đặt vấn đề về khả năng tác động đến tổng cầu và cuối cùng là tai khoản vãng lai của các quyết định tài trợ ngân sách của chính phủ. Lý thuyết cho rằng, với một mức chi tiêu chính phủ đã định, sự thay thế nợ cho thuế sẽ không có tác động đến tổng cầu lẫn lãi suất. Giải thích cho lập luận này như sau. Trong tình thế hạn hẹp của ngân sách chính phủ, với một mức chi tiêu không đổi, một sự cắt giảm thuế hiện tại hàm ý rằng sẽ có một sự gia tăng thuế trong tương lai.
Vì vậy, do sự vay mượn của chính phủ chỉ là trì hoãn thuế đến tương lai, nên người tiêu dùng, đồng thời cũng là người trả thuế, hoàn toàn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 dự đoán được sự gia tăng thuế tương lai, sẽ không quan tâm đến sự cắt giảm thuế hiện tại, và kết quả là gia tăng thu nhập khả dụng. Bởi thế, nhưng quyết định ngân sách tạm thời của người tiêu dùng sẽ không thay đổi dưới các quyết định tài trợ thâm hụt của chính phủ; và như vậy, khía cạnh tiêu dùng không bị ảnh hưởng: toàn bộ sự gia tăng trong thu nhập khả dụng tạo ra từ sự cắt giảm thuế đều được người tiêu dùng tiết kiệm. Dưới giả thuyết cân bằng Riccardo, người tiêu dùng phản ứng với sự cắt giảm thuế bằng sự gia tăng tiết kiệm. Sự gia tăng tiết kiệm này được dùng để mua trái phiếu chính phủ được phát hành mới, đảm bảo cho người tiêu dùng có nguồn tiền để trả khoản thuế gia tăng trong tương lai.
Vì vậy, chính do tiết kiệm tư nhân gia tăng tương ứng bằng với mức thâm hụt ngân sách, tiết kiệm quốc gia không bị ảnh hưởng; theo đó lãi suất cũng không thay đổi. Hơn nữa, trong một nền kinh tế mở, thâm hụt ngân sách không tác động đến cán cân tài khoản vãng lai vì sự gia tăng trong tiết kiệm tư nhân đủ để tránh nhu cầu tài trợ bên ngoài. Do vậy, thâm hụt ngân sách không kích thích dòng vốn vào cũng như làm suy giảm cán cân tài khoản vãng lai. Theo cách này, nợ công không ảnh hưởng đến tài sản khu vực tư nhân; hay nói cách khác, người tiêu dùng không xem trái phiếu chính phủ như tài sản ròng.
Bởi thế, với một mức chi tiêu đã định, nếu được tài trợ bởi nợ hoặc thuế thì thời điểm của thuế không có tác động đến tiêu dùng tư nhân.5 Lý giải về mối quan hệ nhân quả hai chiều Theo giả thuyết này, giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai có mối quan hệ nhân quả hai chiều. Nếu như một sự thâm hụt ngân sách sẽ gây áp lực tăng lãi suất nội địa, từ đó làm động nội tệ tăng giá theo và dẫn đến sự xấu đi trong tài khoản vãng lai; thì trái lại, một sự thâm hụt tài khoản vãng lai cho thấy sự giảm sút của nền kinh tế, và chính phủ sẽ tăng chi tiêu hoặc giảm thuế để kích thích kinh tế, có thể gây ra sự gia tăng trong thâm hụt ngân sách. Bên cạnh đó, sự sụt giảm doanh thu thuế do sự thu hẹp sản xuất nội địa (do tăng nhập khẩu, điều dẫn đến thâm hụt tài khoản vãng lai) cũng có thể làm xấu đi cán cân ngân sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 Mối quan hệ giữa cán cân ngân sách Chính phủ và cán cân tài khoản vãng lai là một vấn đề rất được chú ý của các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu trong nhiều thập kỷ qua.
