MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1. Bằng nỗ lực không mệt mỏi, Samuel Beckett – nhà văn đạt giải Nobel năm 1969 - đã đóng góp cho kho tàng văn học những tác phẩm giá trị. Bản tuyên dƣơng của Viện Hàn lâm Thuỵ Điển có đoạn viết: “Mặc dù Beckett là ngƣời tiên phong với những mô thức biểu hiện mới trong văn chƣơng và kịch nghệ, ông vẫn gắn liền với truyền thống, gắn bó mật thiết không chỉ với Joyce và Proust mà với cả Kafka, các kịch phẩm của ông ngay từ đầu đã kế thừa từ các kịch phẩm của Pháp thập niên 1890 và Ubu Roi của Alfred Jarry”.
Với ý thức tiếp cận Beckett nhƣ một trong những trƣờng hợp xuất sắc của văn học Phƣơng Tây thế kỉ XX, chúng tôi muốn qua mảng sáng tác kịch để phân tích, lí giải tài năng và phong cách của nhà văn tiêu biểu cho dòng kịch phi lí này. Một trong những phƣơng diện trọng tâm của nghệ thuật kịch là lời thoại. Đây là yếu tố cơ bản để tạo thành vở kịch. Đặc biệt, sự cách tân của kịch Beckett nói riêng và kịch phi lí nói chung thể hiện rất rõ nét ở phƣơng diện lời thoại – chính điều này đã làm nên một làn gió lạ trong văn học.
Cách xử lí lời thoại là lựa chọn phù hợp để nói lên cái phi lí của cuộc đời mà những lối viết truyền thống không còn phù hợp nữa. Nội dung mới mang tinh thần, hơi thở của thời đại đã tìm đƣợc hình thức phù hợp nhất: đó là sự cách tân về lời thoại. Thực chất, đây cũng là ý nghĩa xã hội, ý nghĩa nhân văn, là một cách để diễn tả số phận con ngƣời. Chọn hƣớng nghiên cứu lời thoại, chúng tôi có điều kiện khám phá, so sánh những thể nghiệm đặc sắc về mặt thể loại, bộc lộ rõ hình thức “phản kịch”.
Qua khảo sát những tài liệu có đƣợc ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy các công trình nghiên cứu về Beckett rất phong phú, tuy nhiên theo tài liệu mà chúng tôi thống kê thì chƣa có một công trình nào liên quan trực tiếp đến đề tài 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chúng tôi mong muốn khai thác lời thoại một cách hệ thống nhƣ một vấn đề xuyên suốt làm nổi bật cách tân nghệ thuật kịch của Beckett. Lịch sử vấn đề 2. Nguồn tài liệu tiếng Việt 2.
Tài liệu nghiên cứu Tác phẩm của Beckett sớm thu hút đƣợc sự quan tâm của giới nghiên cứu ở Việt Nam. Tuy nhiên, do rào cản về chính trị, ngôn ngữ, văn hoá mà ở giai đoạn trƣớc thời kì đổi mới, những công trình viết về Beckett còn ít và dè dặt, nhất là ở miền Bắc. Những công trình nghiên cứu và bản dịch sớm nhất về Beckett xuất hiện ở miền Nam. Một trong những nghiên cứu đầu tiên là Nguyễn Văn Trung với cuốn Lược khảo văn học.
Tác giả đã nêu bật đặc điểm ngôn ngữ của kịch phi lí: “Đó là một thứ kịch phản kịch đến hai lần. Nó vừa bao hàm sự phủ nhận con ngƣời, vừa bao hàm sự phủ nhận cả ngôn ngữ là phƣơng tiện diễn tả của kịch” [12; 823]. Tiếp theo là cuốn Văn học hiện sinh ở Sài Gòn của Phong Hiền, đề cập đến kịch Beckett và văn học hiện sinh ở Sài Gòn những năm sáu mƣơi, bảy mƣơi của thế kỉ XX, thể hiện tâm tƣ của một thế hệ thanh niên Việt Nam chán ngán chiến tranh, rệu rã trong cuộc sống ngày thƣờng. Cuốn sách cho thấy những ảnh hƣởng mạnh mẽ của dòng văn học hiện sinh, phi lí của Pháp đến tâm lý, sáng tác trong văn chƣơng Sài Gòn một thời.
Nó mang dấu ấn của một giai đoạn lịch sử. Năm 1979, nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu đã xuất bản công trình Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa, trong đó ông nhấn mạnh sự nhạt nhẽo, vô ích của ngôn từ, và cho thấy một không khí phi hiện thực, là sự tha hoá và thụ động của con ngƣời, đi kèm đó là cái nhìn cuộc đời siêu hình và bi đát. “Kịch phi lí mang một nội dung đồng nhất với nội dung triết học hiện sinh: cũng là sự miêu tả, phân tích thân phận con ngƣời (siêu hình); cũng là cái phi lí của thế giới, cái vô thƣờng của con ngƣời, cái bất lực của lý trí, cũng xa lạ, lo âu, tuyệt vọng và hƣ vô. Song với hình thức một sân khấu huyền thoại, các nhà viết kịch phi lí đặc 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biệt phát triển vấn đề ngôn ngữ (cái bất lực của ngôn ngữ, của tƣ duy) và thƣờng thể hiện dƣới hình thức “kịch hề bi đát” cái thân phận thảm hại của con ngƣời mà cái khả năng duy nhất là cái bất khả năng của nó” [19; 85].
Tác giả nhận diện kịch phi lí “là tấm bi kịch của ngôn ngữ, ngôn ngữ trống rỗng, vô nghĩa, hời hợt, chán ngắt, nó không có khả năng diễn đạt, nó bập bẹ, nó chứa đựng đầy mâu thuẫn, nó chỉ có khả năng duy nhất là nói đƣợc cái bất lực của nó, nó là một hệ thống tín hiệu què quặt, rời rạc, là tiếng nói của cái bất khả năng của hiện sinh, là bài ca bi thảm của cái vô thƣờng. Kịch phi lí thông báo cho ngƣời ta biết sự tiêu vong của ngôn ngữ” [19; 155]. Các luận điểm trong công trình này nhìn chung đều thể hiện rõ tinh thần của thời đại lúc bấy giờ. Đến năm 1999, Đỗ Đức Hiểu đã cho xuất bản cuốn Đổi mới đọc và bình văn.
Mục Thi pháp kịch của công trình đƣa ra một số nhận xét mới, tiếp cận kịch phi lí nói riêng và kịch nói chung từ góc nhìn thi pháp học chứ không khuôn hẹp theo định hƣớng chính trị, xã hội nữa. Trong Từ điển văn học năm 1984, ở mục từ Samuel Beckett, tác giả Đỗ Đức Hiểu đã nhận diện Beckett qua “giọng điệu vừa hài hƣớc vừa bi đát” và cho rằng tác phẩm của Beckett “toát lên tính chất bi quan tuyệt vọng vô cùng ảm đạm về thân phận con ngƣời”. Đặc biệt, năm 1992, trong giáo trình Văn học Phương Tây, nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào đã tổng kết, đánh giá sự nghiệp văn học của Beckett. Đây là lần đầu tiên các tác phẩm của Beckett đƣợc đề cập một cách toàn diện trên cả phƣơng diện nội dung và nghệ thuật.
Nhà nghiên cứu nhận định tầm vóc của Beckett: “Dấu ấn của một thiên tài chính là ở chỗ: sau khi ông ta xuất hiện, ngƣời ta không thể viết kịch, làm kịch, xem kịch giống nhƣ trƣớc nữa”. Ngƣời viết đã có những phân tích về ngôn từ của kịch Beckett: “Nhƣ vậy, không thể có tình huống kịch và sự phát triển của hành động căng thẳng dẫn tới thắt nút, cởi nút. Chẳng những thế, ngôn từ, đối thoại lại càng nhƣ trì đọng lại bởi những từ lặp, những sáo ngữ nhàm chán quen thuộc mà ngớ ngẩn” [12; 782]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cũng trong cuốn giáo trình này, tác giả Phùng Văn Tửu có bài viết về Ionesco và kịch phi lí.
Tác giả nhận định sự đổi mới về mặt lời thoại của Ionesco nói riêng và kịch phi lí nói chung là việc “chống lại quan niệm kịch bản thuần túy văn học, chủ yếu gồm toàn những lời đối thoại. Trƣớc hết phải nói rằng, các nhà soạn kịch trƣớc kia không lãng quên sàn diễn trong khi sáng tác kịch bản, một trong những yếu tố quan trọng để cho kịch thành công, trừ một số vở ít ỏi viết ra chủ yếu để đọc chứ không nhằm để diễn. Khi hạ bút viết mỗi cảnh, mỗi lời, mỗi từ ngữ, nhà soạn kịch đều hình dung chúng vang lên trên sân khấu. Ngoài những lời đối thoại, các tác giả còn ít nhiều sử dụng các chỉ dẫn sân khấu liên quan đến bài trí, hóa trang, diễn xuất.
Tuy nhiên, về cơ bản đối với sân khấu trƣớc kia, kịch bản vẫn là chúa tể, mà chủ yếu là những đối thoại. Ionesco cùng với một số nhà soạn kịch khác không chấp nhận tình hình ấy” [12; 806]. Khi phân tích vở Nữ ca sĩ hói đầu, nhà nghiên cứu dành hẳn một mục với tên gọi: “Tấn hề kịch về ngôn ngữ” để đề cập đến các hình thức thoại. Bài viết đã cho chúng tôi những gợi ý quý báu khi triển khai đề tài luận án.
Tạp chí Văn học nước ngoài (số 3, 1997) tập hợp một số bài viết đáng chú ý về Beckett. Vũ Đình Phòng đã nhận diện ngôn ngữ kịch phi lí: “Trƣớc hết các tác giả kịch phi lí phá huỷ ngôn ngữ. Ionesco đem ngôn ngữ ra làm trò cƣời đồng thời lên án nó. Một mặt ông khai thác mọi khả năng ngôn từ, đồng thời ông vạch ra sự khủng hoảng của tƣ duy khiến ngôn ngữ mất chức năng giao tiếp, chỉ còn là những kí hiệu âm thanh.
Ông nói về các nhân vật của mình nhƣ sau: “Họ không còn biết cách nói bởi họ không còn biết cách suy nghĩ”. Trong Nữ ca sĩ hói đầu của ông, không có ca sĩ cũng không có hói đầu, mà chỉ có cặp vợ chồng Smith và Wilson lặp đi lặp lại những câu lấy trong các bài tập đối thoại trong cuốn sách tự học tiếng Anh Anglais Sans Peine theo phƣơng pháp Assimil. Trong Trong khi chờ Godot của Beckett, hai nhân vật Estragon và Vladimir lặp đi lặp lại mãi vẫn những câu nói ấy” [39; 8]. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhà nghiên cứu Lê Nguyên Cẩn đã thể hiện sự quan tâm đến thể loại kịch phƣơng Tây nói chung và kịch phi lí nói riêng qua những công trình khoa học của mình.
Theo tài liệu tiếng Việt mà chúng tôi khảo sát đƣợc, hiện nay ở Việt Nam mới chỉ có duy nhất công trình nghiên cứu chuyên biệt về mảng “kịch phi lí”: Kịch phi lí trong văn học phương Tây thế kỉ XX, hoàn thành năm 2007, của PGS.Lê Nguyên Cẩn. Trong công trình này, tác giả đã đƣa ra cái nhìn khái quát về vị trí của kịch phi lí trong nền văn học phƣơng Tây, đồng thời công bố những nghiên cứu trƣờng hợp về Beckett và các kịch gia cụ thể. Nhà nghiên cứu nhận định kịch phi lí là loại kịch “phức tạp, không dễ nắm bắt”, khác lạ so với quan điểm mĩ học của chủ nghĩa cổ điển. Tác giả chú ý đến các khía cạnh: đề tài, kiểu nhân vật cặp đôi, cốt truyện, các kiểu thoại và cho rằng: “Kiểu đối thoại này của kịch phi lí thƣờng đƣợc gọi một cách khái quát là đối thoại giữa những ngƣời điếc, tạo ra hiệu quả nghệ thuật đầy ảo giác”.
Ngoài công trình trên, PGS.Lê Nguyên Cẩn còn công bố một số bài viết liên quan đến Beckett và kịch phi lí.