Luận án tiến sỹ về nghiên cứu liên kết kinh tế trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

Luận án tiến sỹ nghiên cứu liên kết kinh tế trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, phân tích tiềm năng và thách thức phát triển bền vững.

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sỹ

2018

188
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ LIÊN KẾT KINH TẾ VÙNG

1.1. Các nghiên cứu ngoài nước

1.1.1. Về nội hàm liên kết kinh tế vùng

1.1.2. Tiêu chí đo lường liên kết kinh tế vùng

1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế vùng

1.2. Các nghiên cứu trong nước

1.2.1. Nội hàm LKKT vùng

1.2.2. Tiêu chí đánh giá liên kết kinh tế vùng

1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế vùng

1.3. Đánh giá tổng quan các nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu

1.4. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA LIÊN KẾT KINH TẾ TRONG VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM

2.1. Cơ sở lý luận liên kết kinh tế vùng

2.1.1. Vùng và liên kết kinh tế vùng

2.1.2. Cơ sở lý luận về liên kết kinh tế vùng và phát triển vùng kinh tế trọng điểm

2.2. Khung nghiên cứu liên kết kinh tế vùng kinh tế trọng điểm

2.2.1. Các yêu cầu đặt ra với liên kết kinh tế vùng kinh tế trọng điểm

2.2.2. Nội dung và hình thức (mô hình) liên kết kinh tế trong vùng kinh tế trọng điểm

2.2.3. Đánh giá liên kết kinh tế vùng

2.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng liên kết kinh tế vùng kinh tế trọng điểm

2.3. Kinh nghiệm thực hiện liên kết kinh tế vùng của một số nước

2.3.1. Thực hiện liên kết kinh tế vùng dựa trên cụm liên kết ngành của Nhật Bản

2.3.2. Thực hiện liên kết kinh tế vùng dựa trên cụm liên kết ngành của Hàn Quốc

2.3.3. Thực hiện liên kết kinh tế vùng dựa trên chuỗi giá trị của Thái Lan

2.3.4. Những kết luận rút ra từ các mô hình liên kết kinh tế vùng trong thực tiễn

2.4. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG LIÊN KẾT KINH TẾ TRONG VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM MIỀN TRUNG

3.1. Tổng quan về vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

3.1.1. Quá trình hình thành vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

3.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế xã hội vùng kinh tế trọng điểm miền Trung giai đoạn 2011-2016

3.2. Thực trạng liên kết kinh tế vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

3.2.1. Đo lường tổng quát mức độ liên kết kinh tế toàn vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

3.2.2. Thực trạng mức độ thực hiện các nội dung liên kết kinh tế vùng trong một số ngành của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

3.2.3. Thực trạng đảm bảo các yêu cầu của liên kết kinh tế vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

3.3. Đánh giá liên kết kinh tế vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và nguyên nhân

3.3.1. Các kết quả đạt được trong liên kết kinh tế vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

3.3.2. Những hạn chế trong liên kết kinh tế vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

3.3.3. Nguyên nhân của các hạn chế

3.4. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG LIÊN KẾT KINH TẾ VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM MIỀN TRUNG

4.1. Các căn cứ định hướng tăng cường liên kết kinh tế vùng KTTĐ miền Trung

4.1.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước. Mục tiêu phát triển vùng KTTĐ miền Trung đến 2020, tầm nhìn đến 2030

4.1.2. Mục tiêu liên kết vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

4.2. Quan điểm và định hướng tăng cường liên kết kinh tế vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

4.2.1. Quan điểm tăng cường liên kết kinh tế vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

4.2.2. Định hướng tăng cường liên kết kinh tế vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

4.2.3. Đề xuất một số mô hình liên kết kinh tế vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

4.3. Một số giải pháp tăng cường liên kết kinh tế vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

4.3.1. Đổi mới tư duy và nhận thức về liên kết kinh tế vùng

4.3.2. Hoàn thiện các điều kiện thực hiện liên kết kinh tế vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung

4.3.3. Hoàn thiện khung pháp lý thực hiện liên kết kinh tế vùng Kinh tế trọng điểm

4.3.4. Hoàn thiện bộ máy điều phối vùng

4.3.5. Tăng cường các chính sách khuyến khích liên kết kinh tế vùng

4.4. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về liên kết kinh tế vùng miền Trung Thực trạng hiện nay

Liên kết kinh tế vùng miền Trung đã trở thành một chủ đề quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Vùng miền Trung, với nhiều tiềm năng phát triển, đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc thực hiện các chính sách liên kết kinh tế. Thực trạng hiện nay cho thấy sự thiếu hụt trong việc kết nối giữa các tỉnh thành, dẫn đến hiệu quả kinh tế chưa cao. Theo số liệu thống kê, mật độ kinh tế của vùng miền Trung vẫn thấp hơn so với các vùng khác trong cả nước.