Và đã có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, đưa đến những kết quả khác nhau. Nhưng tựu chung lại, tất cả đều lần lượt hỗ trợ cho bốn giả thuyết về mối quan hệ nhân quả giữa hai cán cân đang được xem xét. Thứ nhất là chỉ hiện diện mối quan hệ nhân quả một chiều từ cán cân ngân sách đến cán cân tài khoản vãng lai, còn gọi là giả thuyết “thâm hụt kép”. Thứ hai là chỉ tồn tại mối quan hệ nhân quả theo chiều ngược lại từ cán cân tài khoản vãng lai đến cán cân ngân sách, được gọi là giả thuyết “tài khoản vãng lai mục tiêu”.
Thứ ba là giả thuyết cân bằng Ricardo với lập luận cho rằng cán cân ngân sách và cán cân tài khoản vãng lai là độc lập nhau. Và cuối cùng là giả thuyết về mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa hai cán cân.2 Các kết quả nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa cán cân ngân sách và tài khoản vãng lai 2.1 Các nghiên cứu cho thấy thâm hụt ngân sách sẽ gây ra thâm hụt tài khoản vãng lai – giả thuyết “thâm hụt kép” Theo giả thuyết này, một sự gia tăng thâm hụt ngân sách sẽ dẫn đến sự suy giảm trong cán cân tài khoản vãng lai thông qua việc tác động làm tăng lãi suất nội địa và giá trị đồng nội tệ. Đây là lập luận theo mô hình Mundell – Fleming. Còn theo Keynes, một sự gia tăng trong thâm hụt ngân sách sẽ gây ra sự hấp thụ trong nước và do đó tăng nhập khẩu, và cuối cùng làm xấu đi cán cân tài khoản vãng lai.
Abell (1990) đã dùng chuỗi dữ liệu thời gian đa biến để kiểm định mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại ở Mỹ trong giai đoạn 1979 – 1985. Với việc sử dụng mô hình tự hồi quy vectơ (VAR), kỹ thuật kiểm định nhân quả Granger và các hàm phản ứng xung, tác giả đã đưa ra các kết quả thực nghiệm cho rằng, thâm hụt ngân sách sẽ dẫn đến thâm hụt thương mại một cách gián tiếp thông qua cơ chế lãi suất và tỷ giá hối đoái. Cụ thể, trong điều kiện tiết kiệm tư nhân trong nước ở mức cố định, khi thâm hụt ngân sách Mỹ gia tăng sẽ tạo áp lực làm tăng lãi suất (vì chính phủ sẽ đi vay nợ để bù đắp thâm hụt ngân sách), tiếp đó dòng vốn bên ngoài sẽ có xu hướng chảy vào trong nước, tạo sức ép LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 tăng giá đồng đô la (nội tệ). Và điều này sẽ tác động xấu đến cán cân thương mại, thậm chí dẫn đến thâm hụt thương mại.
Theo đó, trong mô hình nghiên cứu của mình, bên cạnh biến thâm hụt ngân sách, cán cân thương mại, tác giả còn đưa vào thêm các biến tỷ giá, lãi suất và lạm phát nhằm phân tích tác động của chúng đến cán cân thương mại. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra kiến nghị rằng có thể điều chỉnh giảm thâm hụt ngân sách để cải thiện cán cân thương mại. Trong một nghiên cứu khác, Giovanni Piersanti (2000) đã đặt vấn đề liệu rằng thâm hụt tài khoản vãng lai có quan hệ với thâm hụt ngân sách kỳ vọng hay không, và đã thực hiện nghiên cứu thực nghiệm đối với hầu hết các nước thuộc khối OECD (ngoại trừ Thỗ Nhĩ Kỳ, Thuỵ Sĩ, Bồ Đào Nha, Iceland, Bỉ, New Zealand và một vài quốc gia mới gia nhập vì vấn đề hạn chế về số liệu). Đầu tiên, ông đã sử dụng mô hình cân bằng tổng quát tối ưu để diễn tả mối quan hệ lý thuyết giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai.
