CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ LIÊN KẾT KINH TẾ VÙNG 1.1 Các nghiên cứu ngoài nước Trên thế giới, hệ thống lý thuyết vùng trong đó có vấn đề LKKT đã bắt đầu hình thành và phát triển từ những năm 1950. Chính vì vậy có rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện. Trong luận án này chỉ tổng quan các nghiên cứu điển hình, có những ảnh hưởng lớn đến lĩnh vực nghiên cứu LKKT vùng.1 Về nội hàm liên kết kinh tế vùng Mặc dù đã được nghiên cứu từ rất lâu, tuy nhiên đến nay các quan niệm về LKKT vùng vẫn được tiếp cận theo các góc độ khác nhau, theo nghiên cứu của luận án, có thể chia các quan niệm về LKKT vùng thành ba nhóm chính như sau: Nhóm thứ nhất, LKKT vùng là kết nối các hoạt động kinh tế theo không gian do tác động của hiệu ứng lan toả từ “vùng trung tâm” hay “cực tăng trưởng” đến các khu vực xung quanh. Cách tiếp cận này xuất phát từ nghiên cứu của Perroux, F.
(1955) với lý thuyết về “cực tăng trưởng”. Perroux cho rằng: “Tăng trưởng không xuất hiện ở mọi nơi và tất cả cùng một lúc, nó xuất hiện ở các điểm hoặc các cực phát triển, với cường độ biến đổi, nó lan rộng theo các kênh khác nhau và với các hiệu ứng đầu cuối khác nhau cho toàn bộ nền kinh tế”. Nghĩa là một số nơi có lợi thế hơn sẽ phát triển hơn những điểm còn lại trở thành “cực tăng trưởng” từ đó phát ra các lực ly tâm và lực hướng tâm, do đó hình thành một tập hợp các LKKT giữa “cực tăng trưởng” với các khu vực xung quanh. Trong nghiên cứu của mình, Perroux định nghĩa cực tăng trưởng là “không gian kinh tế trừu tượng”, là “các trung tâm, hoặc các cực, các tâm điểm”, vì vậy ông quan niệm có sự khác biệt giữa không gian kinh tế và khu vực địa lý như một vùng hoặc một thành phố, theo ông các cực có thể là các công ty, các ngành công nghiệp hoặc các nhóm công ty.
Xuất phát từ khái niệm “cực tăng trưởng” của Perroux (1955) nhưng Boudeville (1966) đã đưa không gian địa lý vào không gian kinh tế của Perroux. Ông xác định các khu đô thị chính là các cực tăng trưởng, là nơi tập trung một tập hợp các ngành công nghiệp dựa vào các ngành công nghiệp dựa trên công nghệ và đổi mới, phát triển các nguồn tài nguyên chủ đạo như quặng sắt hoặc các sản phẩm nông nghiệp từ khu vực xung quanh. Sự tập trung của các ngành công nghiệp thường ảnh hưởng đến nền kinh tế của các khu vực địa lý bên ngoài khu vực trung tâm. Như vậy, LKKT vùng được tạo ra do sự tương tác giữa cực tăng trưởng với các vùng nằm trong ảnh hưởng của nó.
14 Mô hình “trung tâm - ngoại vi” của Friedmann (1966) cũng tương đối thống nhất với quan niệm của Boudeville (1966). Ông chia quá trình phát triển trong không gian kinh tế thành 4 giai đoạn: (i) Xã hội tiền công nghiệp với nền kinh tế địa phương gồm các đơn vị có quy mô nhỏ, phân tán, các chủ thể kinh tế (dân cư và hàng hoá) có tính di động thấp; (ii) Giai đoạn tập trung: nền kinh tế bắt đầu có sự tích tụ vốn và tăng trưởng từ các khu vực ngoại vi vào khu vực trung tâm. Sự dịch chuyển lao động liên vùng và cường độ thương mại tăng lên rất nhiều. Tuy nhiên, lực lượng lao động hàng ngày vẫn còn không gian, vì sự di chuyển cá nhân của người dân vẫn còn hạn chế.