1.1. Đặc điểm kinh tế vùng miền Trung và tiềm năng phát triển

Vùng miền Trung có vị trí địa lý chiến lược, với nhiều tài nguyên thiên nhiên phong phú. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng. Các ngành kinh tế chủ lực như du lịch, nông nghiệp và công nghiệp chế biến cần được phát triển mạnh mẽ hơn.

1.2. Vai trò của liên kết kinh tế trong phát triển vùng miền Trung

Liên kết kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa nguồn lực và phát huy lợi thế cạnh tranh của từng địa phương. Việc tăng cường hợp tác giữa các tỉnh thành sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và thúc đẩy phát triển bền vững.

II. Thách thức trong liên kết kinh tế vùng miền Trung Những vấn đề cần giải quyết

Mặc dù có nhiều tiềm năng, nhưng liên kết kinh tế vùng miền Trung vẫn gặp phải nhiều thách thức. Sự thiếu hụt trong cơ sở hạ tầng, chính sách chưa đồng bộ và sự cạnh tranh giữa các tỉnh thành là những vấn đề chính. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc thiếu liên kết nội vùng đã dẫn đến sự phát triển không đồng đều và hiệu quả kinh tế thấp.

2.1. Thiếu hụt cơ sở hạ tầng và chính sách hỗ trợ

Cơ sở hạ tầng yếu kém là một trong những nguyên nhân chính cản trở sự phát triển kinh tế. Các chính sách hỗ trợ từ chính phủ cần được cải thiện để tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động liên kết.

2.2. Sự cạnh tranh giữa các tỉnh thành trong thu hút đầu tư

Mỗi tỉnh thành đều có những ưu thế riêng, nhưng sự cạnh tranh không lành mạnh trong việc thu hút đầu tư đã dẫn đến tình trạng phân tán nguồn lực và không phát huy được lợi thế so sánh.

III. Giải pháp phát triển liên kết kinh tế vùng miền Trung Hướng đi nào cho tương lai

Để tăng cường liên kết kinh tế vùng miền Trung, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Việc xây dựng khung pháp lý rõ ràng, cải thiện cơ sở hạ tầng và tăng cường hợp tác giữa các tỉnh thành là những yếu tố quan trọng. Các mô hình liên kết kinh tế thành công từ các nước khác cũng có thể được áp dụng để cải thiện tình hình.

3.1. Xây dựng khung pháp lý và chính sách hỗ trợ

Cần thiết lập một khung pháp lý rõ ràng để tạo điều kiện cho các hoạt động liên kết kinh tế. Các chính sách hỗ trợ cần được điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của từng địa phương.

3.2. Tăng cường hợp tác giữa các tỉnh thành

Việc thiết lập các diễn đàn hợp tác giữa các tỉnh thành sẽ giúp tăng cường sự kết nối và chia sẻ kinh nghiệm. Các chương trình hợp tác cần được triển khai để phát huy tối đa lợi thế của từng địa phương.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về liên kết kinh tế vùng miền Trung

Nghiên cứu về liên kết kinh tế vùng miền Trung đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực từ các mô hình liên kết thành công. Các dự án hợp tác trong lĩnh vực du lịch, nông nghiệp và công nghiệp chế biến đã mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục theo dõi và đánh giá để điều chỉnh kịp thời.

4.1. Các mô hình liên kết thành công trong lĩnh vực du lịch

Mô hình liên kết giữa các tỉnh thành trong lĩnh vực du lịch đã cho thấy hiệu quả rõ rệt. Các chương trình quảng bá chung và phát triển sản phẩm du lịch liên vùng đã thu hút được nhiều du khách.

