CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀMUA SẮM CÔNG XANH 1.Cơ sở lý luận về Mua sắm công xanh 1. Khái niệm chung 1. Khái niệm Mua sắm xanh Đã có nhiều cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế đưa ra các khái niệm khác nhau về Mua sắm xanh. Mua sắm xanh là một khái niệmtrừu tượng, với rất nhiều thuật ngữ và định nghĩa.
Thực tiễn và lý thuyết có nhiều tiêu chuẩn khác nhau được gọi là"xanh", một số thuật ngữ thường được sử dụng như Mua sắm xanh, mua sắm thân thiện môi trường (TTMT), mua sắm có trách nhiệm với môi trường và mua sắm bền vững. Theo Liên hợp quốc, mua sắm có trách nhiệm với môi trường hoặc Mua sắm xanh là việc lựa chọn các các sản phẩm dịch vụ (SPDV) nhằm giảm tối đa các tác động không mong muốn cho môi trường. Do đó, một sản phẩm phải được tổ chức thực hiện đánh giá TĐMT tại tất cả các giai đoạn trong vòng đời sản phẩm. Có nghĩa là phải xem xét các chi phí môi trường từ khâu nguyên liệu thô đến khâu sản xuất, vận chuyển, bảo quản, xử lý, sử dụng và thải loại sản phẩm (UNEP, 2013).
Khái niệm "Thân thiện môi trường"được định nghĩa trong Sắc lệnh số 13101 của Mỹ về Xanh hóa Chính phủ thông qua Phòng ngừa, Tái chế và Thu mua chất thải là các SPDV có tác động đã được giảm thiểu hoặc tác động ít hơn tới sức khỏe con người, ít tác động xấu tới môi trường khi so sánh với các sản phẩm hoặc dịch vụ cạnh tranh có cùng mục đích. Có thể là so sánh từ khâu thu mua nguyên liệu thô đến khâu sản xuất, đóng gói, phân phối, tái sử dụng, vận hành, bảo dưỡng hoặc thải loại sản phẩm hoặc dịch vụ (Cơ Quan Bảo Vệ Môi Sinh Hoa Kỳ, 2016). Theo định nghĩa của nhóm cộng tác về mua sắm bền vững Vương quốc Anh năm 2006, mua sắm bền vững là một quá trình“theo đó các tổ chức đáp ứng nhu cầu của họ về HHDV, công trình và các tiện ích theo cách tạo ra lợi ích dựa trên vòng đời sản phẩm không chỉ cho tổ chức mà còn cho xã hội và nền kinh tế trong khi giảm thiểu tối đa thiệt hại cho môi trường" (Parris và Kates, 2003; Voss, 2006). 6 Mua sắm xanh ngày càng trở lên quan trọng trên khắp thế giới.
Định nghĩa Mua sắm xanh ngày càng được mở rộng về phạm vi. Thoạt đầu, phạm vi các sản phẩm xanh (SPX) được xem xét còn hạn hẹp. Tuy nhiên, ngày nay hàng loạt các sản phẩm được mở rộng bao gồm thiết bị văn phòng, máy tính, các sản phẩm công nghệ - thông tin, tài liệu, xây dựng, dịch vụ vận tải, phương tiện, đồ dùng và nhiều sản phẩm khác (Bouwer, 2006). Tại Việt Nam, Mua sắm xanh vẫn còn là một khái niệm tương đối mới.
Từ những cách hiểu nêu trên, theo quan điểm của tác giả thì “Mua sắm xanh là sự mua sắm bất cứ sản phẩm và dịch vụ nào có ít ảnh hưởng tới môi trường trong khi vẫn thực hiện chức năng tương tự và thể hiện được trách nhiệm xã hội, với mức giá có thể so sánh được”. Khái niệm mua sắm công và Mua sắm công xanh Mua sắm công (Mua sắm chính phủ), còn gọi là đấu thầu công là việc mua sắm HHDV thay mặt cho một cơ quan công quyền, chẳng hạn như một cơ quan chính phủ. Tại Việt Nam, MSC được hiểu là những khoản chi tiêu của các cơ quan chính phủ để mua HHDV cho việc sử dụng của chính mình (Bộ tài nguyên và Môi trường, 2007). Thuật ngữ “Mua sắm công” chỉ được sử dụng phổ biến kể từ thời điểm sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới.
