Tìm hiểu làng nghề gốm gia thủy xã gia thuỷ huyệnnhoquan tỉnh ninh bình từ năm 2007 đến năm 2023

Nghiên cứu làng nghề gốm Gia Thủy, Nho Quan, Ninh Bình giai đoạn 2007-2023. Tìm hiểu lịch sử, phát triển, giá trị văn hóa và giải pháp bảo tồn làng nghề.

Trường đại học

Trường Đại Học Hoa Lư

Chuyên ngành

Sư Phạm Lịch Sử - Địa Lí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo kết quả thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên

2024

89
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và tính cấp thiết của đề tài

0.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

0.3. Tính cấp thiết của đề tài

0.4. Mục tiêu nghiên cứu

0.5. Đối tượng nghiên cứu

0.6. Phạm vi nghiên cứu

0.7. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

0.7.1. Cách tiếp cận

0.7.2. Phương pháp nghiên cứu

0.8. Cấu trúc của đề tài

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1. Lí luận chung về làng nghề và làng nghề truyền thống

1.1.