CHƯƠNG 1 ‘Tha kế xuất hiện như một tắt yêu lich sử trong sự phát triển xã hội loài người, chính vi vay quả trình phát triển của thừa kế gắn lién với sư phát triển. của lịch sử loài người. Ở chương mỡ dau nảy, xuất phát từ việc tim hiểu, tham. khảo nhiễu tải liệu cũng như quy định cia pháp luật hiện hành, tác giã đã zây dựng và đưa ra khái niệm thừa ké theo pháp luật, đến thời điểm hiện nay, các quan điểm khoa học déu ghi nhận thừa kế lả một hiện tượng tất yếu và mang.
tính lich sử, theo đó thửa kế được hiểu la sự dich chuyển tai sẵn từ người chết sang cho những người còn sng. Tử đó tác giã so sánh thừa ké theo di chúc va thửa kể theo pháp luật. Việc phân biệt thừa kế theo di chúc và thửa kế theo pháp luật để tim ra những điều tương đồng và điểm khác biệt là điều hết sức cần thiết, qua đó ta thay ring thừa kế theo pháp luật có những đặc điểm riêng. khác với thừa kế theo di chúc.
Để được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật đôi hỏi cả nhân phải có những mỗi quan hé nhất định đối với người để lại di sản. Bên cạnh đó, có thể thấy việc pháp luất quy định những người thuộc "ràng thừa kế không mang tinh ngẫu nhiên ma có sự phỏng đoán ÿ chí của đa số người dé lai di sin, dé bão đảm quyên, lợi ích cho những người có các mỗi quan hệ nhất định với người để lại di sản, dé cũng có và duy trì tinh thân nếu. người có tải sin qua đời 19 CHUONG 2. THUA KE THEO PHAP LUAT THEO QUY BINH CUA BỘ LUẬT DAN SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 Hàng thừa Không phải tat cả người thuộc trong diện thừa kế theo pháp luật sẽ déu được hưởng di sản thửa kế cùng một lúc.
Ho sé được hưởng thửa kể theo trình tự trước sau phu thuộc vào mức độ gin gũi của ho với người để lại di sản. Điều kiện pháp luật quy định sẽ hoàn toàn không phụ thuộc ý chi của người thửa kế. Pháp luật về thừa kế zếp những người thuộc diện thừa ké theo pháp luật nay theo từng nhóm riêng biệt, Mỗi nhóm nay được gọi là một hằng thừa kế theo pháp luật và những người củng hàng sẽ được hưởng phân di sản ngang, nhau. Như vậy, ta có thể hiểu hàng thừa kế theo pháp luật là nhóm những người có cùng mức a3 gần gilt với người để lại đi sản và họ cùng được hướng.
phan đi sản ngang bằng nhan đối với di sản thita kế mà người chết đỗ lại Theo đó, người ở hàng thửa ké trước sẽ được wu tiên, chỉ khi không còn ai ở hàng thừa kể trước do đã chết hoặc bị trudt quyển hưởng thửa kế hoặc do người đó từ chỗi hưởng di sản thì người ở hang thừa kể sau mới được hưởng, thửa kế 3. Hang thừa ké thứ nhất Theo BLDS 2015, hang thừa kế thứ nhất bao gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ dé, cha nuôi, mẹ nuôi, con dé, con nuôi của người để lại di sản (Điểma Khoản 1 Điều 651 BLDS 2015). Nhóm người nay có mồi quan hệ thân thuộc, gin gũi nhất đối với người chết. Có hai mỗi quan hệ thừa kế ở hang thừa kế thứ nhất bao gồm: Quan hệ thừa kế giữa vợ va chồng va Quan hệ thửa kể giữa cha, me và con.
"Đối với quan hệ thừa kế giữa vợ và chồng: Vợ chồng có quyên hưởng. đi sản của nhau nếu hôn nhân của họ vẫn còn tổn tại về mặt pháp lý tại thời ” điểm một bên chết (thời điểm mỡ thừa kế). Quan hệ hôn nhân chính lả căn cứ. để xác định được quan hệ thửa kế giữa vợ và chẳng, Theo quy định tại Khoản.
