Tổng quan nghiên cứu

Quần thể Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) toàn cầu hiện ước tính chỉ còn khoảng 200 cá thể phân bố rải rác tại 5 địa phương của Việt Nam. Trong đó, Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc mũi hếch tỉnh Hà Giang (khu vực rừng Khau Ca) là nơi sinh sống của quần thể lớn nhất với số lượng đạt khoảng 90 cá thể. Khu bảo tồn được thành lập theo Quyết định số 3115/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang trên tổng diện tích 2.024 ha, bao gồm 1.000 ha thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, trải dài trên địa bàn 3 xã Tùng Bá (huyện Vị Xuyên), Minh Sơn và Yên Định (huyện Bắc Mê).

Vấn đề cốt lõi đặt ra là Ban quản lý khu bảo tồn phải vận hành theo cơ cấu kiêm nhiệm, ranh giới thực địa chưa được cắm mốc hoàn chỉnh, trong khi áp lực tài nguyên từ 8 thôn vùng đệm với 1.050 đến 1.824 hộ dân sinh sống xung quanh vô cùng gay gắt. Tỷ lệ hộ nghèo tại các xã dao động từ 10,04% đến 16,4%, kết hợp với hoạt động của 5 đơn vị khai thác khoáng sản tại xã Minh Sơn tạo ra nguy cơ suy thoái sinh cảnh nghiêm trọng.

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là đánh giá thực trạng quản lý bảo tồn, khảo sát điều kiện kinh tế - xã hội tại địa phương trong giai đoạn 2005–2011, từ đó đề xuất mô hình bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo vệ loài linh trưởng cực kỳ nguy cấp này. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quyết định trong việc duy trì tốc độ phục hồi cá thể Voọc mũi hếch (tăng 50% từ khoảng 60 cá thể năm 2002 lên 90 cá thể năm 2011), đồng thời thiết lập cơ chế đồng quản lý bền vững giữa Nhà nước và người dân bản địa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên 3 khung lý thuyết và mô hình quản trị tài nguyên sinh thái hiện đại: Lý thuyết đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên (Co-management Theory), Mô hình bảo tồn dựa vào cộng đồng (Community-Based Conservation - CBC) và Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework). Khung phân tích tập trung vào 4 khái niệm then chốt: Bảo tồn nguyên vị (In-situ conservation), Quản lý rừng đặc dụng, Đa dạng sinh học và Cơ chế chia sẻ lợi ích tài nguyên.

Các cơ sở pháp lý nền tảng bao gồm Luật Đa dạng sinh học năm 2008, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006–2010, Quyết định số 75/QĐ-TTg và Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg về chính sách đồng quản lý rừng đặc dụng. Nghiên cứu cũng vận dụng Nghị định 99/2010/NĐ-CP về chi trả dịch vụ môi trường rừng và phân tích rào cản từ Điều 24 Nghị định 117/2010/NĐ-CP khi quy định các khu bảo tồn dưới 5.000 ha không đủ điều kiện thành lập Ban quản lý chuyên trách độc lập.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập dữ liệu kết hợp nghiên cứu tài liệu thứ cấp giai đoạn 2005–2011 với điều tra thực địa từ tháng 5/2012 đến tháng 9/2012. Tổng cỡ mẫu khảo sát trực tiếp là 65 đối tượng, áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích nhằm đảm bảo tính đại diện cho mọi bên liên quan:

  • Nhóm cán bộ quản lý (35 người): Sử dụng phương pháp phỏng vấn cấu trúc bằng bảng hỏi chuẩn hóa đối với 4 cán bộ cấp Sở (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường), 6 cán bộ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Giang, 2 cán bộ lâm nghiệp cấp huyện, 2 lãnh đạo khu bảo tồn, 14 cán bộ cấp xã và 7 trưởng thôn bản. Lý do lựa chọn bảng hỏi cấu trúc nhằm lượng hóa chính xác các bất cập về tổ chức bộ máy, cơ chế tài chính và lỗ hổng chính sách.
  • Nhóm cộng đồng bản địa (30 người dân): Áp dụng phương pháp phỏng vấn sâu tại 8 thôn mục tiêu. Lý do lựa chọn phỏng vấn sâu là do trình độ dân trí của đồng bào các dân tộc thiểu số như H'Mông, Dao, Tày còn hạn chế, đòi hỏi phương pháp tiếp cận trực tiếp, linh hoạt để nắm bắt chuẩn xác nhu cầu sinh kế và tập quán sử dụng tài nguyên rừng.

