Tổng quan nghiên cứu

Khu vực bờ biển Việt Nam hàng năm chịu ảnh hưởng trực tiếp của khoảng 33% tổng số các cơn bão nhiệt đới hình thành trên vùng biển Tây Bắc Thái Bình Dương. Trung bình mỗi năm Biển Đông ghi nhận từ 10 cơn bão trở lên đạt cấp 10 trở lên, trong đó có hơn 60% số cơn bão đổ bộ trực tiếp vào dải ven biển Bắc Bộ và Trung Bộ. Hiện tượng nước dâng do bão kết hợp cùng triều cường và sóng lớn đã gây ra những thảm họa ngập lụt nghiêm trọng trong lịch sử, tiêu biểu như trận bão Dan năm 1989 gây nước dâng kỷ lục 3,6 m hay bão Frankie năm 1996 gây nước dâng 3,14 m tại Tiền Hải.

Huyện đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi nằm cách đất liền 15 hải lý về phía Đông Bắc, giữ vị trí tiền tiêu chiến lược về an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế biển. Với đặc thù địa hình đảo tiền tiêu nằm biệt lập ngoài khơi, Lý Sơn thường xuyên hứng chịu trực diện các cơn bão mạnh kèm theo sóng lớn và hiện tượng dồn ứ nước biển cực đoan. Mặc dù các bản tin dự báo khí tượng thủy văn đã liên tục được cập nhật, việc mô phỏng chi tiết trường nước dâng và xác định mực nước cực trị quanh vùng bờ biển đảo có địa hình phức tạp vẫn còn nhiều khoảng trống học thuật.

Nghiên cứu tập trung ứng dụng mô hình số trị Delft3D để mô phỏng phân bố trường nước dâng bão và xác định mực nước dâng cực đại xung quanh khu vực đảo Lý Sơn và dải ven bờ Quảng Ngãi. Kết quả nghiên cứu là luận cứ khoa học định lượng có giá trị cao, hỗ trợ công tác quy hoạch không gian biển, nâng cao độ an toàn cho các công trình đê kè biển và giảm thiểu đến hơn 40% thiệt hại do thiên tai ngập lụt gây ra.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng hệ phương trình nước nông hai chiều phi tuyến tích phân theo chiều sâu, mô tả quá trình biến đổi động lượng và khối lượng của khối nước dưới tác động của các ngoại lực khí quyển. Hai cơ chế động lực chính tạo nên hiện tượng nước dâng do bão bao gồm: hiệu ứng ứng suất tiếp tuyến của gió bão trên mặt biển và hiệu ứng giảm áp suất khí quyển tại tâm bão (theo quy luật nghịch áp, khí áp giảm 1 hPa làm mực nước biển dâng lên khoảng 1 cm).

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết nước dâng do sóng của Longuet-Higgins và Stewart (1960, 1963). Lý thuyết này giải thích sự biến đổi gradient ngang của ứng suất bức xạ khi sóng truyền vào vùng nước nông và đới sóng đổ, đóng góp từ 10% đến 15% (thậm chí lên tới 50% ở các vùng thềm lục địa dốc hẹp) vào mực nước cực trị tổng cộng. Một khái niệm then chốt được áp dụng là đường bao nước dâng cực đại MEOW (Maximum Envelope of Water), phản ánh giá trị mực nước dâng cao nhất có thể xuất hiện tại từng điểm nút lưới qua toàn bộ quá trình phát triển và di chuyển của bão, tương đương với mực nước cực trị có tần suất xuất hiện hiếm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu khai thác chuỗi dữ liệu khí tượng thủy văn và quỹ đạo bão trong hơn 30 năm trên vùng Biển Đông. Nguồn dữ liệu kiểm chứng bao gồm tài liệu quan trắc mực nước thực tế tại trạm hải văn đảo Lý Sơn trong các đợt đo đạc tiêu biểu vào tháng 2, tháng 5 và tháng 8 năm 2018. Địa hình đáy biển được số hóa chi tiết từ các hải đồ hàng hải kết hợp dữ liệu độ sâu vệ tinh nhằm tái lập chính xác cấu trúc địa hình rạn san hô quanh đảo.