Khái niệm Mua sắm công xanh còn khá mới ở Việt Nam cho dù đã có nhiều tài liệu đề cập đến. Bouwer, 2006 định nghĩa Mua sắm công xanh là “Cách tiếp cận mà theo đó các cơ quan nhà nước tích hợp các tiêu chuẩn môi trường vào tất cả các giai đoạn của quá trình mua sắm, do đó khuyến khích được sự mở rộng của công nghệ môi trường cũng như sự phát triển của các SPX thông qua việc tìm kiếm, lựa chọn sản phẩm và giải pháp có tác động ít nhất tới môi trường trong suốt vòng đời của nó”. Gần đây, khái niệm Mua sắm công xanh được công nhận là “…một quá trình các cơ quan nhà nước tìm kiếm mua sắm các hàng hoá, dịch vụ, công trình có ít TĐMT hơn trong suốt vòng đời sản phẩm so với những hàng hoá, dịch vụ và công trình có chức năng tương tự”. Mua sắm công xanh xuất hiện với các thuật ngữ khác 7 như mua sắm sản phẩm môi trường (Ủy ban châu Âu, 2004); MSC có trách nhiệm với môi trường (Li và Geiser, 2005); MSC bền vững (Preuss, 2007); Mua sắm xanh và mua sắm sinh thái (Bolton, 2008).
Mua sắm công xanh, có đặc trưng là phải xem xét về mặt môi trường thường bao gồm: giảm thiểu chất ô nhiễm không khí và phát thải khí nhà kính, sử dụng hiệu quả nước và năng lượng, giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải, sử dụng tài nguyên tái tạo. Các xem xét về mặt xã hội thường bao gồm cả: bình đẳng giới và dân tộc, xoá nghèo và tôn trọng các tiêu chuẩn lao động. Để thúc đẩy Mua sắm công xanh cần phải từng bước xây dựng quy định về Mua sắm xanh, trước hết cần thực hiện Mua sắm xanh ở khu vực công. Bởi lẽ với sức mua lớn của khu vực công đối với các SPDV xanh thì sẽ dẫn dắt thị trường phát triển hướng tới việc cung cấp các SPDV này.
Mua sắm xanh ngày càng trở nên quan trọng trên khắp thế giới đặc biệt trong các cơ quan của chính phủ ở các nước. Vì vậy, định nghĩa Mua sắm xanh cũng như Mua sắm công xanh ngày càng được mở rộng về phạm vi. Ban đầu, phạm vi các SPX được xem xét còn hạn hẹp. Tuy nhiên, ngày nay các sản phẩm được mở rộng bao gồm thiết bị văn phòng, máy tính, tài liệu, xây dựng, dịch vụ vận tải, phương tiện, đồ dùng và nhiều sản phẩm khác (Bouwer, 2006).
Theo các nhà kinh tế học Mua sắm công xanh được hiểu là “sự mua sắm bất cứ sản phẩm và dịch vụ nào có ít ảnh hưởng tới môi trường trong khi vẫn thực hiện chức năng tương tự và thể hiện được trách nhiệm xã hội, với mức giá có thể so sánh được” (Cơ Quan Bảo Vệ Môi Sinh Hoa Kỳ, 1998). Tại Việt Nam, thuật ngữ “Mua sắm công xanh” hay “Mua sắm xanh” mới chỉ được thấy thể hiện trong một số văn bản mới đây liên quan đến kế hoạch hành động thực hiện chiến lược của Chiến lược TTX. Mặt khác, Mua sắm xanh vẫn còn là một khái niệm tương đối mới trong đó Mua sắm công xanh hầu như chưa được nhắc tới và chưa có khái niệm rõ ràng cho dù đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến. Từ những cách hiểu nêu trên, theo quan điểm của tác giả thì: 8 Mua sắm công xanh được hiểu là một quá trình các cơ quan công quyền mua sắm HHDV, trong đó có tính tới yếu tố giảm thiểu TĐMT trong suốt vòng đời của các sản phẩm, dịch vụ này để so sánh lựa chọn HHDV.
