Chương 1: Một số vấn đề lý luận về môi trường FDI 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về môi trường Theo Điều 3.1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam năm 2005: "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”. Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển.
Khái niệm về môi trường đầu tư Các nhà đầu tư trên thế giới cũng như trong nước đều đứng trước việc ra quyết định là nên đầu tư ở đâu cho đồng vốn của họ sinh lợi, cho dù đó là vốn ODA, FDI hoặc là các nguồn vốn nước ngoài mang tính thương mại khác. Kinh nghiệm thu hút các nguồn tài chính nước ngoài lẫn trong nước chỉ ra rằng: quyết định của các nhà đầu tư lại phụ thuộc rất nhiều vào môi trường đầu tư. Theo World Bank 2004: “môi trường đầu tư là tập hợp những yếu tố đặc thù địa phương bao gồm hai thành phần chính là chính sách của chính phủ và các nhân tố khác liên quan đến qui mô thị trường và ưu thế địa lý”.5] Nói một cách chi tiết hơn, “môi trường đầu tư là tổng hoà các yếu tố về pháp luật, kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và các yếu tố cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường, các lợi thế của một quốc gia ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động đầu tư của nhà đầu tư trong và ngoài nước”. -9- Các thành phần này định hình cho các cơ hội và động lực để doanh nghiệp đầu tư có hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng sản xuất, đồng thời sẽ tác động đến ba khía cạnh liên quan đến nhà đầu tư là chi phí cơ hội của vốn đầu tư, mức độ rủi ro trong đầu tư và những rào cản về cạnh tranh trong quá trình đầu tư.
Dựa vào việc cân nhắc ba khía cạnh này nhà đầu tư sẽ xác định những cơ hội và động lực đầu tư đến một quốc gia hay một địa phương nào đó. Tất cả những cải cách chính sách từ phía chính phủ chẳng hạn như việc ban hành các Luật, cải cách thủ tục hành chính, rào cản thuế quan và quyền lợi bảo vệ nhà đầu tư chung qui vẫn là cố gắng tạo ra một môi trường đầu tư ít rủi ro, chi phí cơ hội thấp và ít cản trở nhà đầu tư trong quá trình hoạt động mang tính cạnh tranh của họ. Môi trường đầu tư là tổng thể các yếu tố về pháp luật, kinh tế, xã hội, văn hóa và các yếu tố cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường, cả các lợi thế của một quốc gia có liên quan. Ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động đầu tư của nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Khái niệm về môi trường FDI Đầu tư là hành động bỏ vốn ngày hôm nay để thu lại lợi nhuận trong tương lai. Trong quá trình đó môi trường đầu tư đóng vai trò như một chất xúc tác ban đầu cho việc lựa chọn quyết định bỏ vốn của nhà đầu tư, vì vậy môi trường đầu tư có một vị trí vô cùng quan trọng. Theo nghĩa chung nhất, môi trường FDI là tổng hoà các yếu tố liên quan ảnh hưởng đến hoạt động FDI. Có nhiều cách phân loại môi trường đầu tư, song theo nhiều nhà kinh tế, môi trường đầu tư có thể chia ra môi trường cứng và môi trường mềm.
Môi trường cứng liên quan đến các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho sự phát triển kinh tế, gồm: hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông (đường sá, cầu cảng hàng không, cảng biển.), hệ thống thông -10- tin liên lạc, năng lượng. Môi trường mềm bao gồm: hệ thống các dịch vụ hành chính, dịch vụ pháp lý liên quan đến hoạt động đầu tư (đặc biệt các vấn đề liên quan đến chế độ đối xử và giải quyết các tranh chấp, khiếu nại); hệ thống các dịch vụ tài chính - ngân hàng, kế toán và kiểm toán. Các yếu tố cấu thành môi trường FDI 1. Yếu tố chính trị Kinh tế và chính trị là hai nhóm yếu tố có liên quan mật thiết với nhau.
Chính trị ổn định là điều kiện cho kinh tế phát triển và ngược lại, kinh tế phát triển là yếu tố quan trọng góp phần làm cho chính trị ổn định. Chính trị ảnh hưởng đến các việc đầu tư trước hết là thông qua kinh tế. “Dòng vốn quốc tế có xu hướng di chuyển ra khỏi các nước có tình hình chính trị bất ổn, nơi thường xảy ra các cuộc biểu tình của nhân dân và thường xuyên xảy ra những cuộc đảo chính bất ngờ. Những quốc gia có nguy cơ khủng bố cao cũng bị các nhà đầu tư dần dần rút vốn ra để tập trung đầu tư vào những nước có tình hình chính trị - xã hội và an ninh quốc gia được đảm bảo”.
Một yếu tố có ảnh hưởng lớn đến khả năng thu hút đầu tư nước ngoài là thể chế chính trị của các quốc gia. Khi các chính phủ thay thế nhau thì có thể dẫn tới sự thay đổi đáng kể về chính sách kinh tế. Một chính phủ đương nhiệm cũng có thể từ bỏ đường lối và chính sách cũ. Quốc gia theo thể chế đa Đảng hay một Đảng duy nhất có tác động rất lớn đến hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài tại quốc gia đó.