Mô hình số trị Delft3D (gồm các phân hệ Delft3D-FLOW và Delft3D-WAVE) được lựa chọn nhờ khả năng mô phỏng đồng thời và tương tác hai chiều giữa dòng chảy, thủy triều, nước dâng và trường sóng. Không gian tính toán được phân chia theo hệ thống lưới lồng: lưới ngoài bao phủ toàn bộ Biển Đông để đón nhận các tác động khí tượng quy mô lớn, và lưới chi tiết độ phân giải cao tập trung vào khu vực đảo Lý Sơn và dải ven bờ Quảng Ngãi (Bình Thuận, An Thành, Ba Làng An). Phương pháp sai phân hữu hạn giải hệ phương trình thủy động lực học giúp đảm bảo độ ổn định số học và phản ánh trung thực các điều kiện biên lỏng và biên cứng phức tạp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Mô phỏng 3 cơn bão mạnh điển hình đổ bộ vào khu vực Trung Bộ cho thấy sự phân hóa sâu sắc của trường mực nước dâng:

Thứ nhất, trong cơn bão Xangsane (tháng 9-10/2006), mực nước dâng do bão đạt giá trị cực đại trên 1,85 m tại khu vực phía Bắc và phía Tây đảo Lý Sơn, trong khi tại điểm trích xuất ven bờ Ba Làng An đạt xấp xỉ 1,42 m. Trường sóng ghi nhận chiều cao sóng có ý nghĩa vượt mức 5,2 m tại đới đón gió.

Thứ hai, trong cơn bão Ketsana (tháng 9/2009), mực nước dâng cực đại xung quanh đảo Lý Sơn dao động từ 1,20 m đến 1,65 m. Sự kết hợp giữa mực nước dâng do gió và sóng đổ cao trên 4,5 m đã gây ngập lụt nghiêm trọng dọc theo dải bờ phía Nam và Đông Nam của huyện đảo.

Thứ ba, trong cơn bão Nari (tháng 10/2013), đỉnh triều khí tượng và nước dâng xuất hiện lệch pha với đỉnh triều thiên văn từ 3 đến 5 giờ. Mặc dù đỉnh nước dâng không trùng với đỉnh triều cao nhất, mực nước dâng trên 0,6 m vẫn duy trì liên tục trong suốt hơn 8 giờ, gây uy hiếp lớn đối với hệ thống kè bờ và âu thuyền tránh trú bão.

Thứ tư, kết quả tổng hợp MEOW chỉ ra rằng vùng bờ phía Bắc và Đông Bắc đảo Lý Sơn luôn có giá trị nước dâng cao hơn từ 15% đến 25% so với phía Tây Nam, do ảnh hưởng của góc đón gió thịnh hành trong bão và cấu trúc dốc ngầm dưới đáy biển.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự chênh lệch mực nước dâng quanh đảo là do vị trí tương đối giữa tâm bão và hướng di chuyển của bão đối với hình thái địa hình đảo. Khu vực nằm ở góc 1/4 phía trước bên phải đường đi của bão luôn chịu ứng suất gió mạnh nhất kết hợp với sự giảm sâu của khí áp tâm bão.

Dữ liệu mô phỏng được thể hiện trực quan qua các biểu đồ chuỗi thời gian so sánh giữa mực nước tính toán và mực nước quan trắc thực tế tại trạm Lý Sơn (vào các tháng 2, 5, 8/2018). Biểu đồ cho thấy hệ số tương quan đạt trên 0,92 và sai số tuyệt đối trung bình (MAE) duy trì dưới 0,12 m, chứng minh độ tin cậy rất cao của mô hình Delft3D. Bản đồ số trị 2D thể hiện rõ các vector dòng chảy dồn ứ ven bờ và sự tập trung năng lượng sóng tại các mũi nhô địa hình như Ba Làng An và dải rạn san hô đảo Lý Sơn, hoàn toàn phù hợp với các lý thuyết động lực học ven biển hiện đại.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cấp hệ thống dự báo và cảnh báo sớm nước dâng bão thời gian thực. Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia và Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Trung Bộ cần tích hợp mô hình Delft3D vận hành tự động, nâng thời gian dự báo trước lên 24 đến 48 giờ với độ sai số mực nước khống chế dưới 0,2 m, hoàn thành triển khai trong giai đoạn 2024 - 2026.

Thứ hai, điều chỉnh cao trình thiết kế các công trình hạ tầng đê kè biển và âu tàu trên đảo Lý Sơn. Sở Xây dựng cùng Ban Quản lý dự án huyện Lý Sơn cần bổ sung biên an toàn mực nước tối thiểu từ 1,5 m đến 2,0 m dựa trên bản đồ đường bao nước dâng cực đại MEOW ứng với chu kỳ lặp 50 đến 100 năm, áp dụng ngay cho các dự án xây dựng mới từ năm 2024.

Thứ ba, xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ ngập lụt ven biển chi tiết tỷ lệ 1:5.000. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi chủ trì rà soát, khoanh vùng 100% các khu vực trũng thấp có nguy cơ ngập sâu trên 1,0 m tại Lý Sơn, Bình Thuận, An Thành và Ba Làng An, hoàn tất trong thời gian 18 tháng.

Thứ tư, hoàn thiện quy chế ứng phó và sơ tán khẩn cấp dân cư vùng bờ. Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh Quảng Ngãi cần thiết lập các kịch bản sơ tán chủ động, rút ngắn 30% thời gian triển khai cứu hộ, bảo vệ an toàn cho hơn 22.000 người dân và khách du lịch trên đảo trước mùa mưa bão hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Hải dương học, Khí tượng - Thủy văn và Kỹ thuật công trình biển. Luận văn cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về thiết lập mô hình Delft3D, kỹ thuật xây dựng lưới lồng và thuật toán xác định MEOW.

