Nghiên cứu mối quan hệ giữa cán cân tài khóa và tài khoản vãng lai ở Việt Nam và các quốc gia khác

Nghiên cứu mối quan hệ giữa cán cân tài khóa và tài khoản vãng lai ở Việt Nam và một số quốc gia, cung cấp cái nhìn sâu sắc về kinh tế.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

83
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2. Câu hỏi nghiên cứu

1.3. Phương pháp nghiên cứu

1.4. Phạm vi nghiên cứu

1.5. Cấu trúc luận văn

2. CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁN CÂN NGÂN SÁCH VÀ TÀI KHOẢN VÃNG LAI

2.1. Biện luận lý thuyết về cán cân ngân sách và tài khoản vãng lai

2.1.1. Chính sách tài khoá

2.1.2. Tài khoản vãng lai

2.1.3. Mối quan hệ giữa cán cân ngân sách và tài khoản vãng lai

2.2. Các lập luận về giả thuyết “thâm hụt kép”

2.2.1. Lý thuyết Mundell – Fleming

2.2.2. Lý thuyết của Keynes

2.2.3. Lý luận về giả thuyết “tài khoản vãng lai mục tiêu”

2.2.4. Biện luận về giả thuyết cân bằng của Ricardo

2.2.5. Lý giải về mối quan hệ nhân quả hai chiều

2.3. Các kết quả nghiên cứu trước về mối quan hệ giữa cán cân ngân sách và tài khoản vãng lai

2.3.1. Các nghiên cứu cho thấy thâm hụt ngân sách sẽ gây ra thâm hụt tài khoản vãng lai – giả thuyết “thâm hụt kép”

2.3.2. Các kết quả nghiên cứu cho rằng thâm hụt tài khoản vãng lai sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách – giả thuyết “tài khoản vãng lai mục tiêu”

2.3.3. Các nghiên cứu đưa đến kết luận rằng không có mối quan hệ nào giữa cán cân ngân sách và tài khoản vãng lai – giả thuyết cân bằng Ricardo

2.3.4. Một số nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa cán cân ngân sách và tài khoản vãng lai

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Mô hình nghiên cứu

3.2. Phương pháp kiểm định theo Toda – Yamamoto (1995)

3.3. Dữ liệu nghiên cứu

3.3.1. Dữ liệu Việt Nam

3.3.2. Dữ liệu nước ngoài

4. CHƯƠNG 4: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Kiểm định tính dừng các biến

4.2. Kiểm định nhân quả Granger theo phương pháp truyền thống

4.3. Kiểm định phi nhân quả Granger theo Toda – Yamamoto (1995)

4.4. Phân tích kết quả kiểm định

4.5. Mở rộng kiểm định thực nghiệm ở một số quốc gia

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN CHUNG

5.1. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC A

PHỤ LỤC B

PHỤ LỤC C

PHỤ LỤC D

PHỤ LỤC E

PHỤ LỤC F

PHỤ LỤC G

Tóm tắt

I. Tổng quan về mối quan hệ giữa cán cân tài khóa và tài khoản vãng lai

Mối quan hệ giữa cán cân tài khóatài khoản vãng lai ở Việt Nam đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong những năm gần đây. Cán cân tài khóa phản ánh tình hình tài chính của chính phủ, trong khi tài khoản vãng lai ghi nhận các giao dịch quốc tế. Sự thâm hụt kéo dài của cả hai chỉ số này đã đặt ra nhiều câu hỏi về tính bền vững của nền kinh tế Việt Nam. Nghiên cứu này nhằm làm rõ mối quan hệ giữa hai yếu tố này, từ đó đưa ra các khuyến nghị chính sách phù hợp.

1.1. Định nghĩa và vai trò của cán cân tài khóa

Cán cân tài khóa là chỉ số thể hiện sự cân bằng giữa thu và chi của chính phủ. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế, ảnh hưởng đến lạm phát và tăng trưởng. Việc duy trì cán cân tài khóa ổn định giúp đảm bảo sự phát triển bền vững cho nền kinh tế.

1.2. Tài khoản vãng lai và ảnh hưởng đến nền kinh tế

Tài khoản vãng lai ghi nhận các giao dịch về hàng hóa, dịch vụ và chuyển giao thu nhập giữa cư dân trong nước và quốc tế. Thâm hụt tài khoản vãng lai có thể dẫn đến áp lực lên dự trữ ngoại hối và ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái, từ đó tác động đến sự ổn định kinh tế.

II. Vấn đề thách thức trong mối quan hệ giữa cán cân tài khóa và tài khoản vãng lai

Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc duy trì sự cân bằng giữa cán cân tài khóatài khoản vãng lai. Sự gia tăng thâm hụt ngân sách và tài khoản vãng lai đã tạo ra áp lực lớn lên nền kinh tế. Các yếu tố như lạm phát, nợ công và sự phụ thuộc vào vốn đầu tư nước ngoài đã làm gia tăng tính phức tạp của vấn đề này.

2.1. Tác động của thâm hụt ngân sách đến tài khoản vãng lai

Thâm hụt ngân sách có thể dẫn đến việc gia tăng nhập khẩu, từ đó làm trầm trọng thêm thâm hụt tài khoản vãng lai. Điều này đặc biệt đúng trong bối cảnh nền kinh tế đang cần kích thích tăng trưởng.

2.2. Nguy cơ từ nợ công và lạm phát

Nợ công gia tăng có thể tạo ra áp lực lên ngân sách nhà nước, dẫn đến việc chính phủ phải tăng chi tiêu hoặc giảm thuế. Điều này có thể làm gia tăng thâm hụt ngân sách và ảnh hưởng tiêu cực đến tài khoản vãng lai.

III. Phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa cán cân tài khóa và tài khoản vãng lai

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích định lượng để kiểm định mối quan hệ giữa cán cân tài khóatài khoản vãng lai. Các dữ liệu được thu thập từ các nguồn chính thức và phân tích bằng các mô hình kinh tế phù hợp. Phương pháp kiểm định nhân quả Granger sẽ được áp dụng để xác định hướng tác động giữa hai biến này.

3.1. Dữ liệu và nguồn thông tin

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ các báo cáo tài chính của chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức quốc tế. Thời gian nghiên cứu từ năm 1996 đến 2013, nhằm cung cấp cái nhìn tổng quát về xu hướng và biến động của hai chỉ số này.

3.2. Mô hình kiểm định nhân quả Granger

Mô hình kiểm định nhân quả Granger sẽ được sử dụng để xác định xem liệu có mối quan hệ nhân quả giữa cán cân tài khóa và tài khoản vãng lai hay không. Phương pháp này giúp làm rõ hướng tác động và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy không có mối quan hệ nhân quả rõ ràng giữa cán cân tài khóatài khoản vãng lai ở Việt Nam. Điều này hỗ trợ giả thuyết cân bằng Ricardo, cho thấy rằng hai yếu tố này có thể hoạt động độc lập với nhau. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các yếu tố bên ngoài như đầu tư nước ngoài và chính sách tài chính có thể ảnh hưởng đến cả hai chỉ số.

4.1. Phân tích kết quả kiểm định

Kết quả kiểm định cho thấy rằng thâm hụt ngân sách không nhất thiết dẫn đến thâm hụt tài khoản vãng lai. Điều này cho thấy rằng chính sách tài chính cần được điều chỉnh để đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế.

4.2. Ứng dụng chính sách tài chính

Các nhà hoạch định chính sách cần xem xét các yếu tố tác động đến cán cân tài khóa và tài khoản vãng lai để đưa ra các quyết định hợp lý. Việc duy trì sự cân bằng giữa hai yếu tố này là rất quan trọng cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu này đã làm rõ mối quan hệ giữa cán cân tài khóatài khoản vãng lai ở Việt Nam. Mặc dù không tìm thấy mối quan hệ nhân quả rõ ràng, nhưng các yếu tố bên ngoài vẫn có thể ảnh hưởng đến cả hai chỉ số. Tương lai của nghiên cứu này có thể mở rộng ra các quốc gia khác để so sánh và tìm hiểu sâu hơn về mối quan hệ này.

