Chương 1: Tổng quan van đề nghiên cứu 1. Các mô hình phân tích 1. Qúa trình các công ty Hàn Quốc đầu tư vào Việt Nam 1. Giới thiệu về tập đoàn SK 14 Chương 2: Đánh giá của SK về thị trường Việt Nam 2.
VỊ trí của Việt Nam trong chiến lược đầu tư toàn cầu của SK 2. Phương pháp tiếp cận Việt Nam của SK 2. Kết quả đánh giá về Việt Nam của SK qua các giai đoạn Chương 3: Chính sách của SK và những kỳ vọng đối với Việt Nam 3. Chính sách đầu tư của SK ở Việt Nam qua các giai đoạn 3.
Chính sách phát triển nguồn nhân lực địa phương của SK 3. Đánh giá về những thay đổi trong chính sách đầu tư của SK 3. Định hướng chiến lược 3. Mong muốn và những khuyến nghị của SK đối với chính phủ Việt Nam.
CO SO LY THUYET VA TONG QUAN VE DOI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm nghiên cứu 1.1 Đổi mới Đổi mới (thường được dịch sang tiếng Anh là Innovation hay Restoration) là tên gọi cua một chương trình cải cách kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng vào giữa thập niên 1980. Chương trình này được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam (1986) và được triển khai ngay sau Đại hội. Đổi mới diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam bị rơi vào khủng hoảng do những hạn chế của mô hình kinh tế kế hoạch, dẫn đến tình trạng thiếu lương thực phẩm trên cả nước và đời sống của người dân gặp rất nhiều khó khăn.
Trên thế giới, hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu cũng bước vào giai đoạn khủng hoảng sâu sắc, đối diện nguy cơ sụp đồ chế độ. Trong khi đó, một nước chủ nghĩa xã hội khác ở Châu Á là Trung Quốc nhờ thực hiện chính sách cải cách nền kinh tế từ 1979 mà đạt được rất nhiều thành tựu quan trọng. Đặc điểm của chương trình Đôi mới của Việt Nam là đôi mới về kinh tế diễn ra song song với đổi mới về hành chính, chính trị, văn hoá và giáo dục. Tuy nhiên, trọng tâm của Đôi mới vẫn là mặt trận kinh tế, còn đổi mới về chính trị diễn ra từng bước nhằm duy tri sự ôn định xã hội.
Vì thé, khác với chương trình Cải tổ của Liên Xô, chương trình Đổi mới của Việt Nam không chứng kiến những biến động lớn về chính trị và ý thức hệ. Hiện nay, chính phủ Việt Nam định nghĩa về đổi mới kinh tế là quá trình chuyên đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phan, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã 16 hội chủ nghĩa [23]. Trong định nghĩa vừa nêu, có hai cụm từ quan trọng cần làm rõ: kinh tế nhiều thành phần và cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đối với cụm từ kinh tế nhiều thành phần, chương trình Đổi mới đã công nhận sự tôn tại bình đăng va hợp pháp của nhiều thành phan kinh tế.
Đại hội VI (1986), khang định Việt Nam có các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm khu vực quốc doanh và khu vực tập thé. Các thành phần kinh tế khác gồm kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá; kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc. Trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, chi phối được các thành phần kinh tế khác [14]. Sau Đại hội VI, văn kiện của các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc tiếp theo của Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục khang dinh quan điểm về một nền kinh tế da thành phan.
Ví dụ, Đại hội XIII năm 2021 xác định cơ cấu các thành phần kinh tế bao gồm: Kinh tế Nhà nước; Kinh tế tập thể; Kinh tế tư nhân; Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo [15]. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Cụm từ này phản ánh một quan niệm về mô hình kinh tế của Đảng cộng sản Việt Nam trong thời kì Đổi mới, và nó được nhấn mạnh nhiều ké từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011) của Đảng cộng sản Việt Nam. Báo cáo Chính trị tại Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thống nhất và nêu rõ: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh té thi trường, có sự quản ly của nhà nước pháp quyền xã hội chu nghĩa, do Dang Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giau, nước mạnh, dân chủ, công bang, van minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội 17 chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng có, phát triển; kinh tế tư nhân là động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội” [16, tr. Hiểu một cách đơn giản hơn thì kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là kinh tế thị trường, vừa tuân thủ theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa phải theo định hướng của chủ nghĩa xã hội. Có nghĩa là, trong khi chú ý tới tăng trưởng kinh tế, thì hết sức coi trọng tới van dé xã hội, xây dựng hệ thống an sinh xã hội và dịch vụ công cộng tốt, bảo đảm công băng xã hội, hạn chế sự chênh lệch giàu-nghèo, phấn đấu để có nhiều người giàu nhưng đồng thời cũng hạn chế tối đa, tiến tới xóa bỏ tình trạng đói nghèo trong nhân dân.
Nhà nước phải đóng vai trò hạn chế, khắc phục những mặt trái của chủ nghĩa tư bản và quá trình toàn cầu hóa để nền kinh tế hoạt động có hiệu quả hơn và nâng cao phúc lợi xã hội [23]. Chương trình Đổi mới đã mang đến những thay đổi toàn diện và sâu sắc cho xã hội Việt Nam, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế. Giai đoạn đầu Đổi mới (1986-1990), mức tăng trường GDP bình quân hàng năm đặt 4,4%/nam, giai đoạn 1991-1995 GDP bình quân tăng 8,2%/nam; giai đoạn 1996-2000 GDP bình quân tăng 7,6%/năm; giai đoạn 2001-2005 GDP tăng bình quân 7,34%/năm; giai đoạn 2006-2010, dù kinh tế thé giới suy thoái, Việt Nam vẫn đạt tốc độ tăng trường GDP bình quân 6,32%/nam. Giai đoạn 2011-2015, GDP của Việt Nam tăng chậm lại nhưng vẫn đạt 5,9%/năm- là mức cao của khu vực và thế giới.
Trong thời kì Đổi mới, người ta cũng chứng kiến quy mô của nền kinh tế tăng nhanh. GDP bình quân đầu người năm 1991 chỉ là 188 USD/năm. Đến năm 2003, GDP bình quân đầu người đạt 471 USD/năm và đến năm 2015, 18 quy mô nên kinh tế đạt khoảng 204 tỉ USD, GDP đầu người đạt gần 2. Lực lượng sản xuất có nhiều tiến bộ cả về số lượng và chất lượng.
Ti lệ nghèo đói giảm từ 58% năm 1992 xuống còn 7,6% vào cuối năm 2013. Cơ cau kinh tế của Việt Nam bước đầu chuyển dịch theo hướng hiện đại, giảm khu vực nông nghiệp, tăng khu vực dịch vụ và công nghiệp. Kim ngạch ngoại thương năm 1991 là 5156,4 triệu USD, trong đó xuất khâu là 2087,1 triệu USD; đến năm 2016 các con số tương ứng là 333 tỷ USD và 167,83 tỷ USD, tăng 60,4 lần và 80,4 lần so với năm 1991. Kinh tế nhà nước cũng có nhiều kết quả tích cực: hệ thống doanh nghiệp nhà nước từng bước được cơ cấu lại, cổ phần hoá theo luật doanh nghiệp và đang giảm mạnh về số lượng.
Kinh tế tập thể bước đầu được đổi mới, các hình thức hợp tác kiêu mới được hình thành phù hợp hơn với cơ chế thị trường. Kinh tế tư nhân tăng nhanh về số lượng, từng bước nâng cao hiệu quả kinh doanh. Trong 30 năm, Việt Nam thu hút được 310 tỉ USD của các nhà đầu tư nước ngoài - nguồn vốn này đã góp phần làm tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam. Việt Nam đã ký kết 11 hiệp định thương mại tự do khu vực và song phương, và đang tích cực đàm phán các hiệp định khác [23].
Nhà dau tư nước ngoài a) Định nghĩa Theo điều 3 Luật đầu tư năm 2020 về giải thích từ ngữ, thì nhà đầu tư được hiểu là tô chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, gồm nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và tô chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Khái niệm nhà đầu tư nước ngoài được định nghĩa tại khoản 19 điều 3 Luật đầu tư năm 2020 như sau: “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam” [22]. 19 Theo điều 21 Luật đầu tư năm 2020 thì hiện nay giới đầu tư nước ngoài có các hình thức đầu tư vào Việt Nam như sau: (1) Đầu tư thành lập tô chức kinh tế; (2) Đầu tư góp vốn, mua cổ phan, mua phần vốn góp; (3) Thực hiện dự án đầu tư; (4) Đầu tư theo hình thức hợp động BCC; các hình thức đầu tư, loại hình tổ chức kinh tế mới theo quy định của chính phủ [22]. Dưới đây, chúng tôi sẽ giới thiệu đặc điểm của từng hình thức cụ thê.
- Về hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế: Nhà đầu tư nước ngoài thành lập tô chức kinh tế phải đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài quy định tại điều 9 của luật đầu tư. Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp, điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, trừ trường hợp thành lập doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo và quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo theo quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.