Nghiên cứu kết hợp công cụ Đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (PRA) thông qua hội thảo tham vấn ngày 31/7/2012 với sự hiện diện của 36 đại biểu từ cơ quan kiểm lâm, chính quyền 3 xã, đại diện tổ chức FFI và các tổ tuần rừng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu ghi nhận hệ sinh thái rừng Khau Ca sở hữu tính đa dạng sinh học vượt trội với 471 loài thực vật có mạch thuộc 268 chi, 113 họ (trong đó có 13 loài trong Sách đỏ Việt Nam, 15 loài thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP và 1 loài thực vật hạt trần nguy cấp theo IUCN là Amentotaxus argotaenia). Về động vật, khu bảo tồn ghi nhận 25 loài thú thuộc 12 họ (16 loài thuộc Phụ lục Nghị định 32/2006/NĐ-CP, 13 loài trong Sách đỏ Việt Nam), 153 loài chim, 8 loài dơi và 14 loài bò sát, lưỡng cư. Điểm sáng nổi bật nhất là quần thể Voọc mũi hếch tăng trưởng 50%, từ khoảng 60 cá thể năm 2002 lên 90 cá thể năm 2011 nhờ các biện pháp can thiệp kịp thời.

Mô hình bảo vệ rừng dựa vào người dân địa phương bước đầu phát huy hiệu quả với 2 Tổ tuần rừng cộng đồng (4 thành viên tại xã Tùng Bá, 2 thành viên tại xã Minh Sơn) và 1 Đội nghiên cứu gồm 4 thành viên. Lực lượng này duy trì tuần tra bảo vệ nghiêm ngặt từ 22 đến 24 ngày/tháng, trực tiếp kiểm soát 1.000 ha vùng lõi với mức thù lao 1,7 triệu đồng/tháng/người từ nguồn tài trợ phi chính phủ.

Tuy nhiên, áp lực kinh tế - xã hội lên khu bảo tồn là rất lớn. Cơ cấu kinh tế tại 3 xã phụ thuộc gần như tuyệt đối vào nông lâm nghiệp: xã Yên Định chiếm 99%, xã Tùng Bá chiếm 90% và xã Minh Sơn chiếm 60%. Tổng đàn gia súc quanh khu bảo tồn vượt mức 7.000 con (xã Tùng Bá có 2.458 con trâu, xã Yên Định có 1.792 con trâu, xã Minh Sơn có 2.667 con trâu), dẫn đến tình trạng chăn thả tự do xâm lấn thảm thực vật rừng. Bên cạnh đó, 5 doanh nghiệp khai khoáng hoạt động tại xã Minh Sơn cùng hoạt động khai thác gỗ củi tạo ra nguy cơ phân mảnh sinh cảnh nghiêm trọng.

Thảo luận kết quả

Các kết quả khảo sát thực địa có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ phân bố nhân lực kiểm lâm và bảng ma trận đánh giá áp lực tài nguyên. Biểu đồ tổng hợp ý kiến điều tra chỉ ra 100% cán bộ kiểm lâm và chính quyền xã đều đánh giá mô hình quản lý kiêm nhiệm hiện tại tồn tại nhiều bất cập, thiếu biên chế độc lập và thiếu nguồn kinh phí chi thường xuyên.