5.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng ra các quốc gia khác để tìm hiểu mối quan hệ giữa cán cân tài khóa và tài khoản vãng lai trong bối cảnh toàn cầu hóa. Việc so sánh giữa các quốc gia sẽ giúp làm rõ hơn các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ này.

5.2. Đề xuất chính sách

Chính phủ cần có các chính sách tài chính linh hoạt để điều chỉnh cán cân tài khóa và tài khoản vãng lai. Việc này không chỉ giúp ổn định nền kinh tế mà còn tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững trong tương lai.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh nghiên cứu mối quan hệ giữa cán cân tài khóa và tài khoản vãng lai ở việt nam và một số quốc gia mở rộng

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề về khả năng tác động đến tổng cầu và cuối cùng là tai khoản vãng lai của các quyết định tài trợ ngân sách của chính phủ. Lý thuyết cho rằng, với một mức chi tiêu chính phủ đã định, sự thay thế nợ cho thuế sẽ không có tác động đến tổng cầu lẫn lãi suất. Giải thích cho lập luận này như sau. Trong tình thế hạn hẹp của ngân sách chính phủ, với một mức chi tiêu không đổi, một sự cắt giảm thuế hiện tại hàm ý rằng sẽ có một sự gia tăng thuế trong tương lai.

Vì vậy, do sự vay mượn của chính phủ chỉ là trì hoãn thuế đến tương lai, nên người tiêu dùng, đồng thời cũng là người trả thuế, hoàn toàn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 dự đoán được sự gia tăng thuế tương lai, sẽ không quan tâm đến sự cắt giảm thuế hiện tại, và kết quả là gia tăng thu nhập khả dụng. Bởi thế, nhưng quyết định ngân sách tạm thời của người tiêu dùng sẽ không thay đổi dưới các quyết định tài trợ thâm hụt của chính phủ; và như vậy, khía cạnh tiêu dùng không bị ảnh hưởng: toàn bộ sự gia tăng trong thu nhập khả dụng tạo ra từ sự cắt giảm thuế đều được người tiêu dùng tiết kiệm. Dưới giả thuyết cân bằng Riccardo, người tiêu dùng phản ứng với sự cắt giảm thuế bằng sự gia tăng tiết kiệm. Sự gia tăng tiết kiệm này được dùng để mua trái phiếu chính phủ được phát hành mới, đảm bảo cho người tiêu dùng có nguồn tiền để trả khoản thuế gia tăng trong tương lai.

Vì vậy, chính do tiết kiệm tư nhân gia tăng tương ứng bằng với mức thâm hụt ngân sách, tiết kiệm quốc gia không bị ảnh hưởng; theo đó lãi suất cũng không thay đổi. Hơn nữa, trong một nền kinh tế mở, thâm hụt ngân sách không tác động đến cán cân tài khoản vãng lai vì sự gia tăng trong tiết kiệm tư nhân đủ để tránh nhu cầu tài trợ bên ngoài. Do vậy, thâm hụt ngân sách không kích thích dòng vốn vào cũng như làm suy giảm cán cân tài khoản vãng lai. Theo cách này, nợ công không ảnh hưởng đến tài sản khu vực tư nhân; hay nói cách khác, người tiêu dùng không xem trái phiếu chính phủ như tài sản ròng.

Bởi thế, với một mức chi tiêu đã định, nếu được tài trợ bởi nợ hoặc thuế thì thời điểm của thuế không có tác động đến tiêu dùng tư nhân.5 Lý giải về mối quan hệ nhân quả hai chiều Theo giả thuyết này, giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai có mối quan hệ nhân quả hai chiều. Nếu như một sự thâm hụt ngân sách sẽ gây áp lực tăng lãi suất nội địa, từ đó làm động nội tệ tăng giá theo và dẫn đến sự xấu đi trong tài khoản vãng lai; thì trái lại, một sự thâm hụt tài khoản vãng lai cho thấy sự giảm sút của nền kinh tế, và chính phủ sẽ tăng chi tiêu hoặc giảm thuế để kích thích kinh tế, có thể gây ra sự gia tăng trong thâm hụt ngân sách. Bên cạnh đó, sự sụt giảm doanh thu thuế do sự thu hẹp sản xuất nội địa (do tăng nhập khẩu, điều dẫn đến thâm hụt tài khoản vãng lai) cũng có thể làm xấu đi cán cân ngân sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 Mối quan hệ giữa cán cân ngân sách Chính phủ và cán cân tài khoản vãng lai là một vấn đề rất được chú ý của các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu trong nhiều thập kỷ qua.

