Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lưu trữ học (mã số 62 32 03 01) của nghiên cứu sinh Nguyễn Hồng Duy, thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2018, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đào Xuân Chúc và TS. Nguyễn Liên Hương, mang tiêu đề: "Lưu trữ tài liệu truyền miệng qua nghiên cứu hồi ức của các cựu chiến binh trong Chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975".
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ tài liệu truyền miệng là một nguồn sử liệu quan trọng trong nghiên cứu lịch sử, phản ánh thông tin thông qua phương thức truyền khẩu qua các thế hệ. Dưới sự hỗ trợ của phương tiện kỹ thuật điện tử, thông tin từ các cuộc phỏng vấn nhân chứng lịch sử có thể được thu thập, lưu giữ và bảo quản để phục vụ công tác đánh giá giá trị sử liệu. Tuy nhiên, tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu sử liệu từ ghi chép hồi ức của nhân chứng dưới góc độ một loại hình tài liệu lưu trữ còn rất hạn chế. Đây là khoảng trống cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn so với nhiều quốc gia trên thế giới, nơi các cơ quan lưu trữ đã triển khai các dự án thu thập hồi ức nhân chứng để tái hiện lịch sử. Trong bối cảnh Chiến tranh Việt Nam (1954 - 1975) đã kết thúc hơn 40 năm, việc tiếp cận các nhân chứng trực tiếp là những cựu chiến binh đang đứng trước sức ép lớn về mặt thời gian do tuổi tác và sự suy giảm trí nhớ của người trong cuộc. Ngành lưu trữ đứng trước yêu cầu phải chủ động thu thập, bảo quản các nguồn chứng cứ này để bổ sung nguồn tài liệu lịch sử và hoàn thiện hệ thống lý luận chuyên ngành.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án bao gồm hai nội dung chính:
- Đánh giá vị trí, tầm quan trọng và giá trị lưu trữ của tài liệu truyền miệng hình thành từ việc ghi lại hồi ức của nhân chứng lịch sử, cụ thể là các cựu chiến binh trong Chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975, dựa trên việc tích hợp kết quả nghiên cứu quốc tế và khảo sát thực nghiệm phỏng vấn nhân chứng.
- Nghiên cứu và xây dựng lý thuyết cơ bản cho phương pháp khoa học trong việc tạo lập, thu thập và lưu trữ tài liệu truyền miệng như một nguồn tài liệu sưu tập đưa vào các cơ quan lưu trữ.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản phân định thành năm nội dung cụ thể:
- Luận giải nội hàm khái niệm "tài liệu truyền miệng" cùng các đặc trưng cơ bản về nội dung và hình thức.
- Định hình giá trị của tài liệu truyền miệng trong mối tương quan với các loại tài liệu khác trong lưu trữ, làm rõ sự cần thiết phải bổ sung vào các cơ sở lưu trữ tại Việt Nam.
- Tìm hiểu phương pháp tạo lập tài liệu truyền miệng trong lưu trữ và các nguyên tắc cơ bản thông qua nghiên cứu thực nghiệm sưu tầm hồi ức cựu chiến binh, định hình các yêu cầu về nghiệp vụ, pháp lý và bản quyền.
- Xác định những vấn đề đặt ra về lý luận và thực tiễn đối với công tác lưu trữ khi xem tài liệu truyền miệng là một đối tượng bổ sung tài liệu.
- Đề xuất các giải pháp đối với cơ quan quản lý, các kho lưu trữ và công tác đào tạo chuyên ngành lưu trữ.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được đánh số trong văn bản gồm:
- Câu hỏi thứ nhất: Tài liệu khẩu vấn được hình thành qua phỏng vấn nhân chứng lịch sử (lịch sử qua lời kể) có phải là một loại hình tài liệu truyền miệng?
- Câu hỏi thứ hai: Tài liệu khẩu vấn có giá trị lưu trữ?
- Câu hỏi thứ 3: Hồi ức của các cựu chiến binh trong Chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 có giá trị lưu trữ?
Hệ thống giả thuyết nghiên cứu được đánh số trong văn bản gồm:
- Giả thuyết thứ nhất: Tài liệu khẩu vấn là một trong những loại hình tài liệu truyền miệng có giá trị lưu trữ cần được thu thập và phát huy giá trị trong thực tiễn.
- Giả thuyết thứ hai: Hồi ức của các nhân chứng là cựu chiến binh trong Chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 có giá trị sử liệu nhất định, có thể được sử dụng vào các mục đích nghiên cứu, từ đó giúp khẳng định giá trị lưu trữ của tài liệu hình thành qua phỏng vấn trực tiếp.
- Giả thuyết thứ 3: Tài liệu khẩu vấn đang được các lưu trữ lịch sử Việt Nam quan tâm, tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm:
- Lý luận về tài liệu truyền miệng, giới hạn ở loại hình tài liệu khẩu vấn (lịch sử qua lời kể) hình thành từ phỏng vấn và ghi lại hồi ức nhân chứng.