Ngoại vi hoàn toàn phụ thuộc vào trung tâm về chính trị và kinh tế. Các ngành công nghiệp tạo ra giá trị gia tăng cao nhất nằm trong khu vực cốt lõi; (iii) Tăng trưởng kinh tế lan rộng khắp cả nước: giai đoạn này các trung tâm tăng trưởng khác xuất hiện. Nguyên nhân chính của việc phân rã là thiếu nhân lực và giá cả leo thang trong vùng lõi. Hơn nữa, sự phân rã các đơn vị kinh tế và dân số (nơi ở) cũng diễn ra trong phạm vi khu vực đô thị: cường độ di chuyển hàng ngày cá nhân của người dân và khoảng cách giữa nơi làm việc và gia đình tăng lên.
Tuy nhiên, sự tăng trưởng của các khu vực đô thị và ngoại vi từ xa tiếp tục giảm; (iv) Sự hội nhập không gian của nền kinh tế và đạt được sự cân bằng: Friedmann tin rằng việc phân bổ các hoạt động kinh tế cần đạt được sự cân bằng và cân bằng tối ưu. Điều đó không có nghĩa là thương mại và tính di động của dân số sẽ giảm. Ngược lại, xét về các lĩnh vực khác nhau chuyên về các chức năng nhất định, sẽ có sự phân công lao động giữa các vùng. Một mô hình tích hợp cho thấy một phong trào theo chu kỳ của dân số chủ yếu là do tuổi tác: nghiên cứu thanh niên ở các thành phố lớn, gia đình định cư ở ngoại ô, người cao tuổi tìm kiếm môi trường nông thôn giá rẻ và hòa bình.
Tương tự với lý thuyết của các tác giả trên, Krugman, P. (1991) đã khởi xướng lý thuyết Địa Kinh tế Mới (NEG) với nghiên cứu “Lợi nhuận tăng dần và Địa kinh tế” nhằm lý giải về sự tập trung công nghiệp và lao động theo vùng. Sau đó nhóm tác giả Fujita, M, Krugman và Venables, A. (FKV) (1999) tổng kết lý luận địa kinh tế mới trong cuốn sách “Kinh tế không gian - Các thành phố, các vùng và thương mại quốc tế” để trả lời câu hỏi “Các hoạt động kinh tế diễn ra ở đâu và tại sao lại ở đó?”.
Theo nhóm tác giả này, hầu hết các hoạt động kinh tế đều tập trung về phương diện địa lý và sự tập trung này có thể tạo ra các khu vực có thị trường lớn, tập trung nhiều nhà sản xuất. Nếu khu vực này có sức hút đủ mạnh sẽ trở thành các “trung tâm kinh tế” do lực hướng tâm và các vùng xung quanh sẽ trở thành “ngoại vi” do lực ly tâm thông qua các cơ chế lan toả thông tin. Ngoài kiểu liên kết không gian nêu trên, có nhiều nghiên cứu tập trung vào liên kết giữa đô thị và nông thôn. Chẳng hạn Douglass (1998) đã lập luận rằng phát triển nông thôn có thể đạt được tốt nhất bằng cách kết nối với phát triển đô thị ở cấp địa 15 phương.
Ông nhận ra rằng, quan hệ giữa nông thôn và đô thị được xem như là tăng cường lẫn nhau chứ không phải là mối quan hệ nhân quả một chiều. Hay Davoudi và Stead (2002) thừa nhận rằng các vùng nông thôn và thành thị phụ thuộc lẫn nhau và được kết nối thông qua nhiều dòng chảy, bao gồm con người, vốn, hàng hoá, công nghệ và cả thông tin. Trong đó, dòng người giữa đô thị và nông thôn có thể bao gồm lao động theo mùa làm việc của các doanh nghiệp nông nghiệp. Các dòng vốn có thể là tiền thuê được thu được bởi các doanh nhân nông thôn, những người bán sản phẩm của họ ngoài khu vực của họ.
