa Việt Nam cho rằng: “Kinh tế du lịch một loại hình kinh tế có tính đặc thù mang tính dịch vụ và thường được xem như ngành công nghiệp không khói, gồm có du lịch quốc tế và du lịch trong nước, có chức năng nhiệm vụ tổ chức việc khai thác các tài nguyên và cảnh quan của đất nước (tài nguyên thiên nhiên, phong cảnh, kinh tế, văn hóa, lịch sử, v.) nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, tổ chức buôn bán, xuất nhập khẩu tại chỗ hàng hóa và dịch vụ cho khách du lịch. Từ các cách định nghĩa kinh tế du lịch trên đây cho thấy, để đưa ra khái niệm về kinh tế du lịch dưới góc độ kinh tế chính trị cần phải có sự thống nhất trong quá trình nhận thức trên các mặt cơ bản như sau: một là, kinh tế du lịch phản ánh lực lượng sản xuất xã hội ở một trình độ phát triển trong một giai đoạn lịch sử nhất định, nó luôn luôn gắn liền với quá trình phát triển của con người, thể hiện rõ nét nhất trong quá trình sản xuất và tiêu dùng của con người ở một trình độ cao hơn, sản xuất hàng hóa và dịch vụ đa dạng, phong phú hơn.
Hai là, kinh tế du lịch ngày nay đã và đang trở thành ngành kinh tế có thu nhập cao, tốc độ phát triển nhanh, là ngành kinh tế mũi nhọn, tổng hợp có liên quan mật thiết với nhiều ngành kinh tế khác trong một quốc gia của nhiều nước trên thế giới. Ba là, kinh tế du lịch góp phần tăng cường mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất và tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ du lịch. Bốn là, quá trình phát triển kinh tế du lịch góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho con người, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, tác động Luan van nhiều chiều, đến nhiều lĩnh vực trong đời sống của một đất nước trong đó bao hàm cả quốc phòng, an ninh. Từ những vấn đề cần nhận thức nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm kinh tế du lịch như sau: Kinh tế du lịch là một ngành kinh tế kinh doanh trên lĩnh vực du lịch dịch vụ, nó là một loại hình kinh tế tổng hợp, là quá trình tổ chức khai thác các tài nguyên du lịch của đất nước thành sản phẩm du lịch phục vụ du khách trong và nước ngoài, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con người, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.
Đặc điểm của kinh tế du lịch Đặc điểm của kinh tế du lịch là tập hợp các hoạt động về tổ chức, quản lý kinh doanh du lịch trên một phạm vi rộng, sử dụng nhiều lao động, đồng thời cũng tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội. Nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động kinh doanh của các cá nhân, tổ chức, các nước trong lĩnh vực du lịch, các đối tượng tiêu dùng sản phẩm du lịch có thể khái quát những đặc điểm cơ bản của kinh tế du lịch trên các vấn đề sau: Một là: Kinh tế du lịch là các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch. Trong kinh doanh du lịch, các yếu tố đầu vào và đầu ra kết hợp, tác động lẫn nhau rất năng động, luôn luôn gắn bó với nhau chặt chẽ. Điều đó có nghĩa là trên cơ sở tài nguyên du lịch, chủ thể kinh doanh du lịch (cá nhân hoặc là tổ chức) sản xuất ra những sản phẩm vật chất hoặc phi vật chất đáp ứng nhu cầu thưởng ngoạn của du khách.
Sự vận hành của kinh tế du lịch lấy tiền tệ làm trung gian môi giới, thông qua hoạt động trao đổi sản phẩm du lịch giữa du khách với người kinh doanh du lịch, lấy vận động mâu thuẫn giữa cung và cầu sản phẩm du lịch làm đặc trưng chủ yếu. Hai là: Trong nền kinh tế thị trường, việc thực hiện thông suốt hoạt động kinh tế du lịch được quyết định bởi sự điều hoà nhịp nhàng giữa cung và cầu du lịch. Việc cung cấp sản phẩm du lịch không thể tách rời nhân tố kinh tế - kỹ thuật và kinh tế - xã hội. Vì thế, sự vận hành kinh tế du lịch tất nhiên chịu Luan van ảnh hưởng và chế ước của những điều kiện kinh tế - xã hội.
Hoạt động kinh doanh du lịch có hiệu quả hay không là phụ thuộc rất lớn đến cầu tiêu dùng của du khách. Chất lượng của một sản phẩm du lịch được xác định dựa vào sự chênh lệch giữa mức độ kỳ vọng và mức độ cảm nhận về chất lượng của du khách. Chất lượng của sản phẩm du lịch được đánh giá đều mang tính chủ quan, phụ thuộc vào nhu cầu thị hiếu, mức độ thỏa mãn nhu cầu của du khách. Bởi vì, nhu cầu tiêu dùng sản phẩm du lịch là nhu cầu mang tính đặc thù, tức là những nhu cầu của du khách mà nơi họ sinh sống không thể có được chứ không phải là những thứ cao cấp hoặc quý hiếm.
Trên thị trường du lịch, sự trao đổi sản phẩm du lịch và tiền tệ do hai bên cung, cầu du lịch tiến hành mà không làm thay đổi quyền sở hữu sản phẩm du lịch, trong quá trình chuyển đổi cũng không xảy ra sự chuyển dịch sản phẩm, chỉ là du khách có quyền chiếm hữu tạm thời sản phẩm du lịch tại nơi du khách đến để thực hiện cầu du lịch của mình. Cùng một sản phẩm du lịch có thể vẫn bán được nhiều lần cho nhiều du khách khác nhau sử dụng. Tất cả những tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn chỉ trở thành sản phẩm du lịch khi nó được con người đầu tư, tôn tạo để phục vụ cho hoạt động kinh doanh du lịch. Đây chính là một đặc điểm hết sức cơ bản của kinh tế du lịch.
Ba là: Kinh tế du lịch có môi trường hoạt động rộng rãi, khả năng liên kết cao với các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân và với các ngành, các lĩnh vực kinh tế khác của các nước trên thế giới. Kinh tế du lịch là ngành kinh tế tương đối tổng hợp, bởi hoạt động kinh doanh biểu hiện nhiều mặt trong lĩnh vực của đời sống con người như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. cho nên khi được tổ chức khoa học, điều hoà nhịp nhàng, các khâu các bước luân chuyển hợp lý, cơ chế quản lý đồng bộ, đa dạng về hình thức sở hữu phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất sẽ tạo ra hiệu quả hơn trong sản xuất kinh doanh và góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển ngày càng cao hơn. Luan van Bốn là: Kinh tế du lịch mang tính thời vụ là chủ yếu.
Các nước có ngành kinh tế du lịch phát triển sau thì đặc điểm này biểu hiện rất rõ, bởi vì các nước đi sau thường ứng dụng khoa học - công nghệ chưa được rộng rãi, chưa đủ điều kiện để khắc phục tác động của thiên nhiên đến quá trình sản xuất kinh doanh như: mưa, gió, bão, nóng, lạnh, lụt lội, hạn hán. sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, sản xuất không theo kịp thời vụ.