1 Điễu 3 Luật Hôn nhân va gia đính Việt Nam 2014 (từ sau đây viết tắt là Luật HN&GĐ 2014) thì hôn nhân được hiểu lả quan hệ giữa người vợ và người chẳng sau khi đã kết hôn (theo đỏ kết hôn lả việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chẳng với nhau theo quy định của Luật HN&GĐ 2014 vẻ điều kiện kết hôn. va đăng ký kết hôn). Tuy nhiên, do những tổn tai của lịch sử nên một số trường hợp hôn nhân thực tế hiện nay van chưa đáp ứng được vẻ điêu kiên và thủ tục kết hôn theo quy đính của pháp luật hiện nay nhưng vẫn được công, nhận có quan hệ vợ chẳng và van thuộc vào diện thừa kế theo pháp luật của nhau. Luật HN&GĐ 1959 có hiệu lực từ ngay 13/01/1960 thì nước ta mới bắt đâu xác lập chế đô hôn nhân tiến bộ một vợ một chẳng, vi vay giai đoạn này đất nước ta phải chấp nhận hậu quả của chế độ đa thê của chế độ cũ để lai Chính vì thé, tại miễn Bắc néu như một người có nhiều vợ trước thời điểm Luật HN&GĐ năm 1959 có hiệu lực (rước ngày 13/01/1960) và tại miễn Nam người có nhiều vợ trước ngày 25/03/1977 (thời điểm áp dung thống nht các văn bản pháp luật trong cả nước) sẽ không bị coi là tréi pháp luật va khí người chống chết, tắt cả các người vợ nêu còn sống vào thời điểm mỡ thừa kế thì đều thuộc hang thừa kế thứ nhất của người ching Đồng thời, nếu một trong những người vợ chết trước người chủng thì chồng của họ cũng thuộc.
‘hang thừa ké thứ nhất. Những người 14 cán bộ, chiến si đã có vợ ở miễn Nam tập kết ra Bắc theo Hiệp định Giơnevơ 1954, nêu lẫy người khác ở miền Bac, thi sau ngày. thống nhất dat nước, quan hệ hôn nhân của họ với người vợ ở miễn Bắc vẫn. được thừa nhận Đối với các trường hợp hôn nhân có đủ diéu kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn va chung sống với nhau như vợ ching được zác lập trước ngày Luật HN&GĐ 1986 có hiệu lực pháp luật thì quan hệ vợ chẳng giữa họ vẫn được thừa nhân (là hôn nhân thực tộ và họ là người thừa kế theo pháp luật của nhau ở hang thửa kế thứ nhất.
Trường hợp vợ chẳng đã ly hồn nhưng sau đó quay lại sống chung với nhau trước ngày Luật HN&GĐ 1986 có hiệu lực pháp luật ma cuộc sống chung đó không bi huỷ bd bằng một bản án có hiệu lực pháp luật của Toa án có thẩm quyển thi ho vẫn được thửa nhận la có quan hệ vợ chồng nên van là người thừa kế pháp luật của nhau ở hang thừa kế thứ nhất. Đối với trường hợp vơ chẳng đã chia tai sản chung nhưng không ly hôn. hoặc vợ chẳng sống ly thân nhưng không ly hôn vẻ mất pháp lý thì quan hệ hôn nhân giữa ho vẫn tổn tai, vì vậy khi một trong hai chết thì người còn sông, vấn được hưởng di sin của người đã chết. Khi một bên chết, dù người còn sống kết hôn hoặc sống chung với người khác như vợ chồng thi người đó vấn được hưởng di sản của người đã chết Vo chẳng đang xin ly hôn mà chưa được Toa an cho ly hôn hoặc đã được Toa án cho ly hôn nhưng quyết định hoặc ban án chưa có hiệu lực pháp luật ma một bên chết thi người còn sống vấn được hưởng thừa kế di sn của người đã chết Déi với quan hệ thừa ké giữa cha.