Nhóm 2: Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương, đặc biệt là Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi và huyện Lý Sơn. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học phục vụ công tác quy hoạch không gian biển, phát triển kinh tế du lịch và xây dựng kế hoạch ứng phó biến đổi khí hậu giai đoạn 2025 - 2030.

Nhóm 3: Các kỹ sư tư vấn thiết kế và các viện quy hoạch xây dựng công trình thủy công ven biển. Tài liệu mang lại nguồn thông số đầu vào đáng tin cậy về mực nước cực trị, trường dòng chảy và tác động sóng phục vụ tính toán ổn định kết cấu kè bảo vệ bờ đảo.

Nhóm 4: Các tổ chức quản lý rủi ro thiên tai và cứu trợ khẩn cấp. Luận văn giúp xây dựng các kịch bản diễn tập phòng chống thảm họa ngập lụt sát với thực tế thủy triều và nước dâng khí tượng.

Câu hỏi thường gặp

Nước dâng do bão tại đảo Lý Sơn có đặc điểm gì khác biệt so với các vùng bờ biển đồng bằng? Tại đảo Lý Sơn, do quy mô đảo nhỏ và độ dốc đáy biển lớn, hiệu ứng dồn ứ nước diễn ra nhanh và phụ thuộc chặt chẽ vào cấu trúc rạn san hô bao quanh, khác với các vùng đồng bằng thoái triều có bãi triều rộng làm tiêu tán một phần năng lượng sóng.

Mô hình Delft3D mang lại ưu thế gì vượt trội trong tính toán nước dâng bão? Delft3D cho phép ghép nối hai chiều giữa phân hệ thủy động lực học FLOW và phân hệ sóng WAVE, giải quyết chính xác sự tương tác phi tuyến giữa dòng triều, nước dâng do áp/gió và thành phần nước dâng do sóng đổ ở đới nước nông ven bờ.

Khái niệm MEOW đóng vai trò như thế nào trong quy hoạch hạ tầng ven biển? Đường bao nước dâng cực đại MEOW tổng hợp tất cả các giá trị mực nước đỉnh cao nhất từ nhiều kịch bản bão khác nhau, cung cấp giá trị bao phủ an toàn tuyệt đối cho việc tính toán cao trình đê kè mà không bỏ sót các vị trí xung yếu.

Mức độ đóng góp của thành phần sóng vào tổng mực nước dâng là bao nhiêu? Theo các nghiên cứu thủy động lực học ven bờ, thành phần nước dâng do sóng đổ đóng góp khoảng 10% đến 15% tổng mực nước cực trị trong điều kiện bờ mở và có thể vượt quá 30% tại các khu vực rạn ngầm dốc đứng quanh đảo Lý Sơn.

Tại sao cần mô phỏng đồng thời triều thiên văn và triều khí tượng trong bão? Vì quá trình tương tác giữa sóng triều thiên văn và nước dâng do bão có tính chất phi tuyến; việc tính toán độc lập rồi cộng đại số sẽ dẫn đến sai số lớn trong việc xác định thời điểm và độ lớn của đỉnh ngập lụt thực tế.

Kết luận

  • Ứng dụng thành công mô hình số trị Delft3D để mô phỏng chính xác trường thủy động lực học và nước dâng do bão tại vùng biển đảo Lý Sơn.
  • Xác định chi tiết trường mực nước dâng và sóng cực đại qua 3 cơn bão lịch sử Xangsane (2006), Ketsana (2009) và Nari (2013) với độ chính xác cao (hệ số tương quan trên 0,92).
  • Làm rõ cơ chế tương tác phi tuyến giữa triều thiên văn, ứng suất gió bão và gradient ứng suất bức xạ sóng ven bờ.
  • Thiết lập bộ bản đồ đường bao nước dâng cực đại MEOW, cung cấp thông số đầu vào thiết yếu cho quy hoạch xây dựng công trình đê kè biển.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc phục vụ công tác phòng chống thiên tai và phát triển kinh tế biển bền vững cho tỉnh Quảng Ngãi.

Trong giai đoạn tiếp theo đến năm 2030, hướng nghiên cứu cần được mở rộng để tích hợp các kịch bản nước biển dâng do biến đổi khí hậu và tự động hóa chuỗi dự báo khí tượng hải văn thời gian thực. Độc giả và các nhà nghiên cứu quan tâm hãy tiếp tục khai thác các kết quả mô phỏng số trị chi tiết trong luận văn để ứng dụng hiệu quả vào công tác bảo vệ và phát triển bền vững hải đảo Việt Nam.