Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Phương pháp tạo lập tài liệu khẩu vấn - vận dụng trong nghiên cứu của luận án Chương 3: Giá trị tài liệu khẩu vấn từ hồi ức của các cựu chiến binh trong chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954-1975 Chương 4: Giải pháp lưu trữ tài liệu khẩu vấn trong bối cảnh Việt Nam hiện nay. Xin trân trọng cảm ơn! 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ TÌNH HÌNH SƢU TẦM TÀI LIỆU TRUYỀN MIỆNG Ở CÁC NƢỚC 1. Nghiên cứu chung về tài liệu truyền miệng- tài liệu khẩu vấn 1. Định nghĩa “tài liệu” Việc định nghĩa khái niệm “tài liệu” thường được gắn liền với các vật mang tin để ghi lại các thông tin liên quan tới các vấn đề của đời sống xã hội.
Nó gắn liền với sự ra đời của chữ viết. Trong xã hội nô lệ, khi nhà nước đầu tiên của giai cấp chủ nô ra đời, lúc đó giai cấp chủ nô cần chữ viết để ghi chép những số liệu đơn giản đầu tiên, như thống kê số lượng nông nô, ghi sản phẩm thừa, ghi nợ, ghi quyền sở hữu. Thực ra, sự ghi chép đó đã có từ cuối thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ để ghi chép số thú săn bắt được và hoa quả dư thừa mà cả bộ lạc dùng không hết trong ngày và ghi chép các nhu cầu tính toán khác. Đến khi nghề chăn nuôi và nghề trồng trọt xuất hiện thì nhu cầu ghi chép ngày càng lớn, trồng trọt xuất hiện thì nhu cầu ghi chép ngày càng lớn, vì lẽ của cải trong xã hội tăng thêm đã đưa lại sự giàu có cho xã hội, và qua đó xuất hiện một nền văn minh cổ xưa là chữ viết, sau đó tài liệu được hình thành.
Việc ghi chép của xã hội loài người nối tiếp vào các thời kỳ sau, phát triển cùng với sự phân ngành sản xuất trong xã hội và cải tiến kỹ thuật văn phòng. Những ký tự ban đầu thưởng được thể hiện dưới dạng biểu tượng trên cát, trên vỏ, lá cây. Dần dần, loài người sản xuất ra các vật mang tin mới, như thạch cao, đất nung.Hiện nay, loài người còn lưu giữ được các kho tài liệu đất nung khổng lồ tại các triền sông Lưỡng Hà vùng Trung Cận Đông. Nhưng nói chung, ngoài tài liệu có vật mang tin như vậy, hiện nay hầu như các nước không còn lưu giữ được tài liệu thời kỳ nô lệ, mà phổ biến chỉ còn tài liệu thời kỳ phong kiến Tài liệu (trong tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga ,…) đều bắt nguồn từ tiếng Latinh “documentum” có nghĩa là chứng cứ.
Tài liệu là dạng vật chất nhìn thấy được, hiện hữu cụ thể. Qua đó tài liệu được hiểu là dạng vật chất ghi nhận thông tin. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở nước Nga, theo tiêu chuẩn quốc gia đầu tiên về thuật ngữ GOST 16487-70 “Văn thư và công tác lưu trữ. Các thuật ngữ và định nghĩa”, khái niệm “tài liệu” đã được định nghĩa là “phương tiện để giữ lại các tin tức về những sự việc, sự kiện, hiện tượng của thực tiễn khách quan và hoạt động tư duy của con người”1.
Trong tham luận tại Hội thảo “Quản lý tài liệu điện tử và lưu trữ tài liệu điện tử”, tác giả Nguyễn Cảnh Đương-Hoàng Văn Thanh đã đưa ra định nghĩa “Tài liệu là đơn vị thông tin được ghi lại không phụ thuộc vào hình thức và vật mang tin”2 Tại khoản 2 Luật Lưu trữ năm 2011, tài liệu được định nghĩa: “Tài liệu là vật mang tin được hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân” Như vậy, có thể thấy “tài liệu” được hiểu như một vật mang tin có chứa thông tin và các thông tin có trong tài liệu được mã hoá dưới dạng vật chất nhất định. Hai yếu tố vật mang tin và thông tin trong tài liệu có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó nội dung của thông tin có trong tài liệu đó đóng vai trò quyết định tới giá trị của tài liệu. Về mặt lý luận cũng như trong thực tiễn công tác lưu trữ, người ta chia giá trị tài liệu ra làm hai nhóm chính là: Giá trị thực tiễn và giá trị lịch sử. Giá trị thực tiễn của tài liệu là khả năng phục vụ sử dụng thông tin của tài liệu cho các hoạt động hiện hành trong xã hội như: hoạt động về chính trị, quân sự, kinh tế văn hoá, giáo dục, khoa học, kỹ thuật.
ở nhiều nước, giá trị thực tiễn của tài liệu được gọi là giá trị hiện hành, tức giá trị phục vụ thông tin cho các hoạt động đang diễn ra trong xã hội. Giá trị lịch sử của tài liệu là khả năng đáp ứng yêu cầu sử dụng thông tin tài liệu cho việc nghiên cứu quá khứ, nghiên cứu lịch sử. Để xem xét đánh giá những vấn đề của xã hội đã qua, đương nhiên các nhà nghiên cứu phải sử dụng nhiều tư liệu, như khai thác thông tin trong các sách ở thư viện, đọc sách báo, hồi ký. 1 Nguyễn Lệ Nhung, Vài nét về khái niệm “tài liệu”,”tài liệu điện tử”, nguồn: http://www.vn/content/Lists/Tin%20nghin%20cu%20trao%20i/DispForm.aspx?ID=17 (21/9/2-15) 2 Nguyễn Cảnh Đương-Hoàng Văn Thanh, Bàn về khái niệm “Tài liệu”, “Văn bản”, “Tài liệu lưu trữ”, “Tài liệu điện tử”, “Văn bản điện tử” và “Tài liệu lưu trữ điện tử”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quản lý tài liệu điện tử và lưu trữ tài liệu điện tử, Bộ Nội vụ 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy chúng ta thấy rõ rằng bản chất của tài liệu chính là kết quả của quá trình lao động sáng tạo của con người tạo ra.
Nó là nhân tố quan trọng để thúc đẩy xã hội tiến lên thông qua sự kế thừa những tri thức hay kinh nghiệm từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này, sang thế hệ khác. Và con người muốn xây dựng xã hội mới phải biết tiếp thu những tri thức đã tích luỹ trong nhiều nguồn tài liệu khác nhau, áp dụng một cách sáng tạo vào thực tại. Khái niệm “Tài liệu truyền miệng” và các thuật ngữ liên quan Khi nói tới “tài liệu truyền miệng” bản thân tên gọi đã cho thấy nguồn gốc hình thành thông tin được nói đến trong vật mang tin. Đó là những tài liệu ghi lại các thông tin mang tính truyền khẩu.
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ nội hàm của thuật ngữ “tài liệu truyền miệng” được sử dụng trong luận án bởi trong thực tiễn nghiên cứu, tài liệu truyền miệng được coi là một nguồn sử liệu quan trọng. Chính vì vậy, thuật ngữ “tài liệu truyền miệng” trong luận án cần được giới hạn trong phạm vi nghiên cứu. Chúng tôi muốn nhận mạnh tới nội hàm thuật ngữ này ở hai góc độ về nội dung và hình thức tạo ra tài liệu: Về phƣơng diện nội dung: Trước hết cần phải thấy, sự hình thành tài liệu truyền miệng trong nghiên cứu luôn gắn liền với sử học. Giáo sư Hà Văn Tấn trong cuốn “Một số vấn đề lý luận Sử học” có viết: “lịch sử là khách quan.
Sự kiện lịch sử là những sự thật được tồn tại độc lập ngoài ý thức chúng ta. Nhưng sự nhận thức lịch sử lại là chủ quan. Và người ta chép sử vì những mục đích khác nhau”3 Theo TS. Trần Thị Bích Ngọc, các định nghĩa thường cũng chỉ đúng một phần, lịch sử được hiểu theo 3 ý chính được các nhà nghiên cứu đồng ý: “- Việc diễn ra trong quá khứ: những sự kiện (biến cố/ event) diễn ra trong quá khứ cho đến thời điểm hiện tại, không thể thay đổi được, cố định trong không gian và thời gian, mang tính chất tuyệt đối và khách quan.
- Ghi lại những việc diễn ra trong quá khứ: con người muốn nắm bắt quá khứ, diễn đạt theo sự kiện theo từ ngữ và giải thích ý nghĩa của sự kiện, mang tính chất tương đối và chủ quan của người ghi lại bằng những câu chuyện kể. 3 Hà Văn Tấn (2007), Một số vấn đề lý luận sử học, NXB Đại học Quốc gia,Hà Nội,tr13 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Làm thành tài liệu của việc diễn ra trong quá khứ: cách làm hoặc quá trình tập hợp những sự việc diễn ra trong quá khứ thành tài liệu cũng chính là câu chuyện kể đối với hiện tại”4 Từ những nhận định trên, cần tiếp cận lịch sử thông qua các phương pháp ghi lại lịch sử của các sử gia. Người thường được kể đến đầu tiên chính là Herodotus5 (sống vào thế kỷ V TCN), trong tác phẩm “The Histories”6 ghi nhận những lời kể, câu chuyện nào đáng tin cậy hay kém tin cậy. Ông đi đến nhiều nơi để xác minh những ghi nhận tìm ra được câu chuyện lịch sử trung thực của vùng Địa Trung Hải, trong sách của ông không có một ghi chép bình luận nào về các câu chuyện được nêu ra.
Theo cách này, lịch sử là câu chuyện kể và phương pháp kể lại câu chuyện được biết như phương pháp đầu tiên trong viết sử, được nhiều nhà nghiên cứu đề cao vì cho rằng sự kiện lịch sử mang tính chất khách quan nhất, trung thực nhất. Hình thức nghiên cứu này đặt trọng tâm thông qua tường thuật, tức là bắt đầu với các trải nghiệm, được bộc lộ qua các câu chuyện mà cá nhân đã từng sống và được họ kể lại. Người nghiên cứu sẽ cố gắng tạo dựng các sự kiện trong quá khứ sao cho càng hoàn thiện và chính xác càng tốt. Từ góc độ “ai cũng có những câu chuyện để kể”, các nhà nghiên cứu lịch sử sẵn sàng lắng nghe tường thuật của tất cả các nhân chứng chứ không chỉ riêng những người nổi tiếng bởi việc tìm hiểu quan điểm về một sự kiện của lịch sử thì sự đa dạng trong ký ức của nhiều đối tượng là cần thiết.
Nếu chúng ta không tiến hành thu thập thì một ngày nào đó chúng sẽ biến mất mãi mãi và vĩnh viễn không hiểu được vấn đề một cách toàn diện. Từ phương diện này, “tài liệu truyền miệng” có thuật ngữ phái sinh “lịch sử qua lời kể” mà trong nhiều công trình nghiên cứu, các nhà sử học đã sử dụng. Judith Moyer trong tài liệu Step-by-step Guide to Oral History7 cho rằng: “Lịch sử qua lời kể là việc sưu tầm một cách có hệ thống bằng chứng về trải nghiệm riêng của những người còn sống.