- Lý thuyết lưu trữ học nhằm khẳng định giá trị của tài liệu khẩu vấn đối với khoa học lưu trữ.
- Hồi ức của các cựu chiến binh đã tham gia chiến đấu trong Chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975.
Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Phạm vi lý luận: Nghiên cứu phương pháp lưu trữ tài liệu truyền miệng và tài liệu khẩu vấn qua kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Canada, Anh, Australia và Singapore.
- Phạm vi đối tượng khảo sát: Các cựu chiến binh thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam.
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Giai đoạn Chiến tranh Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975.
- Phạm vi không gian nghiên cứu: Khảo sát thực nghiệm chủ yếu đối với các nhân chứng hiện đang sinh sống tại khu vực Hà Nội.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong quá trình điểm luận tình hình nghiên cứu, tác giả phân chia và phân tích hệ thống tài liệu theo từng nhóm quốc gia và bối cảnh Việt Nam:
Tại Hoa Kỳ, cái nôi của nghiên cứu lịch sử truyền miệng với sự thành lập của Trung tâm Lịch sử truyền miệng thuộc Đại học Columbia năm 1948, tác giả phân tích sự phát triển của Hiệp hội Lịch sử truyền miệng (OHA - thành lập năm 1967) và Ủy ban Lịch sử truyền miệng thuộc Hiệp hội Lưu trữ Hoa Kỳ (SAA - thành lập năm 1969). Theo báo cáo khảo sát năm 1966 được công bố trong tài liệu của SAA năm 1973, có khoảng 20% thành viên SAA liên quan đến lịch sử truyền miệng, 73% số người được hỏi tin rằng lịch sử truyền miệng nên được xem là một đối tượng của hoạt động lưu trữ thường xuyên, và 72% cho rằng các cuộc phỏng vấn chưa được nghiên cứu ở mức độ tốt nhất. Tác giả điểm lại các nghiên cứu của Bruce Bruemmer và James Fogerty (1983) trong bài báo "Filling the Gap: Oral History in the Archives" nhấn mạnh vai trò của tài liệu khẩu vấn trong việc khỏa lấp khoảng trống của tài liệu thành văn; bài viết của Ellen D. Swain (2003) mang tên "Oral History in the Archives: Its Documentary Role in the Twenty-first Century" thảo luận về vai trò của lưu trữ viên và sự phụ thuộc vào trí nhớ cá nhân; cùng các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật của Edward D. Ives (1980), Willa K. Baum (1989), Laurie Mercier và Madeline Buckendorf, Sitton Thad và George L. Davis (1983), Robert Perks và Alistair Thomson (1998) với tuyển tập "The Oral History Reader", Barbara W. Sommer và Mary Kay Quinlan (2009), Valerie Yow (1994), và hướng dẫn của Ủy ban Lịch sử Texas (2004).
Tại Canada, Hiệp hội Lịch sử truyền miệng Canada (COHA) được thành lập để hỗ trợ bảo tồn các bản ghi âm lịch sử và văn hóa, xuất bản diễn đàn "d'histoire orale" từ năm 1975 đến 2006 ở dạng ấn phẩm in, từ năm 2007 xuất bản trực tuyến và từ năm 2010 được phát hành bởi Athabasca University Press.
Tại Anh, tác giả ghi nhận mốc thành lập Hiệp hội Lịch sử khẩu vấn (OHS) năm 1973 xuất phát từ cuộc họp năm 1969 tại Viện Ghi âm Anh (BIRS). Lịch sử khẩu vấn tại Anh phát triển từ nghiên cứu văn hóa dân gian sang lịch sử cộng đồng và các lĩnh vực chuyên biệt. Tác giả dẫn chứng các chương trình ghi âm của Trường Nghiên cứu Xcốt-len thuộc Đại học Edinburgh và Bảo tàng Dân gian Welsh thập niên 1950, cùng các công trình của Eric Cregeen, George Ewart Evans và tác phẩm "The Voice of the Past" của Paul Thompson.
Tại Australia và Singapore, luận án khảo sát định nghĩa của Hiệp hội Lịch sử khẩu vấn Australia (OHAA) và hoạt động của Ban Lịch sử truyền miệng Singapore thành lập năm 1979 (dựa trên mô hình của Bảo tàng Chiến tranh Đế quốc Anh). Tại Singapore, Trung tâm lưu trữ lịch sử truyền miệng (OHC) chuyển đổi sang công nghệ số từ tháng 9 năm 2004; đơn vị này đã thực hiện khoảng 18 dự án với 28.000 cuốn băng ghi âm (tương đương 14.000 giờ), điển hình là các dự án: "Các nhà tiên phong của Singapore", "Sự phát triển của chính trị Singapore 1945-1965", "Sự chiếm đóng của người Nhật Bản". Nghiên cứu ghi nhận quy trình gỡ băng tại đây mất khoảng 6 giờ cho nửa cuốn băng nên chỉ có khoảng 30% bộ sưu tập được gỡ băng văn bản, kèm theo bản tóm lược khái niệm 100 từ cho mỗi 30 phút phỏng vấn.
Tại Việt Nam, tác giả điểm lại hai khuynh hướng tiếp cận:
- Hướng tiếp cận văn hóa dân gian (folklore): Phân tích truyền thuyết, sử thi, ca dao tục ngữ thông qua các luận án tiến sĩ của Trần Thị An (2011) về đặc trưng thể loại và văn bản hóa truyền thuyết; Hà Đình Thành (1996) về biến đổi từ truyện kể dân gian sang văn bản; Nguyễn Việt Hùng về công thức truyền miệng trong sử thi Ot ndrong; Trần Đức Cát về vị trí tục ngữ trong quan hệ với folklore và văn học viết.
- Hướng tiếp cận lịch sử và hồi ký cựu chiến binh: Các xuất bản phẩm hồi ký của Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Thái, Trần Văn Quang, Đặng Vũ Hiệp, Trường Chinh, Nguyễn Thanh Vân, Lê Quang Hòa, Lê Linh; cùng các phim tài liệu lịch sử. Tác giả cũng viện dẫn cơ sở pháp lý và dự án thực tế trong ngành lưu trữ gồm: Quyết định số 644/QĐ-TTg ngày 31/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Sưu tầm tài liệu lưu trữ quý, hiếm của Việt Nam và về Việt Nam"; Quyết định số 922/QĐ-BNV ngày 13/8/2013 của Bộ Nội vụ; và Chương trình gặp gỡ nhân chứng lịch sử do Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III triển khai trong giai đoạn 2012 - 2013.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Tại Việt Nam, tài liệu truyền miệng chủ yếu được xem xét dưới giác độ di sản văn hóa dân gian hoặc được sử dụng trong các tác phẩm văn học, báo chí, truyền hình phục vụ mục đích tuyên truyền chính trị mà chưa được khảo cứu có hệ thống như một đối tượng của lưu trữ học. Luận án giải quyết sự thiếu hụt này bằng việc xác lập cơ sở lý thuyết lưu trữ cho tài liệu khẩu vấn, khảo nghiệm quy trình tạo lập tài liệu từ hồi ức cựu chiến binh và đề xuất phương án tổ chức nghiệp vụ lưu trữ tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án xác lập khung phân tích thông qua việc làm rõ các khái niệm cốt lõi:
- Khái niệm "tài liệu": Dẫn xuất từ thuật ngữ Latinh "documentum" (chứng cứ). Luận án viện dẫn định nghĩa theo tiêu chuẩn GOST 16487-70 của Liên Xô, tham luận của Nguyễn Cảnh Đương và Hoàng Văn Thanh, cùng Khoản 2 Điều 2 Luật Lưu trữ năm 2011 ("Tài liệu là vật mang tin được hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân"). Tác giả phân định hai giá trị cơ bản của tài liệu lưu trữ là giá trị thực tiễn (giá trị hiện hành) và giá trị lịch sử.
- Khái niệm "tài liệu truyền miệng", "lịch sử qua lời kể" và "tài liệu khẩu vấn": Luận án dựa trên lý luận sử học của Hà Văn Tấn (2007) và Trần Thị Bích Ngọc (2007), viện dẫn lịch sử ghi chép từ Herodotus thế kỷ V TCN trong tác phẩm "The Histories". Tác giả đồng nhất tài liệu truyền miệng trong phạm vi nghiên cứu với "lịch sử qua lời kể" (oral history) và "tài liệu khẩu vấn", phân biệt rõ ràng với "truyền miệng dân gian". Truyền miệng dân gian vượt qua giới hạn cuộc đời của một cá nhân, mang yếu tố hư cấu, trong khi lịch sử qua lời kể là lời kể của nhân chứng sống về những sự kiện họ trực tiếp trải nghiệm hoặc chứng kiến, được ghi lại bằng các thiết bị mang tin để phục vụ nghiên cứu và lưu trữ lâu dài.
- Khái niệm "hồi ức": Dẫn theo Từ điển Hán Việt và Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (1999), hồi ức được hiểu là sự nhớ lại những điều đã trải qua một cách có chủ định. Luận án xác định hồi ức mang tính cá nhân, phụ thuộc vào trí nhớ, tâm lý và sức khỏe của nhân chứng, cung cấp thông tin ở mức độ sơ cấp.
- Khái niệm "cựu chiến binh": Căn cứ theo Điều 2 và Khoản 3 Điều 11 Pháp lệnh Cựu chiến binh năm 2005 để xác định đối tượng nghiên cứu, đồng thời phân biệt rõ cựu chiến binh với các khái niệm "cựu binh" và "cựu quân nhân".
Về phương pháp nghiên cứu thực tế, đề tài sử dụng phương pháp định tính kết hợp khảo sát thực nghiệm:
- Phương pháp luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Bảo đảm nguyên tắc tôn trọng hiện thực khách quan, tư duy hệ thống và lập trường khoa học khi tiếp cận các sự kiện lịch sử nhạy cảm.