Nguyên nhân gốc rễ là do hạn chế quy định tại Nghị định 117/2010/NĐ-CP khiến diện tích 2.024 ha không thể thành lập Ban quản lý chuyên trách độc lập, trong khi ngân sách địa phương hạn hẹp. Khi so sánh với các mô hình đồng quản lý tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít (Cao Bằng) hay Vườn quốc gia Xuân Sơn (Phú Thọ) - nơi quản lý thành công 1.040 ha rừng đặc dụng thông qua cộng đồng thôn, nghiên cứu chỉ rõ việc trao quyền tự chủ và thực hiện chính sách hỗ trợ 40 triệu đồng/thôn/năm cùng 100.000 đồng/ha/năm theo Quyết định 24/2012/QĐ-TTg là giải pháp khả thi nhất để giải quyết xung đột bảo tồn tại Hà Giang.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý khu bảo tồn: Tái cấu trúc bộ máy theo hướng chuyển đổi từ cơ chế kiêm nhiệm sang thành lập Ban quản lý chuyên trách hoặc bố trí Trạm Kiểm lâm đặc dụng liên huyện trực thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Giang trước năm 2015. Bổ sung từ 5 đến 8 biên chế kiểm lâm chính quy nhằm phối hợp trực tiếp với chính quyền 3 xã. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

  2. Tiến hành phân định và cắm mốc ranh giới thực địa: Xác định ranh giới rõ ràng trên thực địa cho toàn bộ 2.024 ha khu bảo tồn, đặc biệt cắm biển báo mốc giới tại 1.000 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt tiếp giáp 8 thôn mục tiêu trong giai đoạn 2013–2014. Chủ thể thực hiện: Chi cục Kiểm lâm tỉnh phối hợp Ủy ban nhân dân huyện Vị Xuyên và Bắc Mê.

  3. Thể chế hóa Hội đồng tư vấn và nâng cấp Tổ tuần rừng cộng đồng: Ban hành quy chế hoạt động chính thức cho Hội đồng tư vấn cấp xã được thành lập từ tháng 6/2011. Tăng cường số lượng thành viên tổ tuần rừng từ 6 lên 12 người, nâng mức thù lao từ 1,7 triệu đồng lên 2,5 triệu đồng/tháng/người từ nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP. Timeline hoàn thành trong năm 2014. Chủ thể thực hiện: Ban quản lý khu bảo tồn và các tổ chức quốc tế.

  4. Triển khai các gói hỗ trợ phát triển sinh kế vùng đệm: Giải ngân gói kinh phí 40 triệu đồng/thôn/năm cho 8 thôn vùng đệm theo Quyết định 24/2012/QĐ-TTg; hỗ trợ cải tạo giống cây trồng, phát triển 30 ha nuôi trồng thủy sản tại Tùng Bá; quy hoạch vùng chăn thả gia súc tập trung nhằm giảm thiểu 100% tình trạng thả rông gia súc trong vùng lõi đến năm 2015. Chủ thể thực hiện: Phòng Nông nghiệp huyện Bắc Mê, Vị Xuyên và Ủy ban nhân dân 3 xã.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và lực lượng Kiểm lâm: Cung cấp căn cứ thực tiễn và cơ sở pháp lý vững chắc để ban hành chính sách giao khoán rừng, củng cố mô hình đồng quản lý tại các khu bảo tồn thiên nhiên có quy mô diện tích nhỏ dưới 5.000 ha.
  • Các tổ chức bảo tồn quốc tế và phi chính phủ (FFI, IUCN, WWF): Sử dụng các dữ liệu nhân khẩu, áp lực tài nguyên và sinh thái loài làm tài liệu tham chiếu chuẩn xác để thiết kế các dự án tài trợ phát triển sinh kế vùng đệm và tài trợ thiết bị cho tổ tuần tra cộng đồng.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Môi trường, Lâm nghiệp: Cung cấp bộ dữ liệu thực địa phong phú về 471 loài thực vật có mạch, hiện trạng 90 cá thể Voọc mũi hếch và khung phương pháp luận đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) tại vùng đồng bào thiểu số.
  • Ủy ban nhân dân cấp huyện và xã vùng đệm: Cung cấp cẩm nang thực hành để giải quyết bài toán mâu thuẫn giữa quy hoạch khai thác khoáng sản, sản xuất nông nghiệp với bảo vệ tài nguyên rừng tự nhiên tại cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn tiếp cận vấn đề bảo tồn loài Voọc mũi hếch theo khía cạnh nào?
Nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ bảo tồn nguyên vị gắn liền với phương thức đồng quản lý tài nguyên. Thay vì cô lập 2.024 ha rừng Khau Ca thành khu vực bất khả xâm phạm, nghiên cứu đề xuất tích hợp quyền lợi sinh kế của 8 thôn bản vào công tác bảo vệ sinh cảnh của 90 cá thể Voọc mũi hếch.

