CHƯƠNG 1: SỰ TRỖI DẬY CỦA TRUNG QUỐC TRONG HỆ THỐNG QUỐC TẾ 1. Chính sách mở cửa phát triển đất nước của Đặng Tiểu Bình - bước khởi đầu phục hưng Trung Hoa 1. Trung Quốc trước công cuộc cải cách Trải qua hàng ngàn năm lịch sử cùng ba cuộc nội chiến, cuối cùng, vào ngày 1 tháng 10 năm 1949, Chủ tịch Mao Trạch Đông đã tuyên bố thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Trong thời kỳ làm Chủ tịch nước, ông đã theo mô hình xã hội chủ nghĩa, kinh tế tập trung vào nhà nước (The People’s commune: Công xã nhân dân) với mục đích là phát triển những dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn.
Dù đạt được những thành tựu nhất định trong việc xây dựng hệ thống hành chính nhà nước và mô hình kinh tế tập trung, phát triển giáo dục, nhưng việc tập trung cao độ kế hoạch hóa và phủ nhận vai trò của thị trường đã dẫn đến việc mất cân đối giữa lượng cung và cầu (Fang, Garnaut, và Song 2018). Vì vậy, điều này đã làm cho việc tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đi xuống theo số âm và lạc hậu, cũng như kéo theo một loạt hệ quả tiêu cực tác động đến đời sống xã hội và hơn thế nữa là kéo theo cả hệ thống chính trị đi xuống (Binder & La Palombara 2015). Từ đó, các nhân tố này đã hình thành nên các tác động tiêu cực, ảnh hưởng lớn đến tình hình đối nội lẫn đối ngoại của Trung Quốc. Chính sách cải cách mở cửa đất nước của Đặng Tiểu Bình Nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình cùng chính sách Cải Cách (Reform): Cải cách kinh tế theo định hướng thị trường và Mở Cửa (Opening): Tập trung vào kinh tế xuyên biên giới - gắn kết với thế giới tự do bên ngoài (Delisle & Goldstein 2019, tr.
Sự thay đổi chính sách cải cách và mở cửa kinh tế đã tạo nên những sự thay đổi và phát triển kinh tế rõ ràng tại các khu vực nông thôn, cũng như ngày càng nhiều doanh nghiệp được phát triển và chủ động hơn trong các hoạt động thương mại kể cả trong nước và ngoài nước. Tuy nhiên, việc triển khai cải cách kinh tế vẫn còn nhiều hạn chế tại nông thôn so với đô thị dẫn đến tỷ lệ chênh lệch giàu nghèo ở Trung Quốc ngày càng lớn. Chính sách này đã tạo nên bước khởi đầu phục hưng Trung Hoa. Có thể nói, đây là chính sách quan trọng làm thay đổi cả nền kinh tế của Trung Quốc theo một hướng mới năng động và nhiều cơ hội để phát triển vượt bậc (Morrison 2006).
Không chỉ vậy, nó đã trở thành một trong những điểm then chốt trong việc đánh dấu sự trỗi dậy, và từng bước thực hiện hóa “giấc mộng Trung Hoa” thông qua những chính sách 10 đối ngoại nhằm thay thế vai trò lãnh đạo thế giới của Hoa Kỳ (Mohanty 2013). Điều này mang đến mối đe dọa cho Mỹ và dẫn đến những tương tác gây căng thẳng đối đầu cho hai bên vì những lợi ích và mục đích chủ quan của cả hai phía (Friedberg 2005). Cụ thể phải chăng Hoa Kỳ đã thách thức con hổ như trong cảnh báo của Napoleon “Hãy để Trung Quốc ngủ yên, vì khi thức dậy, nó sẽ làm rung chuyển thế giới”? (Brzezinski & Lê 1999). Khôi phục mối quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ - Yếu tố quyết định cho Trung Quốc ngày càng phát triển 1.