4.2. Kết quả từ các dự án hợp tác nông nghiệp

Các dự án hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp đã giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Việc chia sẻ công nghệ và kinh nghiệm giữa các tỉnh thành đã tạo ra những bước tiến đáng kể.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho liên kết kinh tế vùng miền Trung

Liên kết kinh tế vùng miền Trung cần được tăng cường để phát huy tối đa tiềm năng phát triển. Các giải pháp cần được triển khai đồng bộ và hiệu quả, nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi và bền vững. Tương lai của liên kết kinh tế vùng miền Trung phụ thuộc vào sự hợp tác chặt chẽ giữa các tỉnh thành và sự hỗ trợ từ chính phủ.

5.1. Tầm quan trọng của liên kết kinh tế trong phát triển bền vững

Liên kết kinh tế không chỉ giúp tối ưu hóa nguồn lực mà còn tạo ra sự phát triển bền vững cho vùng miền Trung. Việc phát huy lợi thế cạnh tranh sẽ giúp nâng cao vị thế của vùng trên bản đồ kinh tế quốc gia.

5.2. Định hướng phát triển liên kết kinh tế trong tương lai

Cần có những định hướng rõ ràng cho việc phát triển liên kết kinh tế trong tương lai. Các chính sách cần được điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của từng địa phương, từ đó tạo ra sự phát triển đồng bộ và bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

27/07/2025
Luận án tiến sỹ nghiên cứu liên kết kinh tế trong vùng kinh tế trọng điểm miền trung

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ LIÊN KẾT KINH TẾ VÙNG 1.1 Các nghiên cứu ngoài nước Trên thế giới, hệ thống lý thuyết vùng trong đó có vấn đề LKKT đã bắt đầu hình thành và phát triển từ những năm 1950. Chính vì vậy có rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện. Trong luận án này chỉ tổng quan các nghiên cứu điển hình, có những ảnh hưởng lớn đến lĩnh vực nghiên cứu LKKT vùng.1 Về nội hàm liên kết kinh tế vùng Mặc dù đã được nghiên cứu từ rất lâu, tuy nhiên đến nay các quan niệm về LKKT vùng vẫn được tiếp cận theo các góc độ khác nhau, theo nghiên cứu của luận án, có thể chia các quan niệm về LKKT vùng thành ba nhóm chính như sau: Nhóm thứ nhất, LKKT vùng là kết nối các hoạt động kinh tế theo không gian do tác động của hiệu ứng lan toả từ “vùng trung tâm” hay “cực tăng trưởng” đến các khu vực xung quanh. Cách tiếp cận này xuất phát từ nghiên cứu của Perroux, F.

(1955) với lý thuyết về “cực tăng trưởng”. Perroux cho rằng: “Tăng trưởng không xuất hiện ở mọi nơi và tất cả cùng một lúc, nó xuất hiện ở các điểm hoặc các cực phát triển, với cường độ biến đổi, nó lan rộng theo các kênh khác nhau và với các hiệu ứng đầu cuối khác nhau cho toàn bộ nền kinh tế”. Nghĩa là một số nơi có lợi thế hơn sẽ phát triển hơn những điểm còn lại trở thành “cực tăng trưởng” từ đó phát ra các lực ly tâm và lực hướng tâm, do đó hình thành một tập hợp các LKKT giữa “cực tăng trưởng” với các khu vực xung quanh. Trong nghiên cứu của mình, Perroux định nghĩa cực tăng trưởng là “không gian kinh tế trừu tượng”, là “các trung tâm, hoặc các cực, các tâm điểm”, vì vậy ông quan niệm có sự khác biệt giữa không gian kinh tế và khu vực địa lý như một vùng hoặc một thành phố, theo ông các cực có thể là các công ty, các ngành công nghiệp hoặc các nhóm công ty.

Xuất phát từ khái niệm “cực tăng trưởng” của Perroux (1955) nhưng Boudeville (1966) đã đưa không gian địa lý vào không gian kinh tế của Perroux. Ông xác định các khu đô thị chính là các cực tăng trưởng, là nơi tập trung một tập hợp các ngành công nghiệp dựa vào các ngành công nghiệp dựa trên công nghệ và đổi mới, phát triển các nguồn tài nguyên chủ đạo như quặng sắt hoặc các sản phẩm nông nghiệp từ khu vực xung quanh. Sự tập trung của các ngành công nghiệp thường ảnh hưởng đến nền kinh tế của các khu vực địa lý bên ngoài khu vực trung tâm. Như vậy, LKKT vùng được tạo ra do sự tương tác giữa cực tăng trưởng với các vùng nằm trong ảnh hưởng của nó.

14 Mô hình “trung tâm - ngoại vi” của Friedmann (1966) cũng tương đối thống nhất với quan niệm của Boudeville (1966). Ông chia quá trình phát triển trong không gian kinh tế thành 4 giai đoạn: (i) Xã hội tiền công nghiệp với nền kinh tế địa phương gồm các đơn vị có quy mô nhỏ, phân tán, các chủ thể kinh tế (dân cư và hàng hoá) có tính di động thấp; (ii) Giai đoạn tập trung: nền kinh tế bắt đầu có sự tích tụ vốn và tăng trưởng từ các khu vực ngoại vi vào khu vực trung tâm. Sự dịch chuyển lao động liên vùng và cường độ thương mại tăng lên rất nhiều. Tuy nhiên, lực lượng lao động hàng ngày vẫn còn không gian, vì sự di chuyển cá nhân của người dân vẫn còn hạn chế.

Ngoại vi hoàn toàn phụ thuộc vào trung tâm về chính trị và kinh tế. Các ngành công nghiệp tạo ra giá trị gia tăng cao nhất nằm trong khu vực cốt lõi; (iii) Tăng trưởng kinh tế lan rộng khắp cả nước: giai đoạn này các trung tâm tăng trưởng khác xuất hiện. Nguyên nhân chính của việc phân rã là thiếu nhân lực và giá cả leo thang trong vùng lõi. Hơn nữa, sự phân rã các đơn vị kinh tế và dân số (nơi ở) cũng diễn ra trong phạm vi khu vực đô thị: cường độ di chuyển hàng ngày cá nhân của người dân và khoảng cách giữa nơi làm việc và gia đình tăng lên.

Tuy nhiên, sự tăng trưởng của các khu vực đô thị và ngoại vi từ xa tiếp tục giảm; (iv) Sự hội nhập không gian của nền kinh tế và đạt được sự cân bằng: Friedmann tin rằng việc phân bổ các hoạt động kinh tế cần đạt được sự cân bằng và cân bằng tối ưu. Điều đó không có nghĩa là thương mại và tính di động của dân số sẽ giảm. Ngược lại, xét về các lĩnh vực khác nhau chuyên về các chức năng nhất định, sẽ có sự phân công lao động giữa các vùng. Một mô hình tích hợp cho thấy một phong trào theo chu kỳ của dân số chủ yếu là do tuổi tác: nghiên cứu thanh niên ở các thành phố lớn, gia đình định cư ở ngoại ô, người cao tuổi tìm kiếm môi trường nông thôn giá rẻ và hòa bình.

Tương tự với lý thuyết của các tác giả trên, Krugman, P. (1991) đã khởi xướng lý thuyết Địa Kinh tế Mới (NEG) với nghiên cứu “Lợi nhuận tăng dần và Địa kinh tế” nhằm lý giải về sự tập trung công nghiệp và lao động theo vùng. Sau đó nhóm tác giả Fujita, M, Krugman và Venables, A. (FKV) (1999) tổng kết lý luận địa kinh tế mới trong cuốn sách “Kinh tế không gian - Các thành phố, các vùng và thương mại quốc tế” để trả lời câu hỏi “Các hoạt động kinh tế diễn ra ở đâu và tại sao lại ở đó?”.

Theo nhóm tác giả này, hầu hết các hoạt động kinh tế đều tập trung về phương diện địa lý và sự tập trung này có thể tạo ra các khu vực có thị trường lớn, tập trung nhiều nhà sản xuất. Nếu khu vực này có sức hút đủ mạnh sẽ trở thành các “trung tâm kinh tế” do lực hướng tâm và các vùng xung quanh sẽ trở thành “ngoại vi” do lực ly tâm thông qua các cơ chế lan toả thông tin. Ngoài kiểu liên kết không gian nêu trên, có nhiều nghiên cứu tập trung vào liên kết giữa đô thị và nông thôn. Chẳng hạn Douglass (1998) đã lập luận rằng phát triển nông thôn có thể đạt được tốt nhất bằng cách kết nối với phát triển đô thị ở cấp địa 15 phương.

Ông nhận ra rằng, quan hệ giữa nông thôn và đô thị được xem như là tăng cường lẫn nhau chứ không phải là mối quan hệ nhân quả một chiều. Hay Davoudi và Stead (2002) thừa nhận rằng các vùng nông thôn và thành thị phụ thuộc lẫn nhau và được kết nối thông qua nhiều dòng chảy, bao gồm con người, vốn, hàng hoá, công nghệ và cả thông tin. Trong đó, dòng người giữa đô thị và nông thôn có thể bao gồm lao động theo mùa làm việc của các doanh nghiệp nông nghiệp. Các dòng vốn có thể là tiền thuê được thu được bởi các doanh nhân nông thôn, những người bán sản phẩm của họ ngoài khu vực của họ.