Vì sao Ban quản lý Khu bảo tồn Voọc mũi hếch Hà Giang phải hoạt động kiêm nhiệm?
Theo Điều 24 Nghị định 117/2010/NĐ-CP, chỉ các khu bảo tồn có diện tích trên 5.000 ha mới đủ điều kiện thành lập Ban quản lý chuyên trách độc lập. Do khu bảo tồn chỉ có quy mô 2.024 ha, bộ máy lãnh đạo phải do cán bộ Chi cục Kiểm lâm và Hạt Kiểm lâm Du Già kiêm nhiệm.

Tổ tuần rừng cộng đồng đóng vai trò gì trong việc bảo vệ quần thể linh trưởng?
Lực lượng gồm 6 người dân bản địa cùng 4 cán bộ nghiên cứu duy trì tuần tra liên tục 22 đến 24 ngày/tháng. Nhóm trực tiếp kiểm soát 1.000 ha vùng lõi, theo dõi tập tính của 90 cá thể Voọc mũi hếch và đẩy lùi kịp thời các hành vi săn bắt, chặt phá rừng.

Áp lực đe dọa lớn nhất đối với sinh thái rừng Khau Ca hiện nay là gì?
Nghiên cứu chỉ rõ áp lực lớn nhất đến từ hoạt động của 5 đơn vị khai thác khoáng sản tại xã Minh Sơn và tập quán chăn thả tự do đàn gia súc hơn 7.000 con từ 3 xã vùng đệm, đe dọa trực tiếp đến 471 loài thực vật và thu hẹp sinh cảnh sống của động vật hoang dã.

Cơ sở pháp lý nào hỗ trợ tài chính cho người dân tham gia bảo tồn rừng?
Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg quy định mức hỗ trợ 100.000 đồng/ha/năm cho hoạt động nhận khoán bảo vệ rừng và cấp kinh phí 40 triệu đồng/thôn/năm cho các thôn vùng đệm, kết hợp cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng từ Nghị định 99/2010/NĐ-CP.

Kết luận

  • Hệ thống hóa tính đa dạng sinh học độc đáo tại 2.024 ha rừng Khau Ca với 471 loài thực vật và quần thể Voọc mũi hếch lớn nhất Việt Nam gồm 90 cá thể.
  • Nhận diện toàn diện các bất cập của mô hình Ban quản lý kiêm nhiệm, sự thiếu hụt mốc giới thực địa và áp lực sinh kế từ 8 thôn vùng đệm.
  • Chứng minh tính hiệu quả vượt trội của Tổ tuần rừng cộng đồng duy trì bảo vệ vùng lõi 22 đến 24 ngày/tháng với chi phí tiết kiệm.
  • Đề xuất mô hình đồng quản lý hoàn chỉnh kết hợp giữa Ban quản lý, Hội đồng tư vấn và cộng đồng địa phương theo khung pháp lý Quyết định 07/2012/QĐ-TTg.
  • Hoàn thiện lộ trình chính sách sinh kế và chi trả dịch vụ môi trường rừng bền vững giai đoạn 2012–2015.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là xây dựng mô hình đồng quản lý khả thi cho các khu rừng đặc dụng quy mô nhỏ dưới 5.000 ha tại Việt Nam. Để bảo tồn bền vững nguồn gen quý hiếm của loài Voọc mũi hếch, các nhà quản lý và cơ quan chức năng cần nhanh chóng áp dụng các khuyến nghị của đề tài vào thực tiễn quy hoạch lâm nghiệp địa phương ngay hôm nay!