Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan về các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa TGHĐ thực hiệu lực và các yếu tố kinh tế cơ bản. Chương 3: Dữ liệu và mô hình nghiên cứu Chương 4: Kiểm định mối quan hệ giữa TGHĐ thực hiệu lực và các yếu tố kinh tế cơ bản của Việt Nam và Malaysia giai đoạn 2000q1-2014q3. Chương 5: Kết luận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆGIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THỰC HIỆU LỰC VÀ CÁC YẾU TỐ KINH TẾ CƠ BẢN 2. Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và các yếu tố kinh tế cơ bản Nghiên cứu của Balassa và Samuelson (1964) cho rằng trong thực tế, tại các nền kinh tế công nghiệp, việc tăng năng suất trong lĩnh vực phi thương mại dường như thường nhỏ hơn so với sự gia tăng năng suất trong các lĩnh vực thương mại.
Việc khác biệt trong gia tăng năng suất làm cho giá cả hàng hóa phi thương mại và thương mại cũng giảm giá ở mức khác nhau. Sự khác biệt này càng gia tăng thì tỷ giá hối đoái càng được định giá cao. Như vậy, chính sự khác biệt trong gia tăng năng suất giữa hàng hóa thương mại và phi thương mại ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái thực hay nói cách khác chênh lệch trong năng suất hàng hóa thương mại và phi thương mại ảnh đến tỷ giá hối đoái thực. Nghiên cứu của Edwards (1988) (Real and Monetary Determinants of Real Exchange Rate Behavior: Theory and Evidence from Developing Countries).
Bằng việc nghiên cứu tỷ giá hối đoái thực và các yếu tố kinh tế cơ bản tại các nền kinh tế đang phát triển với việc xem xét trên cả 3 loại hàng hóa (hàng hóa có thể xuất khẩu, hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa phi thương mại). Các yếu tố kinh tế cơ bản được tác giả lựa chọn là tỷ lệ mậu dịch (external terms of trade), tỷ lệ chi tiêu chính phủ trên GDP (ratio of government consumption on non-tradables to GDP), thuế quan đại diện cho mức thuế nhập khẩu (proxy for the level of import tariffs), thước đo của tiến bộ công nghệ (measure of technological progress), lưu chuyển vốn (capital inflows), các nhân tố cơ bản khác như tỷ lệ đầu tư/GDP(other fundamentals, such as the investment/GDP ratio). Bằng chứng thực nghiệm của tác giả chỉ ra rằng tỷ giá hối đoái thực bị tác động bởi các yếu tố kinh tế cơ bản. Mặc dù vậy đến nghiên cứu của Meese và Rose (1989) (An Empirical Assessment of Non – Linearities in Model of Exchange Rate Determination) khi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- nghiên cứu tỷ giá hối đoái với các yếu tố kinh tế cơ bản được lựa chọn là tiền tệ (Money), sản lượng quốc nội (Domestic Output) và thặng dư cán cân thương mại (Cumulated Trade Balance) bằng cách nghiên cứu đồng liên kết cùng với việc sử dụng biến chuyển đổi bằng thuật toán ACE, tác giả đã không tìm ra được bất kỳ mối quan hệ nào cả tuyến tính lẫn phi tuyến trong trường hợp này.
Trong suốt một thời gian dài câu hỏi về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực hiệu lực với các yếu tố kinh tế cơ bản vẫn chưa có câu trả lời thuyết phục nhất; liệu rằngmối quan hệ này có tồn tại hay không, nếu tồn tại thì mối quan hệ này là tuyến tính hay phi tuyến. Sau nghiên cứu của Meese và Rose (1989) có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và các yếu tố kinh tế cơ bản. Tuy nhiên, tiêu biểu nhất trong các nghiên cứu là nghiên cứu của Chinn (1991) (Some Linear and Nonlinear Thoughts on Exchange Rate). Tác giả đã có những thảo luận tổng quát nhất cả về mặt lý thuyết cũng như nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và các nhân tố cơ bản của nền kinh tế trên cả hai phương diện tuyến tính và phi tuyến.
Những yếu tố kinh tế cơ bản mà ông lựa chọn gồm cổ phiếu bằng tiền (Money Stocks), thu nhập (Income), tỷ lệ lãi suất (Interest Rate), tỷ lệ lạm phát (Inflation Rate), cổ phiếu bất động sản (Real Wealth Stocks). Chinn đã đưa ra đánh giá khả năng sử dụng thuật toán ACE trong mô hình phi tuyến, ACE trong trường hợp này đượcxem như một công cụ chẩn đoán, và là một phương pháp dự báo, cùng với việc kết hợp với mô hình đồng liên kết ARDL. Tác giả đã đem đến một phương pháp nghiên cứu được xem là hoàn chỉnh nhất trong việc xác định mối quan hệ tuyến tính hay phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái thực hiệu lực và các nhân tố cơ bản của nền kinh tế. Bằng chứng thực nghiệm của Chinn đã cho thấy một kết quả đáng thất vọng của các mô hình tuyến tính khi xác định mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và các yếu tố kinh tế cơ bản; đồng thời, cũng cho thấy mô hình phi tuyến khi xem xét mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực hiệu lực với các yếu tố kinh tế cơ bản đem lại kết quả dự báo tốt hơn.
Kết quả nghiên cứu của Chinn được củng cố hơn trong nghiên cứu của Clark và MacDonald (1998) (Exchange Rates and Economic Fundamentals: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- AMetgodological Comparison of BEERs and FEERs).Trong đó BEER là tỷ giá hối đoái thực cân bằng hành vi (Behavioal Equilibrium Exchange Rate). BEERs được sử dụng khá rộng rãi nhằm phân tích sự biến động của tỷ giá thực theo thời gian, chứ không phải sự biến động của tỷ giá cân bằng trong trung và dài hạn. Phương pháp BEERs được xây dựng dựa trên điều kiện ngang giá lãi suất không có bảo hiểm thực (real UIP). Điều đó có nghĩa là thay vì sử dụng tỷ giá danh nghĩa, các nhà nghiên cứu này đã coi tỷ giá thực đa phương như là một biến số chính của mô hình.Còn FEER là tỷ giá cân bằng yếu tố kinh tế cơ bản (Fundamental Equilibrium Exchange Rate).
FEER là phương pháp xác định tỷ giá cân bằng trong trung hạn. Tỷ giá cân bằng FEER sẽ được xác lập khi mà nền kinh tế đạt cả cân bằng bên trong lẫn cân bằng bên ngoài, tức là khi nền kinh tế được đảm bảo đầy đủ công ăn việc làm, giá cả ổn định, đồng thời trạng thái của cán cân vãng lai ở mức cân bằng bền vững. Nói một cách khác, tỷgiá cân bằng FEER được xác định dựa trên một số điều kiện kinh tế được xác định bởi các biến số kinh tế quan trọng (economic fundamentals), còn các yếu tố mang tính chu kì trong ngắn hạn bị loại bỏ.Tác giả kiểm kịnh mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản tại ba thị trường phát triển Hoa Kỳ, Đức và Nhật Bản. Các nhân tố kinh tế cơ bản được tác giả lựa chọn trong mô hình nghiên cứu là tỷ lệ mậu dịch (terms of trade), tương quan giá cả giữa hàng hóa thương mại và phi thương mại (relative price of nontraded to trade goods), tài sản nước ngoài ròng (net foreign asset), chứng khoán nợ của chính phủ (relative stock of government debt), tỷ lệ lãi suất thực (real interest rate).
Kết quả cho thấy mặc dù mức độ tác động của các yếu tố kinh tế cơ bản tại các thị trường khác nhau, nhưng hầu hết các biến đều có tác động cùng chiều đến tỷ giá hối đoái thực hiệu lực trong giai đoạn nghiên cứu của tác giả.Đặc biệt là tài sản nước ngoài ròng có ảnh hưởng rất lớn đến sự thay đổi của tỷ giá hối đoái thực hiệu lực.Điều này có nghĩa là một sự gia tăng trong tài sản nước ngoài ròng sẽ kéo theo một sự gia tăng trong tỷ giá hối đoái thực hiệu lực rất đáng kể.Như vậy, một lần nữa mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái thực và các yếu tố kinh tế cơ bản được khẳng định. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- Tóm lại,theo hầu hết các nghiên cứu thì tỷ giá hối đoái thực bị tác động bởi các yếu tố kinh tế cơ bản và mối quan hệ này được xem là phi tuyến là hợp lý hơn mối quan hệ tuyến tính nhưng khó khăn tiếp đến đối với các nhà nghiên cứuchính là việc lựa chọn các yếu tố đại diện cho nền kinh tế, dù rằng có rất nhiều nghiên cứu khác nhau đã xác định được mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực hiệu lực và các yếu tố kinh tế cơ bản là một mối quan hệ phi tuyến trong dài hạn nhưng việc lựa chọn các yếu tố đại diện cho nền kinh tế mỗi tác giả lại lựa chọn rất khác nhau. Nghiên cứu của Froot và Rogoff (1994) (Perpectives on PPP and Long –Run Real Exchange Rates) đã nỗ lực xem xét ảnh hưởng của các yếu tố cung, cầu tới tỷ giá hối đoái thực trong dài hạn. Nghiên cứu nhận ra rằng về lâu dài, sự chênh lệch năng suất vẫn còn tác động đến tỷ giá hối đoái thực rất đáng kể, trong khi những tác động của yếu tốcầu như chi tiêu chính phủ và thu nhập lại ít tác động đến tỷ giá hối đoái thực theo thời gian.
Tiếp đó, De Gregorio và cộng sự (1994) đã mở rộng phân tích này để kết hợp với những cú sốc thương mại (cú sốc giá của xuất khẩu so với nhập khẩu).Nghiên cứu nhận ra rằng tỷ lệ mậu dịch cũng có tác động rất quan trọng đến sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái thực, mặc dù chênh lệch trong năng suất và chi tiêu của chính phủ vẫn là những yếu tố quan trọng tác động lên tỷ giá hối đoái thực hiệu lực.Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Wolf nhân tố thu nhập lại tác động không đáng kể lên tỷ giá hối đoái thực so với các cú sốc thương mại. Chính vì vậy, trong nghiên cứu Montiel (1999) (The Long – Run Equilibrium Real Exchange Rate) đã tổng hợp những yếu tố có ảnh hưởng nhất đến tỷ giá hối đoái thực hiệu lực từ những nghiên cứu trước cộng với bằng chứng thực nghiệm của mình. Montiel đã lựa chọn được các yếu tố thích hợp để đại diện cho các yếu tố kinh tế cơ bản gồm: chênh lệch trong năng suất, tỷ lệ mậu dịch, tài sản nước ngoài ròng, độ mở cửa của nền kinh tế, và mức chi tiêu chính phủ. Từ đây những bài nghiên cứu về mối quan hệ phi tuyến của tỷ giá hối đoái với các yếu tố kinh tế cơ bản được phát triển, nhiều nghiên cứu đã ra đời kể đến như: Ma và Kanas (2000); Grauwe vàVansteenkiste (2006); Tang vàZhou (2013).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Những nghiên cứu tiêu biểu về mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái và các yếu tố kinh tế cơ bản trong thời gian gần đây 2.