- Phương pháp luận lưu trữ học: Áp dụng các nguyên tắc phân loại tài liệu, xác định giá trị tài liệu, thu thập và xử lý tài liệu trong việc đánh giá tài liệu khẩu vấn.
- Phương pháp khẩu vấn: Đây là phương pháp chủ đạo của luận án. Tác giả tiến hành thiết kế bảng hỏi, tiếp cận đối tượng, thực hiện ghi âm, ghi hình và phỏng vấn trực tiếp 50 nhân chứng là cựu chiến binh Quân đội nhân dân Việt Nam từng tham chiến trong giai đoạn 1954 - 1975 hiện cư trú tại Hà Nội.
- Phương pháp phê phán sử liệu: Đánh giá độ tin cậy của thông tin khẩu vấn bằng cách phân tích bối cảnh ra đời của lời kể, kiểm tra nội tại lời kể của nhân chứng, và so sánh đối chiếu với các nguồn tài liệu thành văn chính thống.
- Các phương pháp bổ trợ: Phương pháp hệ thống hóa, so sánh, phân tích, tổng hợp và quy nạp.
Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án bao gồm:
- Các văn bản quy phạm pháp luật và đề án lưu trữ của Nhà nước (Luật Lưu trữ 2011, Pháp lệnh Cựu chiến binh 2005, Quyết định 644/QĐ-TTg, Quyết định 922/QĐ-BNV).
- Các bản dịch tài liệu chuyên môn và hướng dẫn nghiệp vụ của các tổ chức lưu trữ quốc tế đang lưu giữ tại Thư viện Trung tâm Khoa học và Công nghệ văn thư lưu trữ thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước.
- Tài liệu thực tế thu thập từ Chương trình gặp gỡ nhân chứng lịch sử tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III trong hai năm 2012 - 2013.
- Nguồn tư liệu xuất bản phẩm: sách lịch sử, hồi ký quân sự, phim tư liệu, ảnh tư liệu về Chiến tranh Việt Nam.
- Khối dữ liệu âm thanh, hình ảnh và bản gỡ băng từ 50 cuộc phỏng vấn trực tiếp cựu chiến binh do chính tác giả thực hiện.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và tình hình sưu tầm tài liệu truyền miệng ở các nước
Chương 1 tập trung giải quyết các vấn đề lý luận về định nghĩa tài liệu, phân loại giá trị tài liệu và khảo cứu lịch sử phát triển của tài liệu khẩu vấn tại các nước. Tác giả phân tích cụ thể các mốc hình thành của tổ chức lưu trữ và lịch sử truyền miệng tại Hoa Kỳ (Columbia 1948, OHA 1967, SAA 1969), Canada (COHA), Anh (OHS 1973), Australia (OHAA) và Singapore (Ban Lịch sử truyền miệng 1979). Chương này cũng phân tích thực trạng nghiên cứu tài liệu truyền miệng tại Việt Nam, chỉ ra sự tách biệt giữa nghiên cứu văn hóa dân gian và công tác lưu trữ học, đồng thời tổng kết khung pháp lý về cựu chiến binh và việc tái hiện ký ức chiến tranh qua các ấn phẩm hồi ký, phim ảnh.
Bảng dưới đây tổng hợp các đặc điểm về tình hình nghiên cứu và thực tiễn hoạt động sưu tầm tài liệu khẩu vấn tại các quốc gia được luận án khảo sát:
| Quốc gia / Tổ chức |
Năm mốc quan trọng |
Cơ quan / Tổ chức tiêu biểu |
Đặc điểm hoạt động và dữ liệu ghi nhận |
| Hoa Kỳ |
1948, 1967, 1969 |
Trung tâm ĐH Columbia; OHA; SAA |
73% ý kiến lưu trữ viên coi khẩu vấn là nghiệp vụ lưu trữ thường xuyên (khảo sát SAA công bố 1973). Chú trọng bổ sung khoảng trống cho tài liệu thành văn. |
| Canada |
1975, 2007, 2010 |
Hiệp hội COHA |
Xuất bản diễn đàn d'histoire orale (dạng in 1975-2006, trực tuyến từ 2007, ĐH Athabasca phát hành từ 2010); xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật ghi âm. |
| Anh |
1957, 1969, 1973 |
Viện Ghi âm Anh (BIRS); OHS |
Phát triển từ nghiên cứu đời sống dân gian vùng nông thôn (ĐH Edinburgh, Bảo tàng Dân gian Welsh) sang lịch sử cộng đồng, lịch sử địa phương và lịch sử phụ nữ. |
| Australia |
Thập niên 1970 |
Hiệp hội OHAA |
Định nghĩa khẩu vấn gồm hai phần: phương pháp ghi âm/xử lý/lưu giữ và việc tạo lập tư liệu dạng hỏi - đáp để các nhà nghiên cứu tiếp cận. |
| Singapore |
1979, 2004 |
Ban Lịch sử truyền miệng; Trung tâm OHC |
Số hóa từ tháng 9/2004; 18 dự án với 28.000 băng ghi âm (14.000 giờ); gỡ băng chọn lọc 30% tư liệu (6 giờ xử lý/nửa cuốn băng); tóm lược 100 từ khóa/30 phút. |