Thể chế chính trị quyết định đường lối phát triển của một quốc gia, thay đổi đường lối chính trị có thể làm thay đổi các chính sách ưu đãi dành cho nhà đầu tư. Có thể nói ổn định chính trị của nước nhận đầu tư là yếu tố hấp dẫn hàng đầu đối với các nhà đầu tư, đặc biệt đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Bởi vì, -11- tình hình chính trị ổn định là điều kiện tiên quyết để đảm bảo các cam kết của chính phủ đối với các nhà đầu tư về sở hữu vốn đầu tư, các chính sách ưu tiên đầu tư và định hướng phát triển của nước nhận đầu tư. Đồng thời, sự ổn định chính trị còn là tiền đề cần thiết để ổn định tình hình kinh tế – xã hội, nhờ đó giảm được tính rủi ro cho các nhà đầu tư.
Tuy nhiên, trong yếu tố ổn định chính trị, các nhà đầu tư quan tâm về ổn định chính sách hơn là ổn định chính quyền. Nguyên nhân là do : - Thứ nhất là nếu một quốc gia bất ổn về chính quyền sẽ dẫn đến những thay đổi về chính sách đầu tư, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. - Ngược lại, nếu một quốc gia ổn định chính quyền nhưng chính sách đối với đầu tư nước ngoài lại thay đổi nhiều và khó dự đoán thì đối với nhà đầu tư đó vẫn là môi trường bất ổn định. Thứ hai là năng lực điều hành và phẩm chất đạo đức của đội ngũ lãnh đạo.
Mức độ tham nhũng và sự quan liêu của bộ máy điều hành có thể làm tăng chi phí hoạt động của nhà đầu tư. Do đó tính minh bạch trong quản lý nhà nước của chính phủ nước nhận đầu tư luôn là yếu tố mà nhà đầu tư cân nhắc, tìm hiểu kỹ lưỡng. Thứ ba là quan điểm về chính trị đối với đầu tư nước ngoài cũng là yếu tố ảnh hưởng nhiều đến chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài của một quốc gia. - Nếu quốc gia theo quan điểm cấp tiến, chính phủ nước đó sẽ thi hành chính sách đóng cửa đối với đầu tư nước ngoài, các công ty đa quốc gia có trụ sở tại đó sẽ bị tịch biên, quốc hữu hóa vì quan điểm này cho rằng các nước đi đầu tư chỉ bóc lột nước nhận đầu tư nhằm thu lợi tối đa, không mang lại lợi ích gì cho nước chủ nhà cả.
-12- - Các quốc gia theo quan điểm thị trường tự do thường dựa trên lý thuyết về lợi thế so sánh, sản xuất trên bình diện thế giới được phân công giữa các quốc gia, mà thi hành nhiều chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài. Quốc gia đó nhìn nhận rằng dòng chảy FDI giữa các quốc gia thông suốt sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế toàn cầu. - Quan điểm dân tộc thực dụng cho rằng FDI có thể mang lại nhiều lợi ích cho nước tiếp nhận, nhưng đi kèm với đó là nhiều hậu quả và tác động tiêu cực đối với nền kinh tế. Các quốc gia có quan điểm này vừa thi hành chính sách khuyến khích, vừa thi hành chính sách hạn chế nhằm đảm bảo lợi ích do FDI mang lại lớn hơn những bất lợi phải nhận.
Thứ tư là mức độ an toàn và tình hình an ninh trật tự xã hội. Nhà đầu tư sẽ rất cân nhắc khi đổ tiền vào các quốc gia hiện đang có nguy cơ chiến tranh, khủng bố hoành hành hoặc có tỷ lệ tội phạm cao. Ngoài yếu tố mức độ ổn định về chính trị thì các quan điểm chính trị khác nhau đối với đầu tư nước ngoài sẽ là cơ sở để hình thành những chính sách đối với đầu tư nước ngoài của chính phủ các nước: khuyến khích hay hạn chế đầu tư nước ngoài. Yếu tố hành chính Việc tạo lập yếu tố hành chính hiệu quả cũng là yếu tố mà các nhà đầu tư rất quan tâm và tìm hiểu trước khi quyết định đầu tư vào một quốc gia khác.
Xây dựng các thể chế công hiệu quả nhằm khắc phục các thất bại thị trường cũng góp phần cải thiện môi trường đầu tư. Phân cấp trong thu hút đầu tư và tăng cường năng lực điều hành của chính phủ địa phương, xây dựng một chính phủ điện tử là ba cách tiếp cận để tạo ra các thể chế hiệu quả. Chính phủ trung ương có thể thiết kế các chính sách tốt đẹp nhưng chính phủ địa phương sẽ lại là chủ thể thực hiện những chính sách này. Chính phủ địa -13- phương lại bao gồm nhiều thể chế khác nhau và những khuyết điểm của từng thể chế có thể làm nản lòng các nhà đầu tư.
Năng lực của các thể chế địa phương bị giới hạn trong quá trình triển khai chính sách. Giới hạn này bao gồm cán bộ tác nghiệp yếu kém, thể chế thiếu thông tin, thể chế không được dân chúng và các nhà đầu tư ủng hộ do những hành vi thao túng trục lợi và việc cung cấp dịch vụ công kém hiệu quả. Chính phủ trung ương có thể tạo ra những phân cấp cho chính phủ địa phương trong quá trình thu hút vốn đầu tư.