Khái quát lịch sử quan hệ giao Hoa Kỳ - Trung Quốc từ năm 1949 Kể từ khi Trung Quốc thành lập năm 1949 cho đến năm 1969, quan hệ ngoại giao giữa nước này và Hoa Kỳ vẫn trong tình trạng đóng băng và luôn trong đà căng thẳng. Không chỉ có những xung đột trong vấn để khủng hoảng eo biển Đài Loan (các năm 1954, 1956 và xu thế này vẫn còn tiếp diễn cho đến năm 1996 về sau), hay việc Trung Quốc theo lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản mà còn là xung đột về ý thức hệ, chính trị và kinh tế trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh (1946-1989) của hai nước Mỹ và Liên Xô. Vì vậy, điều này đã dẫn đến nhiều hệ quả tiêu cực đối với Trung Quốc khi Hoa Kỳ có những biện pháp siết chặt, trừng phạt: Không công nhận chủ quyền, kêu gọi các nước cô lập ngoại giao với Trung Quốc, liên minh thiết lập quân sự nhằm kiềm chế sự phát triển của Trung Quốc. Trong giai đoạn từ năm 1969 đến 1979, căng thẳng xung đột biên giới Trung Quốc - Liên Xô diễn ra khiến cho hai nước này có những chia rẽ và trở thành kẻ thù của nhau.
Qua đây, Trung Quốc và Hoa Kỳ đã bắt đầu có những hợp tác dựa trên những lợi ích cốt lõi được thể hiện qua chính sách ngoại giao. Với bước đầu bình thường hóa mối quan hệ ngoại giao kết nối hai nước qua “ngoại giao bóng bàn” để trở thành đối tác. Tiếp đến, vào tháng 4/1971 hai nước đã có những động thái ngoại giao bí mật lẫn công khai để tạo nền tảng cho việc nối lại mối quan hệ ngoại giao giữa hai nước và đưa ra những hiệp định ký kết để đi đến bình thường hóa mối quan hệ. Tuy vậy, trong giai đoạn này, mối quan hệ ngoại giao vẫn còn những hạn chế và có những tiến triển chậm.
Nguyên nhân là Hoa Kỳ vẫn chưa thể công nhận ngoại giao với Trung Quốc cũng như vẫn còn những hoài nghi trong việc đặt niềm tin vào mối quan hệ này. Vì cả hai bên vẫn còn các vấn đề trong lịch sử chưa thể giải quyết (Asia for Educators Columbia University). Mặc dù vậy, quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc 11 vẫn tiếp tục có những bước phát triển tích cực. Điều này được thể hiện qua sự kiện Tổng thống Clinton ký đạo luật bình thường hóa thương mại với Trung Quốc vào ngày 7 tháng 10 năm 2000 (CBS News STAFF).
Có thể khẳng định rằng, trong giai đoạn này mối quan hệ ngoại giao này đã mở ra một trang mới tạo tiền đề để Trung Quốc được phát triển hơn. Qua đây, việc bình thường hóa mối quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ đã tạo điều kiện cho Trung Quốc được phát triển kinh tế một cách mạnh mẽ, và được mở nhiều cơ hội trong việc tham gia các diễn đàn hợp tác kinh tế, tiến đến gia nhập WTO năm 2001 để đẩy mạnh quá trình sản xuất và xuất khẩu hàng hóa và trở thành một trong những cường quốc kinh tế cốt lõi hiện nay. Vị thế của Trung Quốc trong hệ thống trật tự chính trị hiện nay 1. Cải thiện và thúc đẩy phát triển kinh tế Sau khi thực hiện chính sách “Cải cách và Mở cửa”, Trung Quốc đã bắt đầu mở rộng hợp tác vào nền kinh tế thế giới và gia nhập vào WTO (World Trade Orgazaiton).
Yếu tố này đã mở ra một thị trường cạnh tranh lành mạnh bắt buộc các DNNN (Doanh nghiệp nhà nước), DNTN (Doanh nghiệp tư nhân) sẽ phải thay đổi cơ cấu và phân bổ nguồn lực của doanh nghiệp theo chiều hướng tích cực. Cụ thể, chính sách này nhấn mạnh vào các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ (Yao 2018). Bên cạnh đó, việc Trung Quốc tham gia vào WTO đã làm gia tăng khả năng cung - cầu của thị trường thương mại trên thế giới cũng như trong nước. Điều này tạo nên sự thúc đẩy kinh tế, hiện đại hóa một cách mạnh mẽ và gia tăng mức sống cho người dân Trung Quốc.
Từ đây, Trung Quốc đã có thể tạo nên được ảnh hưởng và ổn định tình hình chính trị trong nước. Sức gia tăng phát triển kinh tế của Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu cao. Điều kiện cho Trung Quốc đánh thức tiềm năng, trở thành đối thủ cạnh tranh của Hoa Kỳ Sự vươn lên một cách vượt bậc của Trung Quốc đã tạo nên nhiều mối đe dọa cho hệ thống chính trị - tài chính của Hoa Kỳ. Năm 2010, Trung Quốc đã trở thành cường quốc kinh tế chỉ sau Mỹ.
Để đạt được thành tựu này, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã trải qua các quá trình thực hiện đổi mới kinh tế để phù hợp với xu hướng thị trường theo định hướng mang màu sắc chính trị Trung Hoa. Cùng với đó, Trung Quốc đã có những chính sách hợp tác kinh tế để thúc đẩy nền kinh tế trong khu vực và thế giới thông qua vai trò của các tổ chức quốc tế, các mối quan hệ ngoại giao song 12 phương và đa phương giữa các quốc gia để tạo thành một mạng lưới kinh tế chia sẻ những lợi ích. Một phần nhờ vào các yếu tố này, Trung Quốc đã trở thành nhà sản xuất lớn nhất thế giới. Tính từ năm 2004 đến năm 2020 giá trị gia tăng khu vực sản xuất (tính theo phần trăm GDP), với giá trị trung bình của giai đoạn 2004 đến 2020 là 30,28% với mức tối thiểu vào năm 2020 và tối đa là vào năm 2006 là 32,45% , năm 2020 là 26,18% cao hơn so với thế giới (trung bình dựa trên 123 quốc gia) là 13,05% (TheGlobalEconomy).
Bảng 1: Giá trị gia tăng của khu vực sản xuất tính theo phần trăm GDP trong khoảng thời gian 2004-2020 tại Trung Quốc (Nguồn: World Bank 2020) Sự trỗi dậy mạnh mẽ về kinh tế của Trung Quốc dường như đã tạo nên những mối đe dọa đến Hoa Kỳ không chỉ về kinh tế mà còn về thu hẹp khoảng cách ảnh hưởng quốc tế giữa hai nước. Đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, khi khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang ngày càng trở thành một trong những điểm Sáng đầy tiềm năng với những lợi thế về địa lý, tài nguyên thiên nhiên. Các yếu tố này sẽ tạo điều kiện cho các nước đặc biệt là Trung Quốc được phát triển và mở rộng nền kinh tế. Từ đó các vấn đề lớn trong quan hệ thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc cũng nảy 13 sinh có liên quan đến vị thế của các nước này trong khu vực này (Geithner 2009; Samuelson 2010; Pearlstein 2010).
Cuộc khủng hoảng năm 2008 – nay 1. Sự thay đổi của trật tự thế giới sau cuộc khủng hoảng tài chính Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 là một trong những sự kiện đã làm đảo lộn trật tự hệ thống tài chính thế giới, và dẫn đến những ảnh hưởng to lớn đối với nền chính trị kinh tế thế giới đến thời điểm hiện tại. Tuy vậy, trong khoảng thời gian 2008- 2009 và cả các giai đoạn về sau, trái ngược với sự đảo lộn nền kinh tế ảnh hưởng đến các nước, những cường quốc trong khối BRICs (tên gọi một khối với các nền kinh tế mới nổi: Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc) không bị tác động nhiều bởi cuộc khủng hoảng kinh tế (Christina 2020).