Dòng hàng có thể là các sản phẩm và dịch vụ được phát triển và sản xuất tại một địa điểm nông thôn nhưng được cung cấp ở khu vực thành thị. Cuối cùng, luồng thông tin có thể bao gồm kiến thức, ý tưởng, thông tin chi tiết… có thể bắt nguồn từ một vị trí đô thị, nhưng có thể được sử dụng bởi các nhà sản xuất ở nông thôn. OECD (2013) cũng khẳng định giữa khu vực thành thị và nông thôn kết nối với nhau thông qua nhiều loại liên kết khác nhau, bao gồm liên kết nhân khẩu học (dân số, vốn con người, di dân), các giao dịch kinh tế và đầu tư, cung cấp lương thực, trao đổi hàng hoá tiện nghi và môi trường và phối hợp giữa các chính quyền. Nhóm thứ hai, LKKT là liên kết ngành và liên ngành xuất phát từ mối quan hệ nhu cầu đầu vào - đầu ra.

Cách tiếp cận này bắt nguồn từ nghiên cứu của Hirschman (1958). Khi nghiên cứu LKKT vùng ông đã sử dụng khái niệm “liên kết ngược” (backward linkages, upstream linkages) và “liên kết xuôi” (forward linkages, downstream linkages). Ông cho rằng liên kết ngược là do sự tăng trưởng của một tập hợp các ngành công nghiệp kích thích sự phát triển của các nhóm ngành khác, cung cấp nguyên liệu cho nó. Chẳng hạn như khi một nhà máy thép được thành lập, sẽ kích thích nhu cầu phế liệu thép, than đá và các hàng hoá có liên quan khác, do vậy, sản xuất các mặt hàng này sẽ tăng lên.

Đồng thời, liên kết xuôi là sự tăng trưởng của một số ngành công nghiệp là do sự tăng trưởng ban đầu của các nhà cung cấp nguyên liệu. Ví dụ việc mở rộng ngành công nghiệp thép sẽ khuyến khích các nhà máy công nghiệp chế tạo máy móc, dụng cụ… bằng cách sử dụng thép làm đầu vào cơ bản của họ… Nghiên cứu này của Hirschman tạo điều kiện cho việc lựa chọn các hoạt động thông qua đó sẽ tạo ra tăng trưởng với sự mất cân bằng trong hệ thống, các ngành công nghiệp có mối liên kết tối đa phải được phát triển trước. Bên cạnh kiểu liên kết sản xuất nói trên, Hirschman còn đề cập đến kiểu liên kết trong tiêu dùng. Tuy nhiên Hirschman cho rằng không giống như hiệu ứng tích cực trong liên kết sản xuất, liên kết tiêu dùng có thể mang lại hiệu ứng tiêu cực ví dụ như “sự suy tàn của các nghề thủ công khi thu nhập tăng lên, do có sự chuyển hướng trong 16 tiêu dùng” (Hirschman, 1977).

Khái niệm liên kết xuôi và liên kết ngược của Hirschman được mở rộng và nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Nghiên cứu của Harthoorn, R và Wossink. G (1987) về ảnh hưởng của ngành nông nghiệp đến các ngành công nghiệp trong nền kinh tế. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng bảng cân đối liên ngành I-O để tính toán các tác động ngược và xuôi của ngành nông nghiệp Hà Lan đối với gia tăng xuất khẩu nông sản và tiêu dùng sản phẩm nông sản, bao gồm tất cả các tác động gián tiếp.

Nghiên cứu của Vogel, J.S (1994) về tác động của sự thay đổi cơ cấu của ngành nông nghiệp đến việc thực hiện công nghiệp hoá của các quốc gia thông qua liên kết giữa sản xuất nông nghiệp với các ngành còn lại trong nền kinh tế. và cộng sự (2006) cũng đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngành du lịch với các ngành có liên hệ ngược và liên hệ xuôi trong nền kinh tế của Hawaii. Nhóm thứ ba, LKKT vùng là liên kết giữa các doanh nghiệp trong một không gian nhất định hình thành nên các kiểu liên kết như cụm, liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