Dòng hàng có thể là các sản phẩm và dịch vụ được phát triển và sản xuất tại một địa điểm nông thôn nhưng được cung cấp ở khu vực thành thị. Cuối cùng, luồng thông tin có thể bao gồm kiến thức, ý tưởng, thông tin chi tiết… có thể bắt nguồn từ một vị trí đô thị, nhưng có thể được sử dụng bởi các nhà sản xuất ở nông thôn. OECD (2013) cũng khẳng định giữa khu vực thành thị và nông thôn kết nối với nhau thông qua nhiều loại liên kết khác nhau, bao gồm liên kết nhân khẩu học (dân số, vốn con người, di dân), các giao dịch kinh tế và đầu tư, cung cấp lương thực, trao đổi hàng hoá tiện nghi và môi trường và phối hợp giữa các chính quyền. Nhóm thứ hai, LKKT là liên kết ngành và liên ngành xuất phát từ mối quan hệ nhu cầu đầu vào - đầu ra.
Cách tiếp cận này bắt nguồn từ nghiên cứu của Hirschman (1958). Khi nghiên cứu LKKT vùng ông đã sử dụng khái niệm “liên kết ngược” (backward linkages, upstream linkages) và “liên kết xuôi” (forward linkages, downstream linkages). Ông cho rằng liên kết ngược là do sự tăng trưởng của một tập hợp các ngành công nghiệp kích thích sự phát triển của các nhóm ngành khác, cung cấp nguyên liệu cho nó. Chẳng hạn như khi một nhà máy thép được thành lập, sẽ kích thích nhu cầu phế liệu thép, than đá và các hàng hoá có liên quan khác, do vậy, sản xuất các mặt hàng này sẽ tăng lên.
Đồng thời, liên kết xuôi là sự tăng trưởng của một số ngành công nghiệp là do sự tăng trưởng ban đầu của các nhà cung cấp nguyên liệu. Ví dụ việc mở rộng ngành công nghiệp thép sẽ khuyến khích các nhà máy công nghiệp chế tạo máy móc, dụng cụ… bằng cách sử dụng thép làm đầu vào cơ bản của họ… Nghiên cứu này của Hirschman tạo điều kiện cho việc lựa chọn các hoạt động thông qua đó sẽ tạo ra tăng trưởng với sự mất cân bằng trong hệ thống, các ngành công nghiệp có mối liên kết tối đa phải được phát triển trước. Bên cạnh kiểu liên kết sản xuất nói trên, Hirschman còn đề cập đến kiểu liên kết trong tiêu dùng. Tuy nhiên Hirschman cho rằng không giống như hiệu ứng tích cực trong liên kết sản xuất, liên kết tiêu dùng có thể mang lại hiệu ứng tiêu cực ví dụ như “sự suy tàn của các nghề thủ công khi thu nhập tăng lên, do có sự chuyển hướng trong 16 tiêu dùng” (Hirschman, 1977).
Khái niệm liên kết xuôi và liên kết ngược của Hirschman được mở rộng và nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Nghiên cứu của Harthoorn, R và Wossink. G (1987) về ảnh hưởng của ngành nông nghiệp đến các ngành công nghiệp trong nền kinh tế. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng bảng cân đối liên ngành I-O để tính toán các tác động ngược và xuôi của ngành nông nghiệp Hà Lan đối với gia tăng xuất khẩu nông sản và tiêu dùng sản phẩm nông sản, bao gồm tất cả các tác động gián tiếp.
Nghiên cứu của Vogel, J.S (1994) về tác động của sự thay đổi cơ cấu của ngành nông nghiệp đến việc thực hiện công nghiệp hoá của các quốc gia thông qua liên kết giữa sản xuất nông nghiệp với các ngành còn lại trong nền kinh tế. và cộng sự (2006) cũng đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngành du lịch với các ngành có liên hệ ngược và liên hệ xuôi trong nền kinh tế của Hawaii. Nhóm thứ ba, LKKT vùng là liên kết giữa các doanh nghiệp trong một không gian nhất định hình thành nên các kiểu liên kết như cụm, liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài.