Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên quan giữa tự kháng thể trab và một số thông số sinh học đến kết quả điều trị bệnh basedow bằng methimazole ở trẻ em

Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên quan giữa tự kháng thể trab và các thông số sinh học trong điều trị bệnh basedow bằng methimazole ở trẻ em.

Chuyên ngành

Nhi khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn
108
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Định nghĩa, danh pháp, dịch tễ học

1.2. Cơ chế bệnh sinh

1.2.1. Thuyết miễn dịch

1.2.2. Miễn dịch qua trung gian tế bào ở bệnh nhân Basedow

1.2.3. Cơ chế bệnh sinh của bệnh lý mắt trong bệnh Basedow

1.2.4. Cơ chế bệnh sinh phù niêm trong bệnh Basedow

1.2.5. Cơ chế bệnh sinh của to đầu chi trong bệnh Basedow

1.2.6. Các yếu tố khác

1.3. Lâm sàng, cận lâm sàng và chẩn đoán

1.3.1. Lâm sàng

1.3.2. Cận lâm sàng

1.3.3. Chẩn đoán

1.3.4. Chẩn đoán phân biệt

1.4. Ưu, nhược điểm của các phương pháp điều trị

Tóm tắt

I. Tổng quan về mối liên quan giữa tự kháng thể TRAb và bệnh Basedow

Bệnh Basedow là một trong những bệnh tự miễn phổ biến nhất ở trẻ em, đặc trưng bởi sự gia tăng hoạt động của tuyến giáp do sự hiện diện của các tự kháng thể, đặc biệt là tự kháng thể TRAb. TRAb có vai trò quan trọng trong việc kích thích tế bào tuyến giáp, dẫn đến sự gia tăng sản xuất hormone tuyến giáp. Nghiên cứu này nhằm làm rõ mối liên quan giữa nồng độ TRAb và kết quả điều trị bệnh Basedow ở trẻ em.

1.1. Định nghĩa và cơ chế bệnh sinh của bệnh Basedow

Bệnh Basedow là một bệnh tự miễn, trong đó hệ miễn dịch sản xuất ra các tự kháng thể như TRAb, kích thích tế bào tuyến giáp. Sự gia tăng nồng độ TRAb có thể dẫn đến cường chức năng tuyến giáp, gây ra các triệu chứng như lồi mắt, tăng nhịp tim và rối loạn tâm thần.

1.2. Tầm quan trọng của tự kháng thể TRAb trong bệnh lý

TRAb có ba loại chính: TRSAb, TRBAb và TRNAb, mỗi loại có tác dụng khác nhau lên tế bào tuyến giáp. TRSAb kích thích sản xuất hormone, trong khi TRBAb có tác dụng phong bế. Mối quan hệ giữa tỷ lệ TRSAb và TRBAb có thể ảnh hưởng đến mức độ nặng của bệnh.

II. Vấn đề và thách thức trong điều trị bệnh Basedow ở trẻ em

Điều trị bệnh Basedow ở trẻ em gặp nhiều thách thức do sự phát triển của cơ thể và tâm thần. Việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp là rất quan trọng để đảm bảo sự phát triển bình thường của trẻ. Các phương pháp điều trị hiện tại bao gồm thuốc kháng giáp trạng tổng hợp, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết.

2.1. Những khó khăn trong việc chẩn đoán bệnh Basedow

Chẩn đoán bệnh Basedow ở trẻ em thường gặp khó khăn do triệu chứng không đặc hiệu và có thể bị nhầm lẫn với các bệnh lý khác. Việc phát hiện sớm nồng độ TRAb là rất quan trọng để đưa ra phương pháp điều trị kịp thời.

2.2. Tác động của bệnh đến sự phát triển của trẻ

Bệnh Basedow có thể ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và tâm thần của trẻ. Các triệu chứng như rối loạn tâm thần, tăng trưởng không đều có thể dẫn đến những hệ lụy lâu dài nếu không được điều trị kịp thời.

