Chương 1:Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động Marketing trong thư viện. Chương 2: Thực trạng hoạt động Marketing tại Thư viện trường Đại học Công Nghiệp Dệt May Hà Nội. Chương 3: Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động Marketing tại Thư viện trường Đại học Công Nghiệp Dệt May Hà Nội. CO SO LY LUAN VA THUC TIEN VE HOAT DONG MARKETING TRONG THU VIEN 1.Cơ sở lý luận về hoạt động Marketing trong Thư viện 1.11, Khai niém marketing Kể từ khi con người biết trao đối, họ luôn tìm kiếm các phương thức nhằm gia tăng hiệu năng của sự trao đối.
Marketing chính là hoạt động có ý thức của con người hướng tới sự thỏa mãn các mong muốn của mình thông qua các tiến trình trao đối. Ngày nay, các cơ quan, tô chức, doanh nghiệp luôn nỗ lực tìm kiếm khách hàng, có gắng hiểu họ, hiểu đôi thủ cạnh tranh và hiểu chính mình để có thê hoạch định một chiến lược marketing đầy sang tao va hiệu quả nhằm thỏa mãn tốt nhất mong muốn của khách hàng. Vì thế lý luận về marketing không ngừng được bổ sung, hoàn thiện. Đã có nhiều khái niệm marketing được đưa ra trong nhiều ngành nghèẻ, lĩnh vực khác nhau.
Các tác giả đều có quan điểm riêng khi trình bày khái niệm marketing của mình. Dưới đây là một số khái niệm marketing phổ biến: Theo Philip Kotler: “Adarketing la m6t qua trình quản lý mạng tính xã hội, nhỏ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đôi những sản phẩm có giá trị với những người khác” Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ: “A⁄arketing là một hệ thống tổng thể các hoạt động của tô chức được thiết kế nhằm hoạch định, định giá, xúc tiễn và phân phối các sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng đề dap ứng nhu cầu của thị trường mục tiêu và đạt được các mục tiêu của tô chức” Theo David Kurtz và Louis Boone: “Ä⁄4rketing là một chức năng trong tô chức, và là tập hợp các quá trình nhằm tạo ra, truyền thông và mang lại giá trị cho khách hàng, đồng thời quản trị mối quan hệ với khách hàng theo những cách thức có lợi cho tô chức cũng như các bên liên quan ” Theo tác giả Nguyễn Thị Lan Thanh: “A⁄arketing là một quá trình quản lý mà nhờ nó tô chức kết nối mọi hoạt động của mình với khách hàng và thỏa mãn nhu cẩu của họ” Từ những khái niệm trên có thê nhận thấy điểm chung của các khái niệm marketing là tập trung vào phân tích khách hàng và tìm cách thỏa mãn nhu cầu của họ. Các hoạt động marketing đều hướng về khách hàng, nghiên cứu, dự đoán đề nhận biết và thỏa mãn những yêu cầu, mong đợi của khách hàng. Khai niém marketing trong hoat dong thong tin thw vién Ban đầu marketing chỉ được ứng dụng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đem lại lợi nhuận cho các cá nhân, tổ chức.
Sau khi tac gia Philip Kotler va Sidney Levy đưa ra khái niệm marketing cho các tô chức phi lợi nhuận được đăng trên tạp chí Marketing năm 1969 thì các tổ chức phi lợi nhuận mới bắt đầu quan tâm đến vấn đề này, tuy nhiên sự quan tâm mới chỉ dừng lại ở mức thảo luận tới các yêu tô truyền thông marketing. Từ cuối thập niên 70 đầu thập niên 80, các thư viện nhận thấy marketing thích hợp khi áp dụng vào hoạt động TTTV. Từ đó các chuyên gia thư viện đã không ngừng nghiên cứu nhằm bồ sung, hoàn thiện lý luận marketing trong lĩnh vực TTTV. Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về marketing trong ngành TTTV.
Theo từ điển giải nghĩa thư viện học và tin học Anh — Việt ALA: “Marketing là một nhôm hoạt động có mục đích dùng đề cổ vũ cho sự trao đôi một cách xây dựng và đáp ứng giữa các nhà cung cấp dịch vụ thư viện và truyền thông với những người đang sử dụng hay sẽ có thể là người sử dụng những dịch vụ này Những hoạt động này quan tâm đến sản phẩm, giá cả, phương pháp giao hàng, và phương pháp quảng bá sản phẩm ” Theo tác gia Eileen Elliott De Sácz: “A⁄Zarketing trong hoạt động thư viện bao gồm các công việc: Sưu tập thông tin, dự đoán xu hướng, tìm hiểu thị trường, trình bày nưục tiếu, lập chiến lược, thực hiện chiến lược, đánh giá việc thực hiện chiến lược, kết nối tới người dùng tin” Theo tac gia Dinesh K. Gupta: "Maketing la san pham/dich vu ma ban dang cé gang dé bán hay là thuyết phục mọi người sử dụng nó — đánh giá nhu cầu của khách hàng và thiết kế sản pham phu hop voi nhu cầu đó. Thư viện tạo ra dịch vụ và có khách hàng — bat ki cái gì làm đề thúc đây dịch vụ thư viện và tiếp cận đề khuyến khích người đọc trong cộng đồng có thê được gọi là Marketing" Theo tac gia Nguyén Thi Lan Thanh: “Marketing trong hoat dong thong tin - thư viện là một quá trình quản lý giúp tô chức đạt được mục tiêu của mình dựa trên nhu cầu của người dùng tin và tìm cách thỏa mãn nhu câu đó thông qua sự trao đổi” Từ các khái niệm trên có thê nhận thấy marketing trong hoạt động thông tin thư viện là một nhóm các hoạt động nhằm tìm hiểu, thu hút và đáp ứng NCT của NDT. Chức năng của marketing trong hoạt động thông tín thư viện.
Nhận diện rõ nhu cầu và ước muốn của người dùng tin, xác định thị trường phục vụ, thiết kê các sản phâm và dịch vụ thông tin phù hợp đê phục vụ cho thị trường đó. ® Chức năng thích ứng. © Chức năng phân phối. ® Chức năng (tiêu thụ.
© Chức năng yếm trợ. Nội dung của marketing trong nâng cao hoạt động truyền thông tại thư viện.1 Phát triển sản phẩm và dich vụ thông tin thư viện. Phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện là nội dung quan trọng nhất của hoạt động marketing thư viện. Sản phẩm là kết quả của quá trình xử lý thông tin, trên cơ sở đó tô chức các dịch vụ phục vụ việc truy cập thông tin cho người sử dụng dưới các phương thức khác nhau.
Hiện nay, khi CNTT phát triển, NCT của NDT luôn luôn thay đổi, vì vậy việc tìm hiểu, nghiên cứu NCT, để từ đó xây dựng kế hoạch phát triển các SP&DV TTTV sao cho phù hợp nhất với NCT của NDT la van dé can chu trọng của các cơ quan TTTV đặc biệt là trong các trường đại học. Các loại hình sản phâm TTTV như: CSDL, website, Bản tin điện tử; Thư mục của thư mục; Tổng luận khoa học;. Các loại hình dịch vụ TTTV như: Dịch vụ mượn trả và gia hạn tài liệu; DV tư vấn thông tin, hỗ trợ trực tuyến; DV cung cấp thông tin theo yêu cầu; DV hỗ trợ học tập và nghiên cứu:. Các loại hình SP&DV trên, thì NDT có thể cảm nhận được thông qua chất lượng, kiểu đáng nhãn hiệu tên gọi của mỗi loại hình cụ thẻ.Giả cả của sản phẩm & dich vụ thông tin thư viện hiện đại.
