PHẦN MỞ ĐẦU I.Sự cần thiết của nghiên cứu Nước sạch là nhu cầu thiết yếu không thể thiếu của mọi người dân và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, điều kiện sống của người dân. Ở Việt Nam hiện nay, sử dụng nước sạch, đặc biệt ở khu vực nông thôn luôn được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm chú trọng. Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách để thực hiện mục tiêu quốc gia về nước sạch cho người dân nông thôn. Từ đó, các công trình cấp nước sạch được đầu tư xây dựng ở nhiều nơi, người dân nông thôn đã được tiếp cận với các nguồn nước sạch, phục vụ nhu cầu sinh hoạt và đời sống.
Do tốc độ phát triển kinh tế và đô thị hoá nhanh, nhiều nơi, nhất là vùng nông thôn, người dân vẫn phải đối mặt với sự khan hiếm nước sinh hoạt. Trong những năm qua, tỉnh Bắc Ninh nói chung và huyện Lương Tài nói riêng, chương trình cấp nước sạch cho người dân nông thôn được cụ thể hóa bằng nhiều văn bản, chính sách của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh. Do vậy, nhiều công trình cấp nước sạch đã và đang được xây dựng để dần thay thế các loại hình cấp nước truyền thống không còn phù hợp, tỷ lệ dân cư nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh ngày càng được nâng lên, đồng thời làm thay đổi nhận thức của người dân nông thôn về ý nghĩa, lợi ích của việc sử dụng nước sạch, đảm bảo sức khỏe, điều kiện sống cho người dân và cộng đồng. Bên cạnh những kết quả đã đạt được, thực tế hiện nay trên địa bàn huyện Lương Tài vẫn còn bộc lộ một số hạn chế: tỷ lệ người dân được dùng nước sạch còn thấp, chất lượng nước, chất lượng xây dựng các công trình cấp nước vẫn còn thấp, quy mô các công trình còn nhỏ lẻ, phân tán dẫn đến việc thất thoát nước lớn, ảnh hưởng đến việc cung cấp nước cho người dân), một số các mô hình quản lý, vận hành, khai thác các công trình cấp nước hiện tại còn 2 chưa phù hợp (mô hình Ban quản lý vận hành của xã, Tổ quản lý vận hành của thôn, mà các mô hình này thì thể chế hoạt động không rõ ràng, quyền lợi và trách nhiệm không được phân định cụ thể, còn tính kiêm nhiệm, hầu hết công nhân quản lý, vận hành chưa qua đào tạo chuyên môn, thiếu công cụ và phương tiện kiểm tra, xử lý các sự cố sảy ra trong quá trình vận hành.
Vì thế dẫn đến hoạt động không hiệu quả. Do đó, mô hình này không phù hợp với thực tế hiện nay, cần thay đổi, hoàn thiện hơn), giá nước sạch bán cho người dân nông thôn còn tương đối cao, công tác huy động các nguồn lực đầu tư cho cung cấp nước sạch cho người dân còn hạn chế (chủ yếu các công trình cấp nước là dùng ngân sách nhà nước). Vì vậy để góp phần giải quyết những tồn tại, hạn chế nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu mô hình cấp nước sạch nông thôn cho huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh”.Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá thực trạng mô hình cấp nước sạch nông thôn khu vực huyện Lương Tài - Đề xuất mô hình cấp nước sạch nông thôn hợp lý cho huyện Lương Tài, nhằm tăng tỷ lệ cấp nước sạch cho người dân; - Đề xuất các hình thức huy động nguồn vốn để đầu tư xây dựng công trình và các mô hình quản lý sau khi đầu tư xây dựng. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Phạm vi và khu vực nghiên cứu là: huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
Trong đó tập trung nghiên cứu điển hình tại 02 xã chưa có hệ thống cấp nước sạch là xã An Thịnh và xã Mỹ Hương - Đối tượng nghiên cứu là: + Cấp nước sạch nông thôn; + Các mô hình hệ thống cấp nước nông thôn + Các mô hình quản lý và hình thức đầu tư cấp nước. 3 + Hệ thống cấp nước cho hai xã An Thịnh và Mỹ Hương IV. Cách tiếp cận - Sử dụng tối đa các kinh nghiệm được tích lũy từ công tác quản lý các dự án cấp thoát nước tại cơ quan; - Phối kết hợp công tác thu thập số liệu và điều tra hiện trạng tại cơ sở; - Kết hợp với UBND huyện Lương Tài, Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Ninh, Trung tâm nước sạch và VSMT nông thôn Bắc Ninh phân tích, đánh giá nhu cầu. Làm cơ sở đề xuất những giải pháp phù hợp với điều kiện của các xã trong khu vực.
Nội dung nghiên cứu a. Nghiên cứu tổng quan: - Tổng quan về cấp nước nông thôn, các mô hình cấp nước và mô hình quản lý; - Tổng quan về huyện Lương Tài: Tình hình kinh tế xã hội, điều kiện tự nhiên, đặc điểm các nguồn nước; Hiện trạng sử dụng nước sạch của người dân và các công trình cung cấp nước sạch; Các mô hình cấp nước và mô hình quản lý. Nghiên cứu mô hình cấp nước sạch nông thôn cho huyện Lương Tài. Nghiên cứu các hình thức đầu tư và các mô hình quản lý, vận hành sau khi đầu tư xây dựng.
