Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa khả năng vượt khó, sự đam mê và sáng tạo với thành tích học tập của học sinh THPT Phần kết luận và kiến nghị 14 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về chỉ số đam mê Trên thế giới và tại Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về chỉ số đam mê, các công trình nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào hai nhóm đối tượng: nhóm thứ nhất gồm những người đang làm việc tại các công ty, doanh nghiệp để nghiên cứu về hiệu suất làm việc, mức độ đam mê - yêu thích công việc của họ; nhóm thứ hai tập trung nghiên cứu trên đối tượng là học sinh, sinh viên để xem xét mức độ đam mê gắn với môn học cụ thể hoặc ngành học của sinh viên, rất ít công trình trên thế giới và tại Việt Nam nghiên cứu chỉ số đam mê trên đối tượng là học sinh THPT dựa trên kết quả học tập. Nghiên cứu vai trò của đam mê học tập đối với sự kiệt sức và căng thẳng trong học tập được thực hiện tại Ba Lan trên 272 sinh viên đại học (82.35% là nữ) có tuổi trung bình là 21.79), kết quả phân tích chỉ số đam mê cho thấy: cao N=16 (đam mê hài hòa - HP: M=5.1; đam mê ám ảnh - OP: M = 4.68); trung bình N = 223 (HP: M=5.72); thấp/không đam mê N=33 (HP: M = 2.94), có phương sai bằng 0.592 đối với HP và 0.464 đối với OP.
Phân tích chỉ số của HP và OP, sức sống chủ quan, sự kiệt sức và căng thẳng nhận thức, nghiên cứu chỉ ra rằng không có sự khác biệt đáng kể nào. Nghiên cứu chỉ ra rằng HP có liên quan tích cực đến sức sống chủ quan và liên quan tiêu cực đến hai khía cạnh kiệt sức và căng thẳng, trong khi OP có liên quan tích cực yếu đến căng thẳng và liên quan tiêu cực đến sự thảnh thơi. HP và OP có tương quan yếu với nhau (Mudło- Głagolska, K. Miguel Bernabé (2022) đã thực hiện nghiên cứu vai trò trung gian của niềm đam mê giữa chủ nghĩa hoàn hảo và sự tham gia học tập trên 545 sinh viên đại học giáo dục tại Tây Ban Nha.
Đối với ảnh hưởng của chủ nghĩa hoàn hảo xã hội hóa, ảnh hưởng gián tiếp đến sự gắn kết được quan sát thông qua khía cạnh đam mê hài 15 hòa. Không quan sát thấy tác động trực tiếp đáng kể nào của chủ nghĩa hoàn hảo xã hội hóa lên khía cạnh đam mê ám ảnh (p = 0. Do đó, toàn bộ tác động gián tiếp của chủ nghĩa hoàn hảo tự định hướng đối với sự gắn kết xảy ra thông qua cả niềm đam mê hài hòa và ám ảnh, với sự trung gian một phần trong cả hai trường hợp. Tuy nhiên, chủ nghĩa hoàn hảo xã hội hóa cho thấy tổng số tác động gián tiếp nhỏ hơn và chỉ một chút thông qua khía cạnh hài hòa của niềm đam mê (Bernabé, 2023).
Tiến hành nghiên cứu niềm đam mê có liên quan đến kết quả trong thể thao, học thuật và trong cuộc sống của một người hay không. Schellenberg, B đã tiến hành khảo sát 298 sinh viên-vận động viên đến từ nhiều trường đại học khác nhau chỉ số đam mê vào đầu mùa giải thi đấu, đánh giá thành tích, kinh nghiệm và sự hài lòng trong thể thao, học tập và trong cuộc sống vào cuối mùa giải. Kết quả phân tích cho thấy không có sự khác biệt về thành tích giữa những cá nhân có đam mê và không đam mê thể thao. Khi tiến hành phân tích mối liên quan giữa niềm đam mê với thành tích học tập tự báo cáo, kết quả cho thấy cả đam mê hài hòa và đam mê ám ảnh đều không liên quan đến điểm trung bình tự báo cáo.
Tuy nhiên, đam mê hài hòa có liên quan đến sự hài lòng trong học tập cao hơn so với đam mê ám ảnh và không đam mê, trong khi đam mê hỗn hợp có liên quan đến sự hài lòng về học tập cao hơn so với đam mê ám ảnh và không đam mê (Schellenberg, 2023). Các nghiên cứu về chỉ số vượt khó Một nghiên cứu tổng hợp về chỉ số vượt khó trong lĩnh vực giáo dục được nghiên cứu từ 18 bài báo/tạp chí đăng trên các nguồn dữ liệu đáng tin cậy: Scopus, Science Direct và ERIC do Juwita và cộng sự thực hiện năm 2020. Nghiên cứu này đã khám phá ba khía cạnh của các ấn phẩm về chỉ số vượt khó trong giáo dục, bao gồm 1: loại thiết kế nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu liên quan đến chỉ số vượt khó trong lĩnh vực giáo dục; 2: những người được chọn tham gia nghiên cứu liên quan đến chỉ số vượt khó và 3: vai trò của chỉ số vượt khó trong giáo dục. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Nghiên cứu mô tả và thử nghiệm là thiết kế được sử dụng phổ biến nhất; Những người tham gia nghiên cứu trong nghiên cứu về chỉ số vượt khó chủ yếu là sinh viên, đặc biệt là sinh viên đại học; vai trò của chỉ số vượt khó được thể hiện nhiều trong kết quả học tập ở lĩnh vực kỹ năng.
