Luận án tiến sĩ lưu trữ tài liệu truyền miệng qua nghiên cứu hồi ức các cựu chiến binh trong chiến tranh việt nam giai đoạn 1954 1975

Luận án tiến sĩ phân tích lưu trữ tài liệu truyền miệng qua nghiên cứu hồi ức các cựu chiến binh trong chiến tranh việt nam, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Chuyên ngành

Lưu trữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

212
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ TÌNH HÌNH SƯU TẦM TÀI LIỆU TRUYỀN MIỆNG Ở CÁC NƯỚC

1.1. Nghiên cứu chung về tài liệu truyền miệng- tài liệu khẩu vấn

1.2. Định nghĩa “tài liệu”

1.3. Khái niệm “Tài liệu truyền miệng” và các thuật ngữ liên quan

1.4. Các nghiên cứu về phương pháp tạo lập và lưu trữ tài liệu truyền miệng (tài liệu khẩu vấn)

1.5. Tình hình nghiên cứu và hoạt động sưu tầm tài liệu truyền miệng (tài liệu khẩu vấn) ở một số quốc gia và Việt Nam

1.5.1. Nghiên cứu của Hoa Kỳ

1.5.2. Nghiên cứu của Canada

1.5.3. Nghiên cứu của Anh

1.5.4. Nghiên cứu của Australia

1.5.5. Nghiên cứu của Singapore

1.5.6. Nghiên cứu của Việt Nam

1.6. Khái niệm “hồi ức” và hồi ức của các cựu chiến binh trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam 1954-1975

1.6.1. Khái niệm “Hồi ức”

1.6.2. Khái niệm “cựu chiến binh”

1.6.3. Vấn đề tái hiện hồi ức của các cựu chiến binh trong giai đoạn Chiến tranh Việt Nam 1954-1975

2. PHƯƠNG PHÁP TẠO LẬP TÀI LIỆU KHẨU VẤN - VẬN DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

2.1. Khái quát về phương pháp khẩu vấn trong nghiên cứu lịch sử

2.2. Định nghĩa phương pháp khẩu vấn

2.3. Ý nghĩa của phương pháp khẩu vấn đối với việc hình thành tài liệu truyền miệng trong lưu trữ

2.4. Yêu cầu tạo lập tài liệu khẩu vấn

2.5. Nội dung cơ bản của phương pháp khẩu vấn

2.6. Vận dụng phương pháp khẩu vấn trong nghiên cứu về hồi ức của các cựu chiến binh trong Chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954-1975

2.6.1. Đối tượng phỏng vấn

2.6.2. Tiến hành phỏng vấn

2.6.3. Giá trị tài liệu từ phương pháp khẩu vấn trong luận án

3. TÀI LIỆU KHẨU VẤN TỪ HỒI ỨC CỦA CÁC CỰU CHIẾN BINH TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954-1975

3.1. Khái quát Chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954-1975

3.2. Hồi ức cựu chiến binh tham chiến trong giai đoạn 1954-1975

3.2.1. Hồi ức về giai đoạn nhập ngũ

3.2.2. Hồi ức về những trận đánh

3.2.3. Hồi ức về những kỷ niệm vui, buồn trong chiến tranh

3.2.4. Động lực của người lính

3.2.5. Ký ức ngày thống nhất đất nước

3.3. Phê phán sử liệu đối với tài liệu khẩu vấn từ các hồi ức của các cựu chiến binh

4. GIẢI PHÁP LƯU TRỮ TÀI LIỆU KHẨU VẤN TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM HIỆN NAY

4.1. Kinh nghiệm lưu trữ và phát huy tài liệu khẩu vấn của nước ngoài

4.2. Tổ chức khoa học các bộ sưu tập tài liệu khẩu vấn

4.3. Bảo quản tài liệu khẩu vấn

4.4. Xây dựng công cụ tra cứu

4.5. Phục vụ khai thác sử dụng và phát huy giá trị tài liệu khẩu vấn

4.6. Các vấn đề đặt ra cho lưu trữ tài liệu khẩu vấn ở Việt Nam

4.6.1. Các vấn đề đặt ra cho lý luận khoa học lưu trữ

4.6.2. Các vấn đề đặt ra cho thực tiễn công tác lưu trữ

4.6.3. Vấn đề đặt ra cho pháp lý về lưu trữ

4.7. Một số giải pháp thực hiện lưu trữ tài liệu khẩu vấn đối với Việt Nam

4.7.1. Giải pháp chung cho công tác lưu trữ

4.7.2. Các giải pháp cụ thể về nghiệp vụ đối với lưu trữ tài liệu khẩu vấn

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu lưu trữ tài liệu truyền miệng cựu chiến binh

Nghiên cứu lưu trữ tài liệu truyền miệng từ hồi ức của các cựu chiến binh Việt Nam giai đoạn 1954-1975 là một lĩnh vực quan trọng trong việc bảo tồn lịch sử. Tài liệu truyền miệng không chỉ là nguồn thông tin quý giá mà còn là cầu nối giữa các thế hệ. Chúng giúp tái hiện lại những ký ức, cảm xúc và trải nghiệm của những người đã sống trong thời kỳ chiến tranh. Việc lưu trữ những tài liệu này không chỉ có giá trị lịch sử mà còn góp phần bảo tồn văn hóa dân tộc.

1.1. Khái niệm tài liệu truyền miệng và hồi ức cựu chiến binh

Tài liệu truyền miệng được định nghĩa là những thông tin được truyền tải qua lời nói, thường từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hồi ức của các cựu chiến binh là những câu chuyện, kỷ niệm về cuộc chiến tranh mà họ đã trải qua. Những hồi ức này không chỉ mang tính cá nhân mà còn phản ánh những biến động lớn trong lịch sử dân tộc.

1.2. Tầm quan trọng của tài liệu truyền miệng trong nghiên cứu lịch sử

Tài liệu truyền miệng đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung các tài liệu chính thức. Chúng cung cấp cái nhìn sâu sắc về những trải nghiệm cá nhân, giúp hiểu rõ hơn về bối cảnh lịch sử. Việc nghiên cứu và lưu trữ những tài liệu này là cần thiết để bảo tồn di sản văn hóa và lịch sử của dân tộc.

II. Những thách thức trong việc lưu trữ tài liệu truyền miệng

Việc lưu trữ tài liệu truyền miệng gặp nhiều thách thức, từ việc thu thập thông tin đến bảo quản và phát huy giá trị của chúng. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu hụt về lý thuyết và thực tiễn trong lĩnh vực này. Nhiều tài liệu có thể bị mất đi nếu không được lưu trữ đúng cách.

2.1. Khó khăn trong việc thu thập hồi ức cựu chiến binh

Việc tiếp cận các cựu chiến binh để thu thập hồi ức không phải là điều dễ dàng. Nhiều người có thể không muốn chia sẻ những ký ức đau thương hoặc không còn nhớ rõ các chi tiết. Điều này tạo ra thách thức lớn trong việc thu thập tài liệu.

2.2. Vấn đề bảo quản và phát huy giá trị tài liệu

Bảo quản tài liệu truyền miệng đòi hỏi các phương pháp và công nghệ hiện đại. Nếu không được bảo quản đúng cách, tài liệu có thể bị hư hỏng hoặc mất đi giá trị. Việc phát huy giá trị của tài liệu cũng cần có kế hoạch cụ thể để đảm bảo chúng được sử dụng hiệu quả trong nghiên cứu và giáo dục.

III. Phương pháp nghiên cứu và lưu trữ tài liệu truyền miệng

Để nghiên cứu và lưu trữ tài liệu truyền miệng, cần áp dụng các phương pháp khoa học phù hợp. Phương pháp khẩu vấn là một trong những cách hiệu quả nhất để thu thập thông tin từ các cựu chiến binh. Việc áp dụng công nghệ hiện đại trong lưu trữ cũng rất quan trọng.

3.1. Phương pháp khẩu vấn trong nghiên cứu lịch sử

Phương pháp khẩu vấn cho phép thu thập thông tin trực tiếp từ các nhân chứng. Qua đó, các nhà nghiên cứu có thể ghi lại những câu chuyện, cảm xúc và trải nghiệm của cựu chiến binh. Điều này giúp tạo ra nguồn tài liệu phong phú và đa dạng.

3.2. Ứng dụng công nghệ trong lưu trữ tài liệu truyền miệng

Công nghệ hiện đại như ghi âm, video và phần mềm lưu trữ giúp bảo quản tài liệu truyền miệng một cách hiệu quả. Việc số hóa tài liệu cũng giúp dễ dàng truy cập và chia sẻ thông tin, từ đó phát huy giá trị của chúng trong nghiên cứu và giáo dục.

IV. Ứng dụng thực tiễn của tài liệu truyền miệng trong nghiên cứu lịch sử

Tài liệu truyền miệng từ hồi ức cựu chiến binh có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Chúng không chỉ giúp làm phong phú thêm nguồn tài liệu cho nghiên cứu lịch sử mà còn có thể được sử dụng trong giáo dục và truyền thông.

4.1. Tài liệu truyền miệng trong giáo dục lịch sử

Việc sử dụng tài liệu truyền miệng trong giáo dục giúp học sinh, sinh viên hiểu rõ hơn về lịch sử thông qua những câu chuyện sống động. Điều này tạo ra sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại, giúp thế hệ trẻ nhận thức rõ hơn về giá trị của lịch sử.

4.2. Tác động của tài liệu truyền miệng đến nghiên cứu lịch sử

Tài liệu truyền miệng cung cấp cái nhìn sâu sắc về các sự kiện lịch sử từ góc độ cá nhân. Điều này giúp các nhà nghiên cứu có thêm thông tin để phân tích và đánh giá các sự kiện lịch sử một cách toàn diện hơn.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu lưu trữ tài liệu truyền miệng

Nghiên cứu lưu trữ tài liệu truyền miệng từ hồi ức cựu chiến binh là một lĩnh vực còn nhiều tiềm năng. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của tài liệu này không chỉ có ý nghĩa lịch sử mà còn góp phần vào việc xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc. Tương lai của nghiên cứu này cần được tiếp tục phát triển để đáp ứng nhu cầu bảo tồn di sản văn hóa.

5.1. Triển vọng phát triển nghiên cứu lưu trữ tài liệu truyền miệng

Nghiên cứu lưu trữ tài liệu truyền miệng cần được mở rộng và phát triển hơn nữa. Các dự án nghiên cứu mới có thể được triển khai để thu thập và bảo tồn tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, từ đó tạo ra một kho tàng tài liệu phong phú cho các thế hệ sau.

5.2. Vai trò của cộng đồng trong việc bảo tồn tài liệu truyền miệng

Cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn tài liệu truyền miệng. Việc khuyến khích các cựu chiến binh và gia đình họ chia sẻ hồi ức sẽ giúp tạo ra nguồn tài liệu phong phú và đa dạng, góp phần vào việc bảo tồn di sản văn hóa của dân tộc.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ lưu trữ tài liệu truyền miệng qua nghiên cứu hồi ức các cựu chiến binh trong chiến tranh việt nam giai đoạn 1954 1975

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Phương pháp tạo lập tài liệu khẩu vấn - vận dụng trong nghiên cứu của luận án Chương 3: Giá trị tài liệu khẩu vấn từ hồi ức của các cựu chiến binh trong chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954-1975 Chương 4: Giải pháp lưu trữ tài liệu khẩu vấn trong bối cảnh Việt Nam hiện nay. Xin trân trọng cảm ơn! 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ TÌNH HÌNH SƢU TẦM TÀI LIỆU TRUYỀN MIỆNG Ở CÁC NƢỚC 1. Nghiên cứu chung về tài liệu truyền miệng- tài liệu khẩu vấn 1. Định nghĩa “tài liệu” Việc định nghĩa khái niệm “tài liệu” thường được gắn liền với các vật mang tin để ghi lại các thông tin liên quan tới các vấn đề của đời sống xã hội.

Nó gắn liền với sự ra đời của chữ viết. Trong xã hội nô lệ, khi nhà nước đầu tiên của giai cấp chủ nô ra đời, lúc đó giai cấp chủ nô cần chữ viết để ghi chép những số liệu đơn giản đầu tiên, như thống kê số lượng nông nô, ghi sản phẩm thừa, ghi nợ, ghi quyền sở hữu. Thực ra, sự ghi chép đó đã có từ cuối thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ để ghi chép số thú săn bắt được và hoa quả dư thừa mà cả bộ lạc dùng không hết trong ngày và ghi chép các nhu cầu tính toán khác. Đến khi nghề chăn nuôi và nghề trồng trọt xuất hiện thì nhu cầu ghi chép ngày càng lớn, trồng trọt xuất hiện thì nhu cầu ghi chép ngày càng lớn, vì lẽ của cải trong xã hội tăng thêm đã đưa lại sự giàu có cho xã hội, và qua đó xuất hiện một nền văn minh cổ xưa là chữ viết, sau đó tài liệu được hình thành.

Việc ghi chép của xã hội loài người nối tiếp vào các thời kỳ sau, phát triển cùng với sự phân ngành sản xuất trong xã hội và cải tiến kỹ thuật văn phòng. Những ký tự ban đầu thưởng được thể hiện dưới dạng biểu tượng trên cát, trên vỏ, lá cây. Dần dần, loài người sản xuất ra các vật mang tin mới, như thạch cao, đất nung.Hiện nay, loài người còn lưu giữ được các kho tài liệu đất nung khổng lồ tại các triền sông Lưỡng Hà vùng Trung Cận Đông. Nhưng nói chung, ngoài tài liệu có vật mang tin như vậy, hiện nay hầu như các nước không còn lưu giữ được tài liệu thời kỳ nô lệ, mà phổ biến chỉ còn tài liệu thời kỳ phong kiến Tài liệu (trong tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga ,…) đều bắt nguồn từ tiếng Latinh “documentum” có nghĩa là chứng cứ.

Tài liệu là dạng vật chất nhìn thấy được, hiện hữu cụ thể. Qua đó tài liệu được hiểu là dạng vật chất ghi nhận thông tin. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở nước Nga, theo tiêu chuẩn quốc gia đầu tiên về thuật ngữ GOST 16487-70 “Văn thư và công tác lưu trữ. Các thuật ngữ và định nghĩa”, khái niệm “tài liệu” đã được định nghĩa là “phương tiện để giữ lại các tin tức về những sự việc, sự kiện, hiện tượng của thực tiễn khách quan và hoạt động tư duy của con người”1.

Trong tham luận tại Hội thảo “Quản lý tài liệu điện tử và lưu trữ tài liệu điện tử”, tác giả Nguyễn Cảnh Đương-Hoàng Văn Thanh đã đưa ra định nghĩa “Tài liệu là đơn vị thông tin được ghi lại không phụ thuộc vào hình thức và vật mang tin”2 Tại khoản 2 Luật Lưu trữ năm 2011, tài liệu được định nghĩa: “Tài liệu là vật mang tin được hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân” Như vậy, có thể thấy “tài liệu” được hiểu như một vật mang tin có chứa thông tin và các thông tin có trong tài liệu được mã hoá dưới dạng vật chất nhất định. Hai yếu tố vật mang tin và thông tin trong tài liệu có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó nội dung của thông tin có trong tài liệu đó đóng vai trò quyết định tới giá trị của tài liệu. Về mặt lý luận cũng như trong thực tiễn công tác lưu trữ, người ta chia giá trị tài liệu ra làm hai nhóm chính là: Giá trị thực tiễn và giá trị lịch sử. Giá trị thực tiễn của tài liệu là khả năng phục vụ sử dụng thông tin của tài liệu cho các hoạt động hiện hành trong xã hội như: hoạt động về chính trị, quân sự, kinh tế văn hoá, giáo dục, khoa học, kỹ thuật.

ở nhiều nước, giá trị thực tiễn của tài liệu được gọi là giá trị hiện hành, tức giá trị phục vụ thông tin cho các hoạt động đang diễn ra trong xã hội. Giá trị lịch sử của tài liệu là khả năng đáp ứng yêu cầu sử dụng thông tin tài liệu cho việc nghiên cứu quá khứ, nghiên cứu lịch sử. Để xem xét đánh giá những vấn đề của xã hội đã qua, đương nhiên các nhà nghiên cứu phải sử dụng nhiều tư liệu, như khai thác thông tin trong các sách ở thư viện, đọc sách báo, hồi ký. 1 Nguyễn Lệ Nhung, Vài nét về khái niệm “tài liệu”,”tài liệu điện tử”, nguồn: http://www.vn/content/Lists/Tin%20nghin%20cu%20trao%20i/DispForm.aspx?ID=17 (21/9/2-15) 2 Nguyễn Cảnh Đương-Hoàng Văn Thanh, Bàn về khái niệm “Tài liệu”, “Văn bản”, “Tài liệu lưu trữ”, “Tài liệu điện tử”, “Văn bản điện tử” và “Tài liệu lưu trữ điện tử”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quản lý tài liệu điện tử và lưu trữ tài liệu điện tử, Bộ Nội vụ 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy chúng ta thấy rõ rằng bản chất của tài liệu chính là kết quả của quá trình lao động sáng tạo của con người tạo ra.

Nó là nhân tố quan trọng để thúc đẩy xã hội tiến lên thông qua sự kế thừa những tri thức hay kinh nghiệm từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này, sang thế hệ khác. Và con người muốn xây dựng xã hội mới phải biết tiếp thu những tri thức đã tích luỹ trong nhiều nguồn tài liệu khác nhau, áp dụng một cách sáng tạo vào thực tại. Khái niệm “Tài liệu truyền miệng” và các thuật ngữ liên quan Khi nói tới “tài liệu truyền miệng” bản thân tên gọi đã cho thấy nguồn gốc hình thành thông tin được nói đến trong vật mang tin. Đó là những tài liệu ghi lại các thông tin mang tính truyền khẩu.