Giá cả của SP&DV TTTV rất quan trọng trong hoạt động marketing, truyền thông thư viện. Mặc dù hoạt động TTTV là hoạt động phi lợi nhuận, nhưng giá cá vẫn quyết định đến khả năng tiếp cận tới thông tin của NDT. Với người sử dụng “Giá cả một SP hoặc DE là khoản tiền mà người mua phải trả cho người bán để được quyên sở hữu, sử dụng sản phẩm hay dịch vụ đó”. Với người cung cấp: “Giá cả của một hàng hoá, dịch vụ là khoản thu nhập người bán được nhờ việc tiêu thụ sản phẩm đó”.
Giá cả phải tương xứng với giả trị mà các SP&DV TTTV mang lại. Giá cả phải mang tính cạnh tranh và phải ở mức NDT có thê chấp nhận được. Việc định giá cần phải căn cứ đến đầu tư đầu vào, quá trình xử lý, sự cảm nhận, phản hồi của NDT.Phân phối san pham & dich vu théng tin thu viện hiện đại. Phân phối la moi hoat déng dé cac SP&DV TTTV dé dang dén tay NDT và vào đúng thời điểm mà NDT cần cùng sự tư vấn, hỗ trợ NDT trong quá trình sử dụng là nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ chiến lược kế hoạch marketing nào.
Muốn vậy, dé việc phân phối SP&DV TTTV hiện đại hiệu quả cần lựa chọn các công cụ dé chuyên tải những thông điệp cần marketing của cơ quan TTTV tới NDT. Các công cụ dùng để phân phối các SP&DV TTTV trực tuyến phô biến như: Website; Mạng xã hội ; Thư điện tử (email marketing); Blog:.Website Website của các cơ quan TTTV là cổng thông tin - giới thiệu những thông tin, hình ảnh, SP&DV,. Website là một trong những kênh phân phối trực tuyến quan nhất, có thể chứa đựng tất cả thông điệp muốn gửi tới NDT. Là công cụ thu thập thông tin phản hồi, trao đôi thông tin trực tiếp giữa người phục vụ và NDT.
Website phải đảm bảo: Nội dung luôn đầy đủ, hấp dẫn, giao diện đẹp, dễ dàng tìm kiếm thông tin, tính tương tác cao, khả năng tương thích với các thiết bị điện tử khác nhau,. Mang xa héi (MXH) (Social Networking) Marketing trên MXH đang là xu thế và là kênh marketing không thê thiếu của mỗi cơ quan TTTV. MXH được hình thành trên cơ sở các phần mềm xã hội, dưới dạng một cấu trúc xã hội. Ở đó, các tổ chức và cá nhân có khá năng tương tác linh hoạt Với một cơ chế là tạo lập cộng đồng mở ra một thế giới mới có văn hóa, thói quen và hành vi tương tác mới của những người tham gia để kết nối và mở rộng cả về chất lượng và số lượng: Khuyến khích tương tác của người dùng trong cộng đồng: Phối kết hợp; Tìm kiếm khai thác thông tin; Xử lý thông tin; Chia sẻ thông tin; Chủ động tạo dựng và phát triển cầu hình cá nhân; Quang cáo sản phâm:.Với khá năng kết nỗi rộng rãi và tương tác cực kỳ thông minh như vậy sẽ thu hút được một lượng NDT vô cùng lớn và nhanh chóng tức thời.
Các cơ quan TTTV có thê tạo tài khoản cá nhân, nhóm, fanpage đề kết nối với NDT mục tiêu, quảng bá thông điệp của cơ quan TTTV tới bạn bè của họ, sẽ có một số lượng NDT theo dõi vô cùng lớn. Các mạng xã hội pho bién hién nay nhu: Facebook, Twitter, Instagram, Zalo,. Thư điện tử (email hay e-mail - Email) Thư điện tử là một hình thức marketing trực tuyến phô biến hiện nay. Email giúp truyền tải thông tin nhanh chóng tới nhiều NDT trong cùng một thời điểm (danh sách địa chỉ email được quản lý tự động).
Đồng thời còn có thể giải đáp thắc mắc, thu nhận phản hồi từ NDT nhanh chóng, với dung lượng thông tin lớn.