Các phương pháp nghiên cứu Để thực hiện mục tiêu và nội dung nghiên cứu đề ra, trong luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu; - Phương pháp khảo sát thực địa kết hợp với phỏng vấn; - Phương pháp dự báo; - Phương pháp mô hình hóa. 4 * Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu; + Thu thập các tài liệu về các mô hình cấp nước nông thôn, mô hình quản lý đang được áp dụng hiện nay. + Thu thập tài liệu về điều kiện tự nhiên, xã hội, cơ sở hạ tầng của vùng nghiên cứu. + Thu thập tài liệu về đặc điểm nguồn nước của vùng nghiên cứu.
+ Thu thập tài liệu về hiện trạng cấp nước trong vùng nghiên cứu. + Thu thập các số liệu thuộc về cơ sở thiết kế công trình cấp nước sạch. + Thu thập về các tài liệu về các mô hình quản lý vận hành công trình cấp nước sạch. + Và một số các tài liệu khác.
* Phương pháp khảo sát thực địa kết hợp với phỏng vấn; Việc nghiên cứu mô hình cấp nước sạch nông thôn có liên quan đến nhiều yếu tố như kỹ thuật, kinh tế, xã hội., có tác động rộng rãi đến cuộc sống của cộng đồng trên địa bàn rộng lớn vì vậy khảo sát thực địa kết hợp với phỏng vấn là cần thiết đối với nghiên cứu này. *Phương pháp dự báo; Để dự báo được về tình hình dân số, nhu cầu dung nước…. của vùng nghiên cứu trong từng giai đoạn cụ thể. * Phương pháp mô hình hóa.
Đề tài này ứng dụng mô hình EPANET để tính toán thuỷ lực hệ thống mạng đường ống cấp nước.Tổng quan hiện trạng cấp nước nông thôn, mô hình cấp nước nông thôn.Tổng quan hiện trạng cấp nước nông thôn. Theo tài liệu Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 3 (2011 – 2015), tính đến năm 2010, tổng số dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh là 48.457 người, tăng 8.000 người so với cuối năm 2005, tỷ lệ số dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh tăng từ 62% lên 80%, trung bình tăng 3,6%/năm. Trong đó, tỷ lệ số dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt đạt QCVN 02/2009: BYT trở lên là 40%. Trong 7 vùng kinh tế - sinh thái, vùng Đông Nam bộ có tỷ lệ số dân nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 90%, cao hơn trung bình cả nước 10%.
Thấp nhất là vùng Tây Nguyên 72% và Bắc Trung bộ 73%, thấp hơn trung bình 8% (Bộ Y tế, 2011). Một số tiến bộ khoa học – công nghệ cấp nước phù hợp với điều kiện địa hình, khí tượng, thủy văn của địa phương đã được áp dụng. Trong cấp nước nhỏ lẻ đã cải tiến và áp dụng công nghệ, kỹ thuật xử lý nước như dàn mưa và bể lọc cát để xử lý sắt và ô nhiễm Asen từ các giếng khoan sử dụng nước ngầm tầng nông. Nhiều thiết bị đồng bộ bằng nhiều loại vật liệu phù hợp để xử lý nước được giới thiệu và áp dụng trên cả nước.
Một số công trình cấp nước tập trung đã áp dụng công nghệ lọc tự động không van, xử lý hóa học (xử lý sắt, mangan, asen, xử lý độ cứng…), hệ thống bơm biến tần, hệ thống tin học trong quản lý vận hành… Công nghệ hồ treo được cải tiến có quy mô và chất lượng khá hơn góp phần giải quyết khan hiếm nguồn nước ở vùng cao núi đá trong mùa khô. Khi xảy ra thiên tai, lũ lụt các địa phương đã xử dụng cloramin B và Aqua tab, túi PUR … để xử lý nước phục vụ ăn uống.Các mô hình cấp nước nông thôn. Hiện nay có hai loại hình mô hình cấp nước nông thôn chính, bao gồm: Hệ thống cấp nước tập trung và hệ thống cấp nước phân tán. Hệ thống cấp nước tập trung.
- Hệ thống cấp nước với nguồn nước là nước ngầm. Hệ thống cấp nước tập trung sử dụng nguồn nước ngầm được áp dụng phổ biến ở những nơi khai thác nguồn nước ngầm. Nước ngầm được khai thác từ các giếng khoan đường kính lớn. Nước sau khi xử lý đảm bảo chất lượng được cấp vào mạng lưới đường ống tới các hộ dùng nước.
Loại hình cấp nước này phù hợp với vùng tập trung đông dân cư. Ưu điểm của loại hình là: có thể áp dụng các công nghệ xử lý nước đảm bảo cấp nước đạt tiêu chuẩn và giảm được nguy cơ ô nhiễm nguồn nước do khai thác nhỏ lẻ hộ gia đình. Tùy thuộc vào lưu lượng khai thác của tầng chứa nước và phân bố dân cư, hệ thống cấp nước tập trung khai thác nước ngầm có thể có quy mô từ nhỏ đến lớn khác nhau. Sơ đồ hệ thống cấp nước tập trung sử dụng nguồn nước ngầm được thể hiện trên Hình 1.
B¬m B¬m Sö dụng Níc ngÇm GiÕng khoan C«ng tr×nh M¹ng líi xö lý ph©n phèi (1) m¹ch s©u D90 - D 325 Sö dụng Níc ngÇm GiÕng B¬m C«ng tr×nh B¬m §µi níc, M¹ng líi (2) khoan D90 - xö lý bÓ ¸p lùc m¹ch s©u D 325 ph©n phèi Níc ngÇm B¬m B¬m GiÕng khoan Khö s¾t, Sö dụng D90 - D 325 läc nhanh, M¹ng líi (3) m¹ch s©u bÓ ¸p lùc ph©n phèi Hình 1.