Sự cần thiết áp dụng Mua sắm công xanh Mua sắm công xanh có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế, thể hiện trên các phương diện: Thứ nhất, Mua sắm công xanh đóng góp vào mục tiêu giảm tiêu hao nguyên nhiên liệu, năng lượng. Sử dụng bền vững hơn tài nguyên thiên nhiên và nguyên liệu sẽ mang lại lợi ích cho môi trường cũng như toàn bộ nền kinh tế, tạo cơ hội cho phát triển các nền KTX. Do đó, việc áp dụng Mua sắm xanh đặc biệt Mua sắm công xanh có thể tạo ramột thị trường cho HHDV bền vững góp phần giảm tối đa các tác động làm biến đổi khí hậu, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, hỗ trợ các sản phẩm tái sử dụng, tái chế, giúp giảm bớt sự phát sinh chất thải và tái tạo năng lượng (UNEP, 2008). Một nghiên cứu về khả năng tiết kiệm môi trường từ Mua sắm xanh trong lĩnh vực công cho rằng nếu tất cả các cơ quan công quyền của châu Âu yêu cầu điện “xanh”, điều này có thể giúp giảm được 60 triệu tấn CO 2.
Một lượng tương tự cũng có thể đạt được nếu cơ quan công quyền lựa chọn các tòa nhà có chất lượng môi trường cao. Ngoài ra, nếu họ yêu cầu sử dụng máy tính tiêu thụ năng lượng hiệu quả hơn, do đó có thể dẫn tới sự thay đổi đáng kể trên thị trường máy tính, thì có thể giảm 830. Thứ hai, Mua sắm công xanh là giảm tác động đến môi trường và hướng tới phát triển bền vững (PTBV). Lợi ích đầu tiên của Mua sắm công xanh là về hiệu quả sử dụng tài nguyên và BVMT.
Do vậy, đòi hỏi các nhà cung cấp hàng hóa đều có những cải thiện trong việc giảm thiểu năng lượng và chất thải cũng như giảm bao bì đóng gói trong phân phối. Các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa phải tuân thủ tất cả các quy định về môi trường và pháp luật. Bên cạnh đó, thực hiện Mua sắm công xanh cũng giúp mang lại các lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp. Người tiêu dùng hiện tại đã trở nên rất chủ động trong 9 việc đưa các tiêu chí xanh vào quá trình lựa chọn sản phẩm của họ.
Lợi ích của Mua sắm công xanh cho doanh nghiệp là: (i) Tiết kiệm chi phí hoạt động do giảm chất thải (ii) Giảm chi phí y tế và chi phí an toàn. (iii) Chi phí lao động thấp hơn, điều kiện làm việc tốt hơn có thể làm tăng động lực và năng suất. (iv) Giảm chi phí vận chuyển, năng lượng, nhiên liệu. (v) Tăng doanh thu do mối quan hệ tốt hơn với khách hàng - cải thiện chuỗi cung ứng tự động hóa làm tăng giá trị hợp đồng.
Thực tế cho thấy, tại các quốc gia phát triển có tỷ lệ chi tiêu công lớn thì việc thực thiMua sắm xanh có vai trò quan trọng đến việc thúc đẩy SX và TDBV. “Mua sắm xanh” yêu cầu các cá nhân, tổ chức trong quá trình sản xuất và tiêu dùng HHDV cần tính toán đến sự cần thiết có nên mua sắm, cũng như các nguy cơ gây ô nhiễm môi trường của các HHDV đó.