| Việt Nam |
2011, 2012, 2013 |
Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước; TTLTQG III |
Quyết định 644/QĐ-TTg và Quyết định 922/QĐ-BNV đưa khẩu vấn vào đề án sưu tầm tài liệu quý hiếm; TTLTQG III thực nghiệm phỏng vấn nhân chứng (2012-2013). |
Chương 2: Phương pháp tạo lập tài liệu khẩu vấn - vận dụng trong nghiên cứu của luận án
Chương 2 trình bày có hệ thống phương pháp khẩu vấn trong nghiên cứu lịch sử và ứng dụng vào đề tài. Luận án định nghĩa: "Khẩu vấn là phương pháp nghiên cứu lịch sử thông qua việc phỏng vấn các cá nhân về những hồi ức và trải nghiệm của họ trong quá khứ gắn liền với những giai đoạn lịch sử nhất định bằng các phương tiện kỹ thuật ghi âm, ghi hình". Tác giả xác lập quy trình tạo lập tài liệu khẩu vấn gồm ba giai đoạn:
- Giai đoạn chuẩn bị: Xác định chủ đề, nghiên cứu tư liệu nền tảng, lựa chọn nhân chứng, xây dựng đề cương câu hỏi, chuẩn bị thiết bị kỹ thuật ghi âm, ghi hình và ký kết văn bản thỏa thuận pháp lý (giấy đồng thuận phỏng vấn, cam kết bản quyền).
- Giai đoạn phỏng vấn: Thiết lập quan hệ tin cậy với nhân chứng, điều hành cuộc phỏng vấn linh hoạt theo hướng mở, lắng nghe tích cực, không phán xét, ghi chép nhật ký điền dã và kiểm soát môi trường âm thanh.
- Giai đoạn sau phỏng vấn: Sao lưu dữ liệu gốc sang các vật mang tin an toàn, lập hồ sơ phỏng vấn, gỡ băng (chuyển đổi từ dạng âm thanh sang văn bản), biên tập văn bản gỡ băng, gửi nhân chứng thẩm định lại nội dung và hoàn thiện thủ tục giao nộp tài liệu vào cơ sở lưu trữ.
Trong phần vận dụng thực nghiệm, tác giả tiến hành phỏng vấn 50 cựu chiến binh tại Hà Nội. Luận án phân tích việc xử lý mối quan hệ giữa người phỏng vấn và người được phỏng vấn, các tiêu chí lựa chọn đối tượng nhằm bảo đảm sự đa dạng về quân chủng, binh chủng, chiến trường và cấp bậc.
Chương 3: Tài liệu khẩu vấn từ hồi ức của các cựu chiến binh trong Chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954-1975
Chương 3 đi sâu phân tích nội dung dữ liệu thu được từ 50 cuộc phỏng vấn nhân chứng. Dữ liệu hồi ức được cấu trúc hóa theo năm nhóm chủ đề chính:
- Hồi ức về giai đoạn nhập ngũ: Hoàn cảnh xuất thân, lý do tòng quân, không khí xã hội miền Bắc thời kỳ chi viện cho chiến trường miền Nam, cảm xúc khi chia tay gia đình.
- Hồi ức về những trận đánh: Các diễn biến thực địa tại các chiến trường ác liệt, chi tiết chiến đấu cụ thể của cá nhân và đơn vị, những tình huống sinh tử không có trong báo cáo quân sự.
- Hồi ức về những kỷ niệm vui, buồn trong chiến tranh: Đời sống sinh hoạt của người lính, tình đồng đội, sự thiếu thốn lương thực, dịch bệnh sốt rét ở rừng Trường Sơn, nỗi đau khi chứng kiến đồng đội hy sinh.
- Động lực của người lính: Lý tưởng chiến đấu, niềm tin vào thắng lợi cuối cùng, sức mạnh tinh thần giúp người lính vượt qua gian khổ và bom đạn.
- Ký ức ngày thống nhất đất nước: Trải nghiệm và cảm xúc của cựu chiến binh trong thời khắc ngày 30 tháng 4 năm 1975, sự ngỡ ngàng khi tiếng súng chấm dứt và cảm nhận về sự hòa bình.
Tiểu mục cuối của chương dành cho công tác phê phán sử liệu đối với tài liệu khẩu vấn. Tác giả chỉ ra các yếu tố làm suy giảm độ chính xác của hồi ức gồm: thời gian lùi xa hơn 40 năm khiến trí nhớ bị mờ nhạt hoặc biến dạng, xu hướng "nhận thức lại" quá khứ theo góc nhìn của hiện tại, tác động của các ấn phẩm tuyên truyền làm người kể vô thức đồng nhất ký ức cá nhân với thông tin trong sách báo, và khả năng diễn đạt ngôn ngữ hạn chế của một số nhân chứng. Luận án nhấn mạnh nguyên tắc phải đối chiếu chéo giữa lời kể của nhiều nhân chứng cùng tham gia một sự kiện, đồng thời so sánh lời kể với nhật ký chiến trường, thư từ và tài liệu lưu trữ quân sự thành văn.
Chương 4: Giải pháp lưu trữ tài liệu khẩu vấn trong bối cảnh Việt Nam hiện nay
Chương 4 đúc kết kinh nghiệm quốc tế và đề xuất giải pháp cho Việt Nam trên ba nhóm vấn đề:
- Kinh nghiệm quốc tế về quy trình nghiệp vụ lưu trữ tài liệu khẩu vấn:
- Tổ chức khoa học các bộ sưu tập: Phân loại tài liệu khẩu vấn theo chủ đề, sự kiện hoặc theo phông lưu trữ cá nhân; quản lý đồng bộ cả vật mang tin gốc (băng từ, tệp tin âm thanh số) và văn bản phụ trợ (bản gỡ băng, biên bản phỏng vấn, hợp đồng pháp lý).
- Bảo quản tài liệu: Thực hiện kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm đối với băng từ; định kỳ sao chép chuyển đổi định dạng đối với tệp tin âm thanh, video số để tránh lỗi thời công nghệ; bảo quản bản gỡ băng giấy theo tiêu chuẩn lưu trữ truyền thống.
- Xây dựng công cụ tra cứu: Soạn thảo mục lục hồ sơ, xây dựng cơ sở dữ liệu tra cứu theo từ khóa, người kể, thời gian, sự kiện và gắn kèm các đoạn trích âm thanh ngắn phục vụ tra cứu nhanh.
- Phục vụ khai thác sử dụng: Phân cấp quyền tiếp cận tài liệu dựa trên thỏa thuận với nhân chứng (công khai toàn bộ, công khai có điều kiện, hoặc phong tỏa thông tin theo thời hạn yêu cầu của người cung cấp).
- Các vấn đề đặt ra cho lưu trữ tài liệu khẩu vấn ở Việt Nam:
- Vấn đề lý luận: Cần thừa nhận tài liệu khẩu vấn là một loại hình tài liệu lưu trữ chính thức có giá trị lịch sử và thực tiễn, không hạ thấp thành thông tin tham khảo thứ cấp.
- Vấn đề thực tiễn: Thiếu trang thiết bị kỹ thuật chuyên dụng cho ghi âm, xử lý số hóa và bảo quản lâu dài; thiếu đội ngũ lưu trữ viên được đào tạo kỹ năng phỏng vấn chuyên sâu.
- Vấn đề pháp lý: Luật Lưu trữ năm 2011 chưa có điều khoản riêng quy định cụ thể về tài liệu khẩu vấn; thiếu cơ chế xác lập bản quyền tác giả giữa cơ quan lưu trữ, người phỏng vấn và người được phỏng vấn; thiếu văn bản quy định về bảo mật đời tư và thỏa thuận chuyển giao quyền sở hữu tài liệu khẩu vấn.
- Hệ thống giải pháp đề xuất:
- Giải pháp chung: Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý về lưu trữ để công nhận địa vị pháp lý của tài liệu khẩu vấn; đẩy mạnh đầu tư cơ sở vật chất, phòng nghe nhìn và hạ tầng số hóa tại các trung tâm lưu trữ quốc gia và lưu trữ tỉnh.
- Giải pháp nghiệp vụ cụ thể: Ban hành quy trình chuẩn từ lập kế hoạch sưu tầm, kỹ thuật phỏng vấn, lập hồ sơ, gỡ băng, mô tả tài liệu, đến phương pháp bảo quản vật lý và bảo quản số; đồng thời đưa chuyên đề tài liệu khẩu vấn vào chương trình đào tạo đại học và sau đại học ngành Lưu trữ học.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án có những đóng góp cụ thể:
- Bổ sung khoảng trống lý thuyết trong khoa học lưu trữ tại Việt Nam bằng việc xác định rõ nội hàm khái niệm tài liệu truyền miệng, tài liệu khẩu vấn và lịch sử qua lời kể.
- Khẳng định giá trị lưu trữ và giá trị sử liệu của tài liệu khẩu vấn trong mối tương quan với tài liệu lưu trữ truyền thống, chứng minh rằng tài liệu khẩu vấn phản ánh chân thực các khía cạnh đời sống xã hội và trải nghiệm cá nhân mà tài liệu hành chính thành văn không ghi nhận.
- Xác lập khung lý thuyết về phương pháp tạo lập và phương pháp phê phán sử liệu đối với tài liệu khẩu vấn trong bối cảnh Việt Nam.
Về mặt thực tiễn, luận án mang lại các đóng góp:
- Cung cấp một bộ dữ liệu khẩu vấn thực nghiệm gồm 50 cuộc phỏng vấn cựu chiến binh tại Hà Nội về Chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975, phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử quân sự và xã hội.
- Xây dựng quy trình nghiệp vụ mang tính ứng dụng cho các cơ quan lưu trữ trong việc triển khai các dự án sưu tầm tài liệu khẩu vấn theo định hướng của Đề án 644/QĐ-TTg.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế pháp lý, cơ chế quản lý bản quyền và phương pháp đào tạo nhân lực ngành lưu trữ đối với loại hình tài liệu mới.
Về kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Kiến nghị các cơ quan quản lý nhà nước về văn thư - lưu trữ xem xét bổ sung các quy định cụ thể về tài liệu khẩu vấn trong các văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung Luật Lưu trữ.
- Đề xuất quy trình xử lý nghiệp vụ thống nhất tại các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia: từ khâu thỏa thuận bản quyền, phỏng vấn, lập biên bản bàn giao, gỡ băng đến xây dựng công cụ tra cứu số.
- Đề xuất Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đưa phương pháp khẩu vấn vào giảng dạy chính thức cho sinh viên và học viên cao học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án tự xác định các điểm sau:
- Phạm vi khảo sát thực nghiệm còn hẹp: Đối tượng phỏng vấn mới dừng lại ở 50 nhân chứng là cựu chiến binh Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đang cư trú tại địa bàn Hà Nội, chưa mở rộng ra các địa phương khác và chưa tiếp cận được nhân chứng thuộc các thành phần khác tham gia cuộc chiến.
- Hạn chế về phương pháp phê phán sử liệu: Tác giả thừa nhận gặp khó khăn nhất định do kiến thức chuyên sâu về phương pháp sử học còn có giới hạn khi thẩm định độ xác thực của các chi tiết lịch sử phức tạp.
- Dữ liệu phỏng vấn chịu tác động của yếu tố thời gian: Sau hơn 40 năm, sự suy giảm trí nhớ của nhân chứng và hiện tượng đồng hóa ký ức cá nhân với thông tin đại chúng gây khó khăn cho việc xử lý dữ liệu thuần khiết.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng quy mô sưu tầm tài liệu khẩu vấn đối với các nhóm đối tượng nhân chứng khác nhau ở nhiều vùng miền trên cả nước để đa dạng hóa nguồn tin.
- Tiếp tục nghiên cứu sâu về các khía cạnh pháp lý phức tạp như quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ và quyền nhân thân đối với các xuất bản phẩm hình thành từ tài liệu khẩu vấn.
- Hoàn thiện các tiêu chuẩn kỹ thuật số hóa, bảo quản lâu dài các định dạng tệp tin âm thanh và video trong các kho lưu trữ số chuyên dụng.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo rõ ràng cho các nhóm đối tượng cụ thể:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Lưu trữ học, Sử học, Việt Nam học và Văn hóa học: Luận án là tài liệu tham khảo về phương pháp luận phỏng vấn nhân chứng lịch sử, quy trình gỡ băng, lập hồ sơ điền dã và kỹ thuật đối chiếu, phê phán sử liệu.
- Đối với giảng viên ngành Lưu trữ học và Quản trị văn phòng: Cung cấp khung lý thuyết và các bài học thực tiễn để biên soạn giáo trình, bài giảng chuyên đề về tài liệu nghe nhìn và tài liệu truyền miệng trong lưu trữ.
- Đối với các nhà quản lý, hoạch định chính sách và cán bộ lưu trữ tại Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia và Trung tâm Lưu trữ lịch sử các tỉnh, thành phố: Các giải pháp tại Chương 4 cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng quy trình kỹ thuật, chuẩn bị mẫu biểu thỏa thuận bản quyền, và lập kế hoạch triển khai các đề án sưu tầm tài liệu lưu trữ quý hiếm theo Quyết định 644/QĐ-TTg.
Các phần đáng tham khảo nhất trong luận án gồm: Chương 2 về chi tiết các bước vận dụng phương pháp khẩu vấn và Chương 4 về các giải pháp nghiệp vụ tổ chức khoa học, bảo quản và tra cứu tài liệu khẩu vấn.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt "tài liệu khẩu vấn" (lịch sử qua lời kể) với "truyền miệng dân gian" dựa trên những tiêu chí nào?
Theo tác giả, truyền miệng dân gian là những câu chuyện được lưu truyền qua nhiều thế hệ bằng lời nói, vượt ra ngoài giới hạn cuộc đời của một cá nhân, mang nhiều yếu tố hư cấu, huyền thoại (như truyền thuyết Lạc Long Quân, Thánh Gióng). Ngược lại, tài liệu khẩu vấn (lịch sử qua lời kể) là lời tường thuật của những nhân chứng sống về những sự kiện có thực trong quá khứ mà họ trực tiếp trải nghiệm hoặc chứng kiến trong cuộc đời mình. Tài liệu khẩu vấn được tạo ra thông qua các cuộc phỏng vấn có chủ đích khoa học, được ghi lại trên các vật mang tin (băng từ, tệp tin số, bản gỡ băng) và được phân tích, đối chiếu trong bối cảnh lịch sử xác định để phục vụ mục đích lưu trữ và nghiên cứu lâu dài.
2. Quy mô khảo sát thực nghiệm và đối tượng nhân chứng trong luận án được xác định như thế nào?
Luận án tiến hành khảo sát thực nghiệm trực tiếp thông qua việc phỏng vấn sâu 50 nhân chứng. Đối tượng phỏng vấn được xác định căn cứ theo Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh năm 2005, là các cựu chiến binh thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam đã từng tham gia chiến đấu trong giai đoạn Chiến tranh Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975, hiện đang sinh sống chủ yếu tại địa bàn Hà Nội. Các nhân chứng được lựa chọn phản ánh trải nghiệm từ các quân chủng, binh chủng và chiến trường khác nhau của cuộc chiến.
3. Kinh nghiệm lưu trữ tài liệu khẩu vấn của Singapore được luận án dẫn chứng với các số liệu thực tế nào?
Văn bản dẫn chứng Ban Lịch sử truyền miệng Singapore thành lập năm 1979 dựa trên mô hình của Bảo tàng Chiến tranh Đế quốc Anh. Trung tâm lưu trữ lịch sử truyền miệng (OHC) thuộc cơ quan này đã chuyển sang công nghệ số từ tháng 9 năm 2004. Đơn vị đã triển khai 18 dự án với tổng số 28.000 cuốn băng ghi âm (tương đương 14.000 giờ thu âm). Do công việc gỡ băng đòi hỏi thời gian lớn (mất khoảng 6 giờ để xử lý nửa cuốn băng), cơ quan này chỉ gỡ băng khoảng 30% bộ sưu tập, đồng thời đính kèm bản tóm lược khái niệm 100 từ cho mỗi 30 phút ghi âm để tạo công cụ tra cứu.
4. Khung pháp lý hiện hành của Việt Nam đề cập đến tài liệu và tài liệu khẩu vấn qua những văn bản nào được trích dẫn trong luận án?
Luận án trích dẫn các văn bản pháp lý chính gồm:
- Luật Lưu trữ năm 2011 (Khoản 2 Điều 2) định nghĩa tài liệu là vật mang tin được hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
- Pháp lệnh Cựu chiến binh năm 2005 (Điều 2 và Khoản 3 Điều 11) quy định về đối tượng cựu chiến binh và phân biệt với cựu quân nhân.
- Quyết định số 644/QĐ-TTg ngày 31/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Sưu tầm tài liệu lưu trữ quý, hiếm của Việt Nam và về Việt Nam", lần đầu tiên đưa nhiệm vụ xây dựng tài liệu lịch sử khẩu vấn vào văn bản nhà nước.
- Quyết định số 922/QĐ-BNV ngày 13/8/2013 của Bộ Nội vụ phê duyệt kế hoạch tổng thể thực hiện Đề án trên giai đoạn 2012 - 2020.
5. Những rào cản chính ảnh hưởng đến độ tin cậy của tài liệu khẩu vấn từ cựu chiến binh sau hơn 40 năm được chỉ ra là gì?
Tác giả chỉ ra ba rào cản chính:
- Tác động của thời gian làm suy giảm trí nhớ sinh học của nhân chứng, dẫn đến việc nhớ nhầm mốc thời gian, địa danh hoặc chi tiết sự kiện.
- Tâm lý "nhận thức lại" của người kể ở hiện tại, có xu hướng hợp lý hóa hoặc tái cấu trúc lại hành động trong quá khứ dưới ảnh hưởng của hoàn cảnh sống hiện tại hoặc các thông tin tuyên truyền chính thống mà họ tiếp nhận qua sách báo, phim ảnh.
- Khả năng ngôn ngữ và diễn đạt bằng lời nói không đồng đều giữa các nhân chứng, khiến một số thông tin bị giản lược hoặc sai lệch trong quá trình diễn đạt miệng và gỡ băng.
Kết luận
Luận án của Nguyễn Hồng Duy là công trình nghiên cứu chuyên khảo trong ngành Lưu trữ học tại Việt Nam tiếp cận tài liệu truyền miệng và tài liệu khẩu vấn dưới giác độ khoa học lưu trữ. Thông qua việc phân tích kinh nghiệm quốc tế và tiến hành phỏng vấn thực nghiệm 50 cựu chiến binh tại Hà Nội tham gia Chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975, tác giả đã khẳng định giá trị sử liệu và giá trị lưu trữ của lời kể nhân chứng. Luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện về phương diện pháp lý, lý luận và quy trình nghiệp vụ lưu trữ nhằm thúc đẩy việc thu thập, bảo quản và phát huy giá trị của loại hình tài liệu này trong thực tiễn Việt Nam. Công trình cung cấp nguồn tư liệu học thuật hữu ích cho công tác đào tạo chuyên môn và hoạt động sưu tầm tài liệu lưu trữ lịch sử.