Việc áp dụng chỉ 16 số vượt khó trong lĩnh vực giáo dục cung cấp thông tin về khả năng phục hồi của một người để có thể xác định việc theo dõi nhu cầu của mỗi cá nhân trong việc phát triển khả năng của họ (Juwita, 2020). Nghiên cứu về ảnh hưởng của học tập trải nghiệm và chỉ số vượt khó đối với khả năng giải quyết vấn đề của sinh viên được thực hiện tại Indonesia năm 2020 gồm 120 sinh viên tham gia nghiên cứu được chia thành hai lớp với một lớp đối chứng dạy học trực tiếp, lớp thực nghiệm dạy học qua trải nghiệm. Chỉ số vượt khó của sinh viên được đánh giá trước khi quá trình học diễn ra và khi kết thúc quá trình học tập của từng phương pháp tiến hành đánh giá khả năng giải quyết vấn đề của từng học sinh. Nhóm thử nghiệm được học qua trải nghiệm với 4 bước: Người học tham gia vào một trải nghiệm cụ thể (làm), phản ánh về trải nghiệm đó và thông tin khác (phản ánh), phát triển lý thuyết dựa trên kinh nghiệm và kiến thức (nghĩ), và đưa ra kết luận hoặc giải quyết vấn đề (áp dụng).
Nhóm kiểm soát đã được hướng dẫn trực tiếp để học tập. Dữ liệu được thu thập thông qua hai công cụ, một bảng câu hỏi về chỉ số vượt khó của học sinh (SAQP) và bảng đánh giá cách giải quyết vấn đề của Polya. Kết quả cho thấy: có sự khác biệt đáng kể về năng lực giải quyết vấn đề của học sinh được dạy học qua trải nghiệm và học trực tiếp. Khả năng giải quyết vấn đề của học sinh trong học tập trải nghiệm có hiệu suất tốt hơn so với học tập theo hướng dẫn trực tiếp.
Có sự khác biệt đáng kể về khả năng giải quyết vấn đề của cả học sinh có chỉ số vượt khó cao và thấp. Những học sinh có chỉ số vượt khó cao thể hiện thành tích tốt hơn những học sinh có chỉ số vượt khó trung bình và thấp trong việc giải quyết vấn đề. Ngoài ra, có sự tương quan đáng kể giữa phương pháp học tập và chỉ số vượt khó đối với khả năng giải quyết vấn đề của học sinh. Học tập qua trải nghiệm đã cải thiện khả năng giải quyết vấn đề của học sinh đối với cả những học sinh có chỉ số vượt khó cao và thấp (Hulaikah, 2020).
Khi tiến hành nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số vượt khó của học sinh lớp 12 và sinh viên năm 3 được thực hiện tại Thái Lan với 672 học sinh và 376 sinh viên qua lấy mẫu ngẫu nhiên. Có nhiều công cụ được sử dụng để thu thập dữ liệu. Kết quả chỉ ra rằng: các biến số ảnh hưởng đến chỉ số nghịch cảnh của sinh viên và học sinh là sự thống trị, cảm giác tự do cá nhân, lòng tự trọng, sự nhiệt tình, tự tin, 17 tham vọng và động cơ thành tích. Các biến số ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số nghịch cảnh của học sinh lớp 12 là sự tự tin trong khi các biến số ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến chỉ số nghịch cảnh của học sinh là sự thống trị, ý thức tự do cá nhân, lòng tự trọng và sự nhiệt tình.
Biến ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số nghịch cảnh của sinh viên là động cơ thành tích, biến số ảnh hưởng gián tiếp đến chỉ số nghịch cảnh của những sinh viên này là sự thống trị trong khi biến số ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến chỉ số nghịch cảnh của những sinh viên này là ý thức cá nhân tự do, lòng tự trọng, nhiệt tình, tự tin, và tham vọng. Như vậy có thể thấy, yếu tố ảnh hưởng nhất đến chỉ số vượt khó của học sinh và sinh viên trong nghiên cứu này là lòng tự trọng và sự tự tin (Pangma, 2009). Điều tra chỉ số nghịch cảnh (AQ) của sinh viên điều dưỡng tại đại học Macao và phân tích các yếu tố ảnh hưởng bằng phương pháp nghiên cứu cắt ngang trên 158 sinh viên. Nghiên cứu sử dụng các phiên bản tiếng Trung của Thang đo chỉ số vượt khó, Thang đo Trí tuệ Cảm xúc (EI), Bảng câu hỏi về Phong cách Đối phó Đơn giản hóa (SCSQ) và Thang đo Phong cách Làm cha mẹ đã được sử dụng để đánh giá các đặc điểm của sinh viên.
Phân tích kết quả cho thấy điểm AQ trung bình của sinh viên tham gia nghiên cứu là 116. Điểm AQ có tương quan nghịch với cách ứng phó tiêu cực và phong cách làm mẹ (can thiệp quá mức, bảo vệ quá mức) (r=0. Các nữ sinh viên điều dưỡng có điểm số về chỉ số sở hữu (O) cao hơn so với các bạn nam (31.001), Chỉ số O và C có điểm trung bình cao hơn hai chỉ số còn lại với điểm trung bình lần lượt là (M=31. Chỉ số kiểm soát C có mối tương quan thuận với Trí tuệ cảm xúc (EI) và khả năng đối phó tiêu cực (Wang, 2021).
đã thực hiện một nghiên cứu tại Indonesia nhằm tìm hiểu tư duy phản xạ của học sinh để giải quyết vấn đề được đo lường bằng chỉ số AQ.