Tiếp đó, ông ta ước lượng phương trình kinh tế lượng dựa trên mô hình kỳ vọng tương lai, mở rộng các nghiên cứu dựa trên phân tích thông thường trước đó. Nghiên cứu này sử dụng các biến cán cân ngân sách, cán cân tài khoản vãng lai (đo lường theo tỷ lệ % trên GDP) trong thời kỳ 1970 – 1997. Và kết quả đưa đến bằng chứng thực nghiệm khá thuyết phục về tác động cùng chiều của thâm hụt ngân sách kỳ vọng đối với thâm hụt tài khoản vãng lai ở các nước khối OECD. Điều này hỗ trợ cho giả thuyết “thâm hụt kép”.
Bên cạnh đó, Piersanti cũng đã thực hiện kiểm định nhân quả Granger và kiểm định Sim trong nghiên cứu này. Kết quả cho thấy có hiện diện mối quan hệ nhân quả giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai ở 5 nước trong nhóm G7 và 7 trong số 10 nước khác thuộc OECD. Tương tự, Salvatore (2006) khi tiến hành nghiên cứu thực nghiệm mối giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai ở các nước thuộc nhóm G7 đã tìm thấy bằng chứng rất thuyết phục hỗ trợ cho giả thuyết thâm hụt kép. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu trong thời kỳ 1973 – 2005.
Ngoài biến cán cân tài khoản vãng lai và cán cân ngân sách (được tính theo phần trăm của GNP), ông đã đưa thêm vào mô hình biến tăng trưởng GNP thực của quốc gia được nghiên cứu và biến tăng trưởng GNP thực của phần còn lại thế giới. Vì ông lập luận rằng khi kinh tế trong nước tăng trưởng sẽ làm tăng nhu cầu nhập khẩu, từ đó ảnh hưởng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 làm xấu đi cán cân tài khoản vãng lai; còn nếu kinh tế thế giới tăng trưởng cao sẽ làm tăng nhu cầu đối với hàng hoá xuất khẩu của quốc gia này và sẽ tác động tích cực đến cán cân tài khoản vãng lai. Với việc xây dựng mô hình hồi quy đa biến đơn giản (trong đó, biến phụ thuộc là cán cân tài khoản vãng lai và có xét đến độ trễ của biến cán cân ngân sách) và sử dụng phương pháp OLS, Salvatore đã cho thấy rằng: thâm hụt ngân sách sẽ dẫn đến thâm hụt tài khoản vãng lai với độ trễ một năm. Bằng chứng thực nghiệm về điều này được tìm thấy ở hầu hết các quốc gia công nghiệp quan trọng nhất như Mỹ, Nhật, Đức, Anh, Pháp, Ý, Canada.
Ở một khía cạnh khác, trong nghiên cứu vào năm 2008 về giả thuyết thâm hụt kép ở Hy Lạp giai đoạn 1960-2007, Panagiotis cùng các tác giả đã có một hướng nghiên cứu mới khi tập trung phân tích tính dai dẳng của thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách. Với suy luận rằng, nếu các biến xuất khẩu và nhập khẩu có mối quan hệ cân bằng dài hạn thì sẽ tồn tại tính dai dẳng của thâm hụt thương mai, và tương tự đối với thâm hụt ngân sách. Ông đã dùng kiểm định Trace – Johansen kết hợp với việc ước lượng mô hình hiệu chỉnh sai số vector (VECM) để phát hiện mối quan hệ đồng liên kết và phân tích mối quan hệ dài hạn giữa các biến. Đặc biệt, ông còn sử dụng phương pháp phân tích của Quinto (1995) để kiểm tra tính dai dẳng của thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách.
Kết quả thực nghiệm cho thấy chỉ có tính dai dẳng yếu ở cả hai loại thâm hụt được nghiên cứu.