Tuy nhiên, cần phân biệt rõ nội hàm của thuật ngữ “tài liệu truyền miệng” được sử dụng trong luận án bởi trong thực tiễn nghiên cứu, tài liệu truyền miệng được coi là một nguồn sử liệu quan trọng. Chính vì vậy, thuật ngữ “tài liệu truyền miệng” trong luận án cần được giới hạn trong phạm vi nghiên cứu. Chúng tôi muốn nhận mạnh tới nội hàm thuật ngữ này ở hai góc độ về nội dung và hình thức tạo ra tài liệu:  Về phƣơng diện nội dung: Trước hết cần phải thấy, sự hình thành tài liệu truyền miệng trong nghiên cứu luôn gắn liền với sử học. Giáo sư Hà Văn Tấn trong cuốn “Một số vấn đề lý luận Sử học” có viết: “lịch sử là khách quan.

Sự kiện lịch sử là những sự thật được tồn tại độc lập ngoài ý thức chúng ta. Nhưng sự nhận thức lịch sử lại là chủ quan. Và người ta chép sử vì những mục đích khác nhau”3 Theo TS. Trần Thị Bích Ngọc, các định nghĩa thường cũng chỉ đúng một phần, lịch sử được hiểu theo 3 ý chính được các nhà nghiên cứu đồng ý: “- Việc diễn ra trong quá khứ: những sự kiện (biến cố/ event) diễn ra trong quá khứ cho đến thời điểm hiện tại, không thể thay đổi được, cố định trong không gian và thời gian, mang tính chất tuyệt đối và khách quan.

- Ghi lại những việc diễn ra trong quá khứ: con người muốn nắm bắt quá khứ, diễn đạt theo sự kiện theo từ ngữ và giải thích ý nghĩa của sự kiện, mang tính chất tương đối và chủ quan của người ghi lại bằng những câu chuyện kể. 3 Hà Văn Tấn (2007), Một số vấn đề lý luận sử học, NXB Đại học Quốc gia,Hà Nội,tr13 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Làm thành tài liệu của việc diễn ra trong quá khứ: cách làm hoặc quá trình tập hợp những sự việc diễn ra trong quá khứ thành tài liệu cũng chính là câu chuyện kể đối với hiện tại”4 Từ những nhận định trên, cần tiếp cận lịch sử thông qua các phương pháp ghi lại lịch sử của các sử gia. Người thường được kể đến đầu tiên chính là Herodotus5 (sống vào thế kỷ V TCN), trong tác phẩm “The Histories”6 ghi nhận những lời kể, câu chuyện nào đáng tin cậy hay kém tin cậy. Ông đi đến nhiều nơi để xác minh những ghi nhận tìm ra được câu chuyện lịch sử trung thực của vùng Địa Trung Hải, trong sách của ông không có một ghi chép bình luận nào về các câu chuyện được nêu ra.

Theo cách này, lịch sử là câu chuyện kể và phương pháp kể lại câu chuyện được biết như phương pháp đầu tiên trong viết sử, được nhiều nhà nghiên cứu đề cao vì cho rằng sự kiện lịch sử mang tính chất khách quan nhất, trung thực nhất. Hình thức nghiên cứu này đặt trọng tâm thông qua tường thuật, tức là bắt đầu với các trải nghiệm, được bộc lộ qua các câu chuyện mà cá nhân đã từng sống và được họ kể lại. Người nghiên cứu sẽ cố gắng tạo dựng các sự kiện trong quá khứ sao cho càng hoàn thiện và chính xác càng tốt. Từ góc độ “ai cũng có những câu chuyện để kể”, các nhà nghiên cứu lịch sử sẵn sàng lắng nghe tường thuật của tất cả các nhân chứng chứ không chỉ riêng những người nổi tiếng bởi việc tìm hiểu quan điểm về một sự kiện của lịch sử thì sự đa dạng trong ký ức của nhiều đối tượng là cần thiết.

Nếu chúng ta không tiến hành thu thập thì một ngày nào đó chúng sẽ biến mất mãi mãi và vĩnh viễn không hiểu được vấn đề một cách toàn diện. Từ phương diện này, “tài liệu truyền miệng” có thuật ngữ phái sinh “lịch sử qua lời kể” mà trong nhiều công trình nghiên cứu, các nhà sử học đã sử dụng. Judith Moyer trong tài liệu Step-by-step Guide to Oral History7 cho rằng: “Lịch sử qua lời kể là việc sưu tầm một cách có hệ thống bằng chứng về trải nghiệm riêng của những người còn sống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