mẹ và con: Giẳng như quan hệ thừa. kế giữa vợ và chồng, quan hệ thừa kế giữa cha, me va con cũng là một quan. hệ thừa kế mang tinh hai chiều. Quan hê nay được xc định theo một trong hai cơ sỡ sau Cơ sỡ thứ nhất, căn cử theo quan hệ huyết thông thi quan hệ giữa cha, ‘me và con là quan hệ giữa những người có cing dong máu trực hệ trong phạm.
‘vi hai đời liên kế nhau được xác định thông qua sự kiện sinh đẻ. Co thé thay, BLDS 2015 đã kể thừa toản bộ quy định của BLDS 2005 vé diện thừa kế và hàng thừa kế. Theo đó, cha dé, me dé của mét người là người đã sinh ra người đó và được pháp luật thừa nhân. Không phân biết con trai hay cơn gái, con trong gia thú hay con ngoai giá thú, có năng lực hanh vi dân sự hay không có năng lực hảnh vi dan sự đều thuộc diện thừa ké theo pháp luật của người để lại di sản.
Việc xác định quan hé huyết thống giữa cha, me va con không những 1à cơ sở để sác đính quyển va nghĩa vụ của cha, mẹ và con đôi với nhau trong, quan hệ nhân thân ma còn la cơ sở để xác định diện thừa kế giữa cha, me và con khi một trong các bên chết Cơ sở thứ hai, căn cứ theo quan hệ nuôi dưỡng thi là quan hệ giữa những người nuôi đưỡng lẫn nhau theo cha — con, mẹ - con hoặc cha, me - con. Nếu một người được nhận làm con nuôi theo quy định của pháp luật sé thuộc hảng thừa kế thứ nhất của cha nuôi, mẹ nuôi vả đồng thời vẫn thuộc. hàng thừa kế thứ nhất của cha để, me dé mình, và ngược lại, cha nuôi, me nuôi sẽ là người thửa kế ỡ hang thừa kể thứ nhất của con nuôi néu người con nuôi đó chết. Đổi với người nhân nui không đăng kỹ việc nhận nuôi con nuôi theo đúng như quy định của pháp luật thì cha, me nuôi với con nuối sẽ thuộc hàng thửa kế thứ nhất của nhau khi được công nhận là nuôi con nuôi thực té Nêu việc nuôi con nuối chấm đứt trước thời điểm mở thừa kể thi ho sẽ không thuộc.
điện thừa ké theo pháp luật cũa nhau nữa. Xét đền trường hợp quan hệ thửa kế giữa con riêng, cha duong va me kế, Điển 625 và điều 653 của BLDS 2015 có quy định rõ néu như con riêng với bố dương, me kể có quan hệ nuôi đưỡng, chăm sóc nhau như cha con, me con sé được hưởng thửa kế phan di sản của nhau. Tuy nhiên, nến như các chủ thể nảy không có quan hệ tốt đẹp với nhau, không nuối dưỡng hay chăm sóc nhau, không có tình cảm qua lại với nhau thì họ sẽ đương nhiên không được ác định là người thừa ké của nhau. Hàng thừa kế thit hai ‘Theo BLDS 2015, hang thừa kể thứ hai bao gồm.
Quan hệ thừa ké giữa ông bà và chắn. Căn cứ theo điểmb Khoăn 1 Điều 651 BLDS 2015, để xác định được môi quan hệ thừa kế giữa ông bả va cháu thi hoàn toàn dựa véo quan hệ huyết thống ma không dựa vào quan hệ nuôi dưỡng, Pháp luật không đương nhiên thừa nhân giữa cha dé, me dé của một người với người con muối của người đó có quan hệ thửa kế.