III. Phương pháp điều trị bệnh Basedow hiệu quả cho trẻ em

Phương pháp điều trị bệnh Basedow ở trẻ em chủ yếu là sử dụng thuốc kháng giáp trạng tổng hợp như Methimazole. Phương pháp này được khuyến cáo bởi FDA do ít tác dụng phụ và hiệu quả cao trong việc kiểm soát triệu chứng. Tuy nhiên, cần theo dõi chặt chẽ để tránh tái phát.

3.1. Lợi ích của thuốc kháng giáp trạng tổng hợp

Methimazole có tác dụng dược lý mạnh, giúp kiểm soát nhanh chóng triệu chứng cường giáp. Thuốc này cũng ít gây tác dụng phụ nghiêm trọng hơn so với PTU, giúp trẻ nhanh chóng trở về tình trạng bình giáp.

3.2. Theo dõi và quản lý điều trị

Việc theo dõi nồng độ TRAb và các chỉ số sinh học khác là rất quan trọng trong quá trình điều trị. Điều này giúp đánh giá hiệu quả điều trị và phát hiện sớm các dấu hiệu tái phát.

IV. Kết quả nghiên cứu về mối liên quan giữa TRAb và kết quả điều trị

Nghiên cứu cho thấy nồng độ TRAb có mối liên quan chặt chẽ với kết quả điều trị bệnh Basedow ở trẻ em. Những trẻ có nồng độ TRAb cao thường có nguy cơ tái phát bệnh cao hơn. Việc theo dõi nồng độ TRAb có thể giúp dự đoán kết quả điều trị và điều chỉnh phương pháp điều trị kịp thời.

4.1. Phân tích kết quả điều trị dựa trên nồng độ TRAb

Kết quả điều trị bệnh Basedow ở trẻ em có thể được phân tích dựa trên nồng độ TRAb. Những trẻ có nồng độ TRAb giảm sau điều trị thường có kết quả tốt hơn và ít có nguy cơ tái phát.

4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị

Ngoài nồng độ TRAb, các yếu tố như tuổi mắc bệnh, thể tích tuyến giáp và sự tuân thủ điều trị cũng ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Việc hiểu rõ các yếu tố này giúp cải thiện hiệu quả điều trị.

V. Kết luận và triển vọng trong nghiên cứu bệnh Basedow ở trẻ em

Nghiên cứu về mối liên quan giữa tự kháng thể TRAb và kết quả điều trị bệnh Basedow ở trẻ em mở ra hướng đi mới trong việc điều trị và quản lý bệnh. Cần có thêm nhiều nghiên cứu để làm rõ hơn về vai trò của TRAb và các yếu tố sinh học khác trong bệnh lý này.

5.1. Tương lai của nghiên cứu bệnh Basedow

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc phát triển các phương pháp điều trị mới và hiệu quả hơn, đồng thời tìm hiểu sâu hơn về cơ chế bệnh sinh của bệnh Basedow ở trẻ em.

5.2. Khuyến nghị cho việc điều trị bệnh Basedow

Cần có các hướng dẫn điều trị rõ ràng và cụ thể cho trẻ em mắc bệnh Basedow, bao gồm việc theo dõi nồng độ TRAb và các chỉ số sinh học khác để đảm bảo hiệu quả điều trị và giảm thiểu nguy cơ tái phát.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên quan giữa tự kháng thể trab và một số thông số sinh học đến kết quả điều trị bệnh basedow bằng methimazole ở trẻ em

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Định nghĩa, danh pháp, dịch tễ học Định nghĩa: Basedow là bệnh tự miễn, đặc trưng bởi cường chức năng tuyến giáp do xuất hiện các tự kháng thể lưu hành trong máu kích thích tế bào nang giáp làm tăng cường tổng hợp và giải phóng hormone tuyến giáp vào máu gây nên các biểu hiện nhiễm độc giáp trên lâm sàng [10]. Danh pháp: bệnh Basedow được mô tả đầu tiên bởi Caleb Parry. Năm 1835 Robert Graves, thầy thuốc người Ailen đã công bố chính thức những đặc điểm chính của bệnh đó là cường chức năng tuyến giáp kết hợp với bướu giáp phì đại lan toả, có thể kèm với lồi mắt và phù niêm trước xương chày.

Cũng vào thời gian này, bác sỹ người Đức Von Basedow (1799-1854) cũng mô tả căn bệnh này. Vì thế ở các quốc gia nói tiếng Anh thường gọi là bệnh Graves, còn ở các quốc gia khác ở châu Âu thường gọi là bệnh Basedow. Ở Việt Nam thường sử dụng thuật ngữ “bệnh Basedow” [11], [12], [13]. Dịch tễ: bệnh Basedow là nguyên nhân phổ biến nhất gây cường giáp.

Ở Việt Nam hiện vẫn chưa rõ tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng, theo Lê Huy Liệu bệnh Basedow chiếm 2,6% số bệnh nhân mắc bệnh nội khoa điều trị tại bệnh viện Bạch Mai. Theo Mai Thế Trạch bệnh Basedow chiếm 10-30% các bệnh nhân có bệnh lý tuyến giáp đến khám tại bệnh viện. Tỷ lệ trẻ sơ sinh bị nhiễm độc giáp chiếm khoảng 1% các trường hợp nhiễm độc giáp ở trẻ em. Bệnh hiếm gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh tăng dần theo tuổi.

Tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ em dưới 15 tuổi chiếm khoảng 0,02%, nữ mắc bệnh nhiều hơn nam. Theo Nguyễn Thu Nhạn (1996), tỷ lệ nam/nữ là 1/6. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bánh năm 2001 tại bệnh viện Nhi Trung LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 ương, tỷ lệ trẻ mắc bệnh Basedow chiếm 6,67% số trẻ bị bệnh lý tuyến giáp, trong đó nam chiếm 22,94% và nữ chiếm 77,06% [14]. Cơ chế bệnh sinh 1.

Thuyết miễn dịch Basedow là bệnh tự miễn, do sự xuất hiện tự kháng nguyên HLA-DR nhóm 2 tại màng tế bào tuyến giáp, kích thích hệ miễn dịch sản xuất ra tự kháng thể TRAb, TRAb gắn cạnh tranh với TSH tại thụ thể của TSH ở màng tế bào tuyến giáp kích thích tế bào tuyến giáp tương tự như TSH, làm tế bào tuyến giáp phát triển về mặt số lượng gây bướu cổ, tăng cường hoạt động chức năng, tổng hợp và giải phóng nhiều hormone tuyến giáp vào máu gây nên các biểu hiện nhiễm độc giáp và các biểu hiện tự miễn. Cơ chế bệnh sinh bệnh Basedow Nguồn Ginsberg Jody (2003) [15] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Trong quá trình hình thành bào thai, hệ miễn dịch bào thai nhận diện và kiểm soát toàn bộ các kháng nguyên của cơ thể. Trong quá trình tương tác giữa cơ thể với môi trường (stress, nhiễm trùng, chấn thương.), một hoặc nhiều kháng nguyên của cơ thể có thể bị thay đổi tính kháng nguyên và trở thành tự kháng nguyên. Trong bệnh Basedow người ta thấy xuất hiện tự kháng nguyên HLA-DR nhóm 2 tại bề mặt màng tế bào tuyến giáp, kết hợp với giảm số lượng tế bào T ức chế đặc hiệu tại tuyến giáp (Ts - T suppresor) làm giảm khả năng ức chế các tế bào T hỗ trợ đặc hiệu (Th - T helper).

Các tế bào Th đặc hiệu được giải phóng kích thích đặc hiệu lên các bạch cầu đơn nhân làm tăng sản xuất interferon γ (IFN- γ), IFN- γ kích thích tế bào tuyến giáp làm bộc lộ tự kháng nguyên HLA-DR nhóm 2 lên bề mặt tế bào tuyến giáp. Các tế bào Th đặc hiệu được giải phóng cũng kích thích các tế bào lympho B làm tăng sản xuất tự kháng thể kích thích tuyến giáp (TRSAb). TRSAb gắn cạnh tranh với TSH vào thụ thể của TSH ở màng tế bào tuyến giáp kích thích làm tăng trình diện tự kháng nguyên HLA-DR nhóm 2 lên bề mặt tế bào tuyến giáp, làm cho tế bào tuyến giáp trở thành tế bào trình diện kháng nguyên và kích thích các tế bào Th đặc hiệu để duy trì quá trình bệnh lý. Nồng độ T3, T4 tăng trong máu có tác dụng làm giảm số lượng và chức năng tế bào Ts, vì thế tế bào Th lại tiếp tục được giải phóng và quá trình bệnh lý được duy trì.

Dưới tác dụng kích thích của TRSAb, tế bào tuyến giáp tăng sinh về số lượng, tăng cường hoạt động chức năng, cần nhiều oxy và chất dinh dưỡng dẫn tới phản ứng tăng sinh mạch máu, mở các shunt động - động mạch, động mạch - tĩnh mạch để đáp ứng với nhu cầu gia tăng hoạt động của tế bào tuyến. T3, T4 tăng trong máu làm cho trẻ ở trạng thái cường giao cảm, nhịp tim nhanh, cung lượng tim tăng, tốc độ dòng máu chảy qua tuyến giáp tăng cao, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 máu từ chỗ rộng đi qua chỗ hẹp, tốc độ dòng chảy tăng, gây nên biểu hiện bướu mạch (rung mưu, tiếng thổi tâm thu, tiếng thổi liên tục). Miễn dịch qua trung gian tế bào ở bệnh nhân Basedow Đặc trưng chủ yếu trong bệnh Basedow là sự thay đổi số lượng và chức năng các tế bào có thẩm quyền miễn dịch Ts tại tuyến giáp. Ở người bình thường, các tế bào Ts đặc hiệu có tác dụng ức chế các tế bào Th đặc hiệu tại tuyến giáp.

Dưới tác động của các yếu tố bên ngoài cũng như tổn thương tại chỗ dẫn đến giảm số lượng và chức năng tế bào Ts đặc hiệu tại tuyến giáp, các tế bào Th đặc hiệu tại tuyến giáp được giải phóng kích thích các tế bào bạch cầu đơn nhân làm tăng tổng hợp IFN-γ. IFN-γ kích thích tế bào tuyến giáp làm bộc lộ tự kháng nguyên HLA nhóm 2 lên bề mặt tế bào tuyến giáp. Tế bào Th đặc hiệu cũng kích thích các tế bào lympho B làm tăng sản xuất tự kháng thể TRAb. Sự thâm nhiễm các tế bào lympho vào tuyến giáp trong bệnh Basedow không đồng nhất và không thấy hiện tượng phá hủy nang giáp [16].

Mô bệnh học tuyến giáp bình thường và trong bệnh Basedow [7]. (Ảnh A là hình ảnh tế bào tuyến giáp bình thường. Ảnh B và C là hình ảnh mô bệnh học tế bào tuyến giáp trong bệnh Basedow). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Cơ chế bệnh sinh của bệnh lý mắt trong bệnh Basedow Bệnh lý mắt do Basedow nằm trong bệnh cảnh chung cơ chế bệnh sinh của bệnh Basedow, xuất hiện độc lập với các biểu hiện lâm sàng, có thể xuất hiện trước các biểu hiện lâm sàng hoặc xuất hiện trong hay sau quá trình điều trị. Đây là biểu hiện tự miễn trong bệnh Basedow mà TRAb đóng vai trò quyết định [17], [18], [19]. Các cơ mi mắt bị phù nề, thâm nhiễm tế bào lympho, xơ hóa, giảm chức năng, hạn chế cử động, mất đồng vận động gây nên các biểu hiện như nhìn đôi, co kéo cơ mi. Tổn thương cơ mi mắt kết hợp với mất Kali qua thận làm giảm Kali máu có thể gây sụp mi.

Co kéo cơ mi phối hợp với lồi mắt làm cho diện tiếp xúc của nhãn cầu với môi trường tăng lên làm tăng nguy cơ gây viêm giác kết mạc do tiếp xúc. Tăng áp lực ổ mắt cộng với phì đại cơ hốc mắt có thể gây chèn ép dây thần kinh thị giác làm giảm thị lực, thậm chí mất thị lực. Cơ chế bệnh sinh bệnh lý mắt do Basedow trình bày ở sơ đồ dưới đây [6]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Mắt Th Kháng nguyên hốc mắt Dòng máu Ống bạch mạch cổ Phức hợp KN-KT TG B TSI, TGAb Tuyến giáp Th Ag Ts Sơ đồ 1.

Sinh bệnh học bệnh lý mắt trong bệnh Basedow [6]. Về lâm sàng, người ta sử dụng phân độ NO SPECS để đánh giá mức độ tổn thương mắt trong bệnh Basedow. Phân độ NO SPECS mức độ tổn thương mắt trong bệnh Basedow Độ Biểu hiện 0 N Không có biểu hiện gì 1 O Co kéo cơ mi (dấu hiệu Dalrymple, Von Graefe, Stare, Lid lag) 2 S Viêm, phù nề cơ quanh mắt 3 P Lồi mắt 4 E Song thị do tổn thương cơ vận nhãn, lồi mắt không đều 5 C Viêm giác kết mạc 6 S Tổn thương dây thần kinh thị giác gây mất thị lực Ghi chú: N: No signs or symptom (không có biểu hiện). E:extraocular muscle involvement (tổn thương cơ vận nhãn).

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cơ chế bệnh sinh phù niêm trong bệnh Basedow Phù niêm do Basedow hiếm gặp ở trẻ em, thường thấy ở mặt trước xương chày, do các nguyên bào sợi, tế bào mỡ, tế bào cơ, tế bào lympho có tính kháng nguyên tương tự như tự kháng nguyên HLA nhóm 2 của tuyến giáp, phản ứng giữa TRAb với các nguyên bào sợi gây hoạt hóa lymphokin làm lắng đọng acid hyaluronic và chondroitin sulfate ở lớp hạ bì gây ứ đọng bạch huyết và phù không ấn lõm. 99% trẻ bị phù niêm có nồng độ TRAb rất cao và có bệnh lý mắt nặng [21]. Cơ chế bệnh sinh của to đầu chi trong bệnh Basedow To đầu chi do Basedow rất hiếm gặp ở trẻ em, nhưng có ý nghĩa lâm sàng tương tự như bệnh lý mắt và phù niêm do Basedow, trẻ mắc bệnh Basedow có to đầu chi có nồng độ TRAb cao.

Phản ứng giữa TRAb với các nguyên bào sợi ở các dây chằng gây lắng đọng acid hyaluronic và chondroitin sulfate ở tổ chức lỏng lẻo gây phù giống phù niêm khu trú, da ở những vị trí này bị rối loạn sắc tố và bị sừng hóa. Các yếu tố khác - Yếu tố di truyền: bản thân trẻ mắc bệnh Basedow và những người có quan hệ huyết thống với trẻ tăng nguy cơ mắc các bệnh tự miễn tới 11,6%. Hai trẻ sinh đôi cùng trứng nếu 1 trẻ bị bệnh Basedow thì trẻ kia tăng nguy cơ mắc bệnh Basedow tới 20% - 30% so với hai trẻ sinh đôi khác trứng (< 5%) [22]. - Stress: là cơ chế không trực tiếp, nhưng đóng vai trò quan trọng trong khởi phát và duy trì quá trình bệnh lý.

Người ta cho rằng stress tác động lên hệ thống thần kinh - nội tiết, ức chế toàn bộ hệ thống miễn dịch thông qua tăng bài tiết CRH, ACTH và cortisol. Trẻ có kiểu hình thần kinh không ổn định có nguy cơ mắc bệnh Basedow cao hơn [23], [24], [25]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 - Tuổi: bệnh hiếm gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh Basedow tăng dần theo tuổi: theo Douglas trẻ 0-5 tuổi chiếm 10%, 6 – 10 tuổi chiếm 30%, 11 -15 tuổi chiếm 60%. Theo Nguyễn Bích Hoàng 2005 [26] trẻ em 6-10 tuổi chiếm 31,4%, 11 -16 tuổi chiếm 66,6 % trường hợp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