Và đã có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, đưa đến những kết quả khác nhau. Nhưng tựu chung lại, tất cả đều lần lượt hỗ trợ cho bốn giả thuyết về mối quan hệ nhân quả giữa hai cán cân đang được xem xét. Thứ nhất là chỉ hiện diện mối quan hệ nhân quả một chiều từ cán cân ngân sách đến cán cân tài khoản vãng lai, còn gọi là giả thuyết “thâm hụt kép”. Thứ hai là chỉ tồn tại mối quan hệ nhân quả theo chiều ngược lại từ cán cân tài khoản vãng lai đến cán cân ngân sách, được gọi là giả thuyết “tài khoản vãng lai mục tiêu”.

Thứ ba là giả thuyết cân bằng Ricardo với lập luận cho rằng cán cân ngân sách và cán cân tài khoản vãng lai là độc lập nhau. Và cuối cùng là giả thuyết về mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa hai cán cân.2 Các kết quả nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa cán cân ngân sách và tài khoản vãng lai 2.1 Các nghiên cứu cho thấy thâm hụt ngân sách sẽ gây ra thâm hụt tài khoản vãng lai – giả thuyết “thâm hụt kép” Theo giả thuyết này, một sự gia tăng thâm hụt ngân sách sẽ dẫn đến sự suy giảm trong cán cân tài khoản vãng lai thông qua việc tác động làm tăng lãi suất nội địa và giá trị đồng nội tệ. Đây là lập luận theo mô hình Mundell – Fleming. Còn theo Keynes, một sự gia tăng trong thâm hụt ngân sách sẽ gây ra sự hấp thụ trong nước và do đó tăng nhập khẩu, và cuối cùng làm xấu đi cán cân tài khoản vãng lai.

Abell (1990) đã dùng chuỗi dữ liệu thời gian đa biến để kiểm định mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại ở Mỹ trong giai đoạn 1979 – 1985. Với việc sử dụng mô hình tự hồi quy vectơ (VAR), kỹ thuật kiểm định nhân quả Granger và các hàm phản ứng xung, tác giả đã đưa ra các kết quả thực nghiệm cho rằng, thâm hụt ngân sách sẽ dẫn đến thâm hụt thương mại một cách gián tiếp thông qua cơ chế lãi suất và tỷ giá hối đoái. Cụ thể, trong điều kiện tiết kiệm tư nhân trong nước ở mức cố định, khi thâm hụt ngân sách Mỹ gia tăng sẽ tạo áp lực làm tăng lãi suất (vì chính phủ sẽ đi vay nợ để bù đắp thâm hụt ngân sách), tiếp đó dòng vốn bên ngoài sẽ có xu hướng chảy vào trong nước, tạo sức ép LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 tăng giá đồng đô la (nội tệ). Và điều này sẽ tác động xấu đến cán cân thương mại, thậm chí dẫn đến thâm hụt thương mại.

Theo đó, trong mô hình nghiên cứu của mình, bên cạnh biến thâm hụt ngân sách, cán cân thương mại, tác giả còn đưa vào thêm các biến tỷ giá, lãi suất và lạm phát nhằm phân tích tác động của chúng đến cán cân thương mại. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra kiến nghị rằng có thể điều chỉnh giảm thâm hụt ngân sách để cải thiện cán cân thương mại. Trong một nghiên cứu khác, Giovanni Piersanti (2000) đã đặt vấn đề liệu rằng thâm hụt tài khoản vãng lai có quan hệ với thâm hụt ngân sách kỳ vọng hay không, và đã thực hiện nghiên cứu thực nghiệm đối với hầu hết các nước thuộc khối OECD (ngoại trừ Thỗ Nhĩ Kỳ, Thuỵ Sĩ, Bồ Đào Nha, Iceland, Bỉ, New Zealand và một vài quốc gia mới gia nhập vì vấn đề hạn chế về số liệu). Đầu tiên, ông đã sử dụng mô hình cân bằng tổng quát tối ưu để diễn tả mối quan hệ lý thuyết giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai.

Tiếp đó, ông ta ước lượng phương trình kinh tế lượng dựa trên mô hình kỳ vọng tương lai, mở rộng các nghiên cứu dựa trên phân tích thông thường trước đó. Nghiên cứu này sử dụng các biến cán cân ngân sách, cán cân tài khoản vãng lai (đo lường theo tỷ lệ % trên GDP) trong thời kỳ 1970 – 1997. Và kết quả đưa đến bằng chứng thực nghiệm khá thuyết phục về tác động cùng chiều của thâm hụt ngân sách kỳ vọng đối với thâm hụt tài khoản vãng lai ở các nước khối OECD. Điều này hỗ trợ cho giả thuyết “thâm hụt kép”.

Bên cạnh đó, Piersanti cũng đã thực hiện kiểm định nhân quả Granger và kiểm định Sim trong nghiên cứu này. Kết quả cho thấy có hiện diện mối quan hệ nhân quả giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai ở 5 nước trong nhóm G7 và 7 trong số 10 nước khác thuộc OECD. Tương tự, Salvatore (2006) khi tiến hành nghiên cứu thực nghiệm mối giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai ở các nước thuộc nhóm G7 đã tìm thấy bằng chứng rất thuyết phục hỗ trợ cho giả thuyết thâm hụt kép. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu trong thời kỳ 1973 – 2005.

Ngoài biến cán cân tài khoản vãng lai và cán cân ngân sách (được tính theo phần trăm của GNP), ông đã đưa thêm vào mô hình biến tăng trưởng GNP thực của quốc gia được nghiên cứu và biến tăng trưởng GNP thực của phần còn lại thế giới. Vì ông lập luận rằng khi kinh tế trong nước tăng trưởng sẽ làm tăng nhu cầu nhập khẩu, từ đó ảnh hưởng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 làm xấu đi cán cân tài khoản vãng lai; còn nếu kinh tế thế giới tăng trưởng cao sẽ làm tăng nhu cầu đối với hàng hoá xuất khẩu của quốc gia này và sẽ tác động tích cực đến cán cân tài khoản vãng lai. Với việc xây dựng mô hình hồi quy đa biến đơn giản (trong đó, biến phụ thuộc là cán cân tài khoản vãng lai và có xét đến độ trễ của biến cán cân ngân sách) và sử dụng phương pháp OLS, Salvatore đã cho thấy rằng: thâm hụt ngân sách sẽ dẫn đến thâm hụt tài khoản vãng lai với độ trễ một năm. Bằng chứng thực nghiệm về điều này được tìm thấy ở hầu hết các quốc gia công nghiệp quan trọng nhất như Mỹ, Nhật, Đức, Anh, Pháp, Ý, Canada.

Ở một khía cạnh khác, trong nghiên cứu vào năm 2008 về giả thuyết thâm hụt kép ở Hy Lạp giai đoạn 1960-2007, Panagiotis cùng các tác giả đã có một hướng nghiên cứu mới khi tập trung phân tích tính dai dẳng của thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách. Với suy luận rằng, nếu các biến xuất khẩu và nhập khẩu có mối quan hệ cân bằng dài hạn thì sẽ tồn tại tính dai dẳng của thâm hụt thương mai, và tương tự đối với thâm hụt ngân sách. Ông đã dùng kiểm định Trace – Johansen kết hợp với việc ước lượng mô hình hiệu chỉnh sai số vector (VECM) để phát hiện mối quan hệ đồng liên kết và phân tích mối quan hệ dài hạn giữa các biến. Đặc biệt, ông còn sử dụng phương pháp phân tích của Quinto (1995) để kiểm tra tính dai dẳng của thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách.

Kết quả thực nghiệm cho thấy chỉ có tính dai dẳng yếu ở cả hai loại thâm hụt được nghiên cứu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