Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Vệ thuộc tỉnh Quảng Ngãi có tổng diện tích tự nhiên 1.260 km2 với chiều dài dòng chính 91 km, mật độ sông suối đạt 0,79 km/km2 và độ dốc lưu vực bình quân 19,9%. Tổng lượng dòng chảy mặt trung bình nhiều năm tại trạm thủy văn An Chỉ đạt xấp xỉ 2,05 tỷ m3, tương ứng lưu lượng bình quân 64,9 m3/s. Dù sở hữu nguồn nước mặt dồi dào, lưu vực lại chịu sự phân bố dòng chảy không đều theo không gian và thời gian. Lượng mưa trung bình năm biến động từ 1.700 mm tại vùng đồng bằng ven biển lên đến 4.000 mm ở vùng núi cao Ba Tơ và Giá Vực. Mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12 chiếm từ 70% đến 80% tổng lượng dòng chảy năm với lưu lượng đỉnh lũ lịch sử đạt 4.290 m3/s, trong khi mùa khô kéo dài 8 tháng chỉ chiếm từ 30% đến 35% lượng nước, khiến lưu lượng kiệt ngày có thời điểm giảm về 0 m3/s.

Thực trạng này gây ra áp lực nghiêm trọng đối với việc cấp nước cho 139.476 người dân, 37.821 ha đất canh tác nông nghiệp và các cơ sở sản xuất công nghiệp đạt giá trị 955 triệu USD trên địa bàn. Mục tiêu của nghiên cứu là ứng dụng mô hình WEAP để mô phỏng và tính toán cân bằng nước cho lưu vực sông Vệ giai đoạn hiện trạng 2010 và dự báo đến các năm 2015, 2020. Luận văn tích hợp đồng thời nguồn nước mặt và tiềm năng khai thác nước dưới đất đạt 34.868 m3/ngày, từ đó đề xuất nguyên tắc và tỷ lệ phân bổ nguồn nước hợp lý nhằm giảm thiểu nguy cơ thiếu nước cục bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết cân bằng nước hệ thống nguồn nước, xem xét tài nguyên nước như một hệ thống liên kết chặt chẽ giữa nguồn cung, công trình điều tiết, nhu cầu sử dụng và các tác động môi trường. Phương trình cân bằng nước định lượng sự chênh lệch giữa tổng lượng nước đến (mưa, dòng chảy mặt, nước ngầm, nước hồi quy) và tổng lượng nước đi (bốc thoát hơi, ngấm sâu, lượng nước cung cấp cho các ngành và dòng chảy ra khỏi cửa sông).

Bên cạnh đó, nghiên cứu áp dụng lý thuyết quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo nguyên tắc coi nước là tài sản công cộng và hàng hóa kinh tế, bám sát các quy định của Luật Tài nguyên nước năm 1998, Nghị định 179/1999/NĐ-CP và Nghị định 149/2004/NĐ-CP. Ba khái niệm cốt lõi được định lượng trong mô hình gồm: dòng chảy môi trường (nhu cầu duy trì hệ sinh thái thủy sinh, được tính bằng 10% tổng nhu cầu của các ngành trên mỗi tiểu vùng), nút nhu cầu tiêu thụ nước và tỷ lệ nước hồi quy sau sử dụng.

Phương pháp nghiên cứu

Về nguồn dữ liệu và cỡ mẫu, nghiên cứu thu thập chuỗi số liệu quan trắc khí tượng thủy văn trong 33 năm liên tục (từ năm 1976 đến năm 2009) tại trạm An Chỉ (diện tích khống chế 854 km2) kết hợp số liệu mưa từ 5 trạm quan trắc đại diện gồm Ba Tơ, Giá Vực, Sơn Giang, Sơn Hà và Quảng Ngãi. Dữ liệu không gian sử dụng mô hình độ cao số DEM độ phân giải 90x90m. Dữ liệu kinh tế - xã hội được trích xuất từ niên giám thống kê năm 2009 và năm 2010 của 5 huyện thuộc lưu vực gồm Ba Tơ, Minh Long, Mộ Đức, Nghĩa Hành và Tư Nghĩa.

Phương pháp phân tích kết hợp hai mô hình chuyên ngành:

Thứ nhất, mô hình bể chứa TANK của Nhật Bản được sử dụng để tính toán quá trình hình thành dòng chảy từ mưa cho các tiểu lưu vực không có trạm đo. Mô hình TANK được chọn nhờ khả năng mô phỏng chi tiết dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm tầng nông, phù hợp với địa hình đồi núi dốc 19,9% của lưu vực. Kết quả hiệu chỉnh và kiểm định tại trạm An Chỉ đạt chỉ số hiệu quả Nash-Sutcliffe ở mức tin cậy cao.

Thứ hai, mô hình WEAP phiên bản 3.0 của Viện Môi trường Stockholm được chọn làm công cụ trung tâm để tính toán cân bằng nước. WEAP có khả năng kết nối mạng lưới dòng chảy tự nhiên dài 290 km của 6 tiểu vùng với các điểm tiêu thụ nước, đồng thời tích hợp linh hoạt nguồn nước dưới đất 34.868 m3/ngày và công cụ Scenario Explorer để phân tích các kịch bản cấp nước giai đoạn 2011–2020. Hệ thống thông tin địa lý GIS (ArcView, MapInfo) được dùng để số hóa và quản lý thuộc tính không gian.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nhu cầu dùng nước trên lưu vực sông Vệ tăng trưởng mạnh qua các giai đoạn. Nhu cầu nước sinh hoạt tăng từ 5,017 triệu m3 vào năm 2010 lên 6,525 triệu m3 vào năm 2015 và đạt 7,932 triệu m3 vào năm 2020, tương đương mức tăng 58,1% sau 10 năm do định mức cấp nước đô thị tăng từ 120 lên 180 lít/người/ngày. Nhu cầu dòng chảy môi trường tăng từ 3,765 triệu m3 năm 2010 lên 7,931 triệu m3 năm 2020, tức tăng gấp 2,1 lần nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ sinh thái hạ lưu.

Thứ hai, tồn tại sự mất cân đối rõ rệt về nhu cầu nước giữa các tiểu vùng. Khu vực thượng lưu gồm Vùng 1, Vùng 2 và Vùng 3 chiếm diện tích 571 km2 (chiếm 45,3% diện tích toàn lưu vực) nhưng chỉ tiêu thụ khoảng 25,6% tổng nhu cầu nước. Ngược lại, khu vực hạ lưu gồm Vùng 4, Vùng 5 và Vùng 6 tập trung tới 74,4% nhu cầu sử dụng, trong đó Vùng 5 có nhu cầu nước nông nghiệp lên đến 14,508 triệu m3 năm 2010.

Thứ ba, sự phân phối dòng chảy theo mùa tạo ra nguy cơ thiếu nước gay gắt trong 8 tháng mùa khô (từ tháng 1 đến tháng 8). Lượng nước mùa khô chỉ chiếm từ 30% đến 35% tổng lượng năm, dẫn đến tình trạng căng thẳng nguồn nước tại các huyện đồng bằng Mộ Đức và Tư Nghĩa.

Thứ tư, nguồn nước dưới đất có khả năng khai thác toàn lưu vực đạt 34.868 m3/ngày. Trong đó, Vùng 6 hạ sông Vệ chiếm tỷ trọng lớn nhất với 17.434 m3/ngày (chiếm 50,0%), tiếp theo là Vùng 4 với 6.974 m3/ngày (chiếm 20,0%) và Vùng 5 với 6.276 m3/ngày (chiếm 18,0%), tạo ra nguồn cấp bù quý giá cho nông nghiệp và sinh hoạt trong mùa hạn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự thiếu hụt nước tại hạ lưu sông Vệ là do chế độ mưa biến động mạnh với hệ số biến sai Cv từ 0,30 đến 0,50, cùng việc thiếu vắng các hồ chứa lớn có khả năng điều tiết nhiều năm. Mưa lớn tập trung trong 4 tháng mùa lũ tạo nên lưu lượng đỉnh lên tới 4.290 m3/s rồi đổ nhanh ra biển, trong khi các tháng mùa kiệt có mô đun dòng chảy chỉ đạt 2,82 l/s.km2.

Trong các báo cáo phân tích của WEAP, dữ liệu cân bằng nước được mô phỏng trực quan qua các bảng thống kê phân phối dòng chảy tháng và biểu đồ dạng cột so sánh lượng nước thiếu hụt giữa 4 kịch bản phát triển. Khi so sánh kịch bản phát triển tự nhiên với kịch bản có sự kết hợp điều tiết liên hồ và khai thác bổ sung 34.868 m3/ngày nước ngầm, lượng nước thiếu hụt của các ngành trong giai đoạn 2015–2020 giảm từ 35% đến 45%.

Kết quả thảo luận khẳng định tầm quan trọng của việc xác lập thứ tự ưu tiên: cấp nước sinh hoạt luôn xếp vị trí ưu tiên bậc 1, dòng chảy môi trường xếp ưu tiên bậc 2, tiếp đến là sản xuất nông nghiệp và công nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, ban hành quy chế phân bổ và chia sẻ nguồn nước lưu vực sông Vệ. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi cùng Sở Tài nguyên và Môi trường cần chủ trì xây dựng khung chia sẻ nguồn nước trong giai đoạn 2013–2015, bảo đảm cấp đủ 100% định mức nước sinh hoạt từ 150 đến 180 lít/người/ngày cho 139.476 người dân, đồng thời duy trì dòng chảy môi trường tối thiểu 10% tổng nhu cầu các ngành.

Thứ hai, nâng cấp mạng lưới trạm quan trắc khí tượng thủy văn tự động. Chi cục Thủy văn khu vực miền Trung phối hợp các đơn vị liên quan triển khai lắp đặt bổ sung 3 trạm đo lưu lượng tự động trên các nhánh sông Trà Nô và sông Vực Hồng trong giai đoạn 2013–2016, nâng độ chính xác dự báo dòng chảy đến đạt trên 90%.

Thứ ba, khai thác an toàn và bền vững nguồn nước dưới đất. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp Sở Xây dựng triển khai các dự án giếng khoan khai thác tầng chứa nước Bazan trong giai đoạn 2014–2020, huy động hiệu quả công suất 34.868 m3/ngày, ưu tiên cấp bù cho 37.821 ha đất nông nghiệp tại Vùng 4 và Vùng 6 vào các tháng kiệt nhất.

Thứ tư, áp dụng mô hình WEAP vào quản lý và điều hành lưu vực thời gian thực. Ban Quản lý lưu vực sông Vệ đưa phần mềm WEAP vào vận hành định kỳ từ năm 2014, tiến hành cập nhật dữ liệu và đánh giá lại cân bằng nước theo chu kỳ 5 năm, giúp cắt giảm từ 20% đến 30% thiệt hại kinh tế do hạn hán gây ra.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước như Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi, Chi cục Thủy lợi và Ủy ban nhân dân các huyện ven sông Vệ. Luận văn cung cấp căn cứ khoa học trực tiếp cho việc thẩm định quy hoạch tài nguyên nước và cấp phép khai thác 34.868 m3/ngày nước dưới đất.

Thứ hai, các đơn vị tư vấn và kỹ sư quy hoạch thủy lợi. Nhóm chuyên gia có thể áp dụng quy trình tích hợp mô hình TANK và mô hình WEAP 3.0 cho các lưu vực sông duyên hải miền Trung có diện tích từ 1.000 đến 2.000 km2 có điều kiện tự nhiên tương đồng.

Thứ ba, các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên ngành Thủy văn học, Kỹ thuật Tài nguyên nước. Luận văn là tài liệu tham khảo chi tiết về phương pháp xử lý chuỗi số liệu thủy văn 33 năm (1976–2009), số hóa DEM 90x90m và mô phỏng kịch bản cân bằng nước theo tiếp cận quản lý tổng hợp.

Thứ tư, các hợp tác xã nông nghiệp và ban quản lý khu công nghiệp tại địa phương. Các đơn vị có thể sử dụng dữ liệu nhu cầu dùng nước chi tiết của từng tháng để tối ưu hóa lịch tưới cho 37.821 ha cây trồng và bố trí kế hoạch sản xuất công nghiệp hợp lý trong mùa khô.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình WEAP có ưu điểm gì nổi bật so với các mô hình cân bằng nước khác? Mô hình WEAP phiên bản 3.0 cho phép tích hợp đồng thời tài nguyên nước mặt 2,05 tỷ m3 và nguồn nước ngầm 34.868 m3/ngày trên giao diện GIS. Mô hình hỗ trợ công cụ Scenario Explorer giúp thiết lập đa kịch bản phát triển và mô phỏng tức thời các quy tắc ưu tiên cấp nước.

Dòng chảy môi trường trên lưu vực sông Vệ được xác định theo nguyên tắc nào? Dòng chảy môi trường được tính bằng 10% tổng nhu cầu dùng nước của các ngành trên từng tiểu lưu vực theo khuyến nghị của Tổng cục Năng lượng và Tài nguyên nước Na Uy (NVE). Theo đó, nhu cầu dòng chảy môi trường đạt 3,765 triệu m3 năm 2010 và 7,931 triệu m3 năm 2020.

Nguồn nước dưới đất đóng vai trò gì trong việc giải quyết bài toán thiếu nước? Với tiềm năng khai thác 34.868 m3/ngày, trong đó Vùng 6 chiếm 17.434 m3/ngày, nước dưới đất là nguồn cấp bổ trợ thiết yếu trong 8 tháng mùa khô, giúp giảm áp lực khai thác nước mặt khi dòng chảy sông Vệ suy giảm nghiêm trọng.

Lưu vực sông Vệ được chia thành bao nhiêu vùng cân bằng nước? Áp dụng công cụ GIS và địa hình DEM 90x90m, lưu vực 1.260 km2 được chia thành 6 tiểu vùng cân bằng: Thượng sông Vệ (306 km2), Sông Trà Nô (157 km2), Sông Nề (108 km2), Khu giữa Sông Vệ (281 km2), Sông Vực Hồng (257 km2) và Hạ Sông Vệ (151 km2).

Các kịch bản tính toán đến năm 2020 đem lại giải pháp gì cho lưu vực? Các kịch bản mô phỏng mức độ gia tăng nhu cầu nước sinh hoạt lên 7,932 triệu m3 và nhu cầu tưới cho 37.821 ha đất canh tác. Kết quả giúp nhà quản lý lựa chọn phương án điều tiết liên hồ kết hợp khai thác nước ngầm, giảm 35% đến 45% lượng nước thiếu hụt trong mùa khô.

Kết luận

  • Xây dựng thành công mô hình WEAP kết hợp mô hình TANK và GIS trên diện tích lưu vực 1.260 km2 với 6 tiểu vùng cân bằng nước chi tiết.
  • Lượng hóa toàn diện cán cân tài nguyên nước gồm 2,05 tỷ m3 nước mặt hàng năm và 34.868 m3/ngày nước dưới đất cho các mốc thời gian 2010, 2015 và 2020.
  • Xác lập nhu cầu duy trì dòng chảy môi trường đạt từ 3,765 đến 7,931 triệu m3 nhằm bảo vệ hệ sinh thái sông bền vững.
  • Đề xuất khung thứ tự ưu tiên cấp nước 4 bậc và phân tích hiệu quả cắt giảm từ 35% đến 45% lượng nước thiếu hụt qua các kịch bản điều tiết.
  • Cung cấp cơ sở khoa học và công cụ hỗ trợ ra quyết định phục vụ trực tiếp cho công tác quy hoạch tài nguyên nước tại tỉnh Quảng Ngãi.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2013 đến năm 2020, việc đưa mô hình WEAP vào vận hành thực tế sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hạn hán trên địa bàn tỉnh. Hãy tải ngay toàn văn luận văn thạc sĩ để tham khảo phương pháp luận chi tiết và toàn bộ bộ số liệu tính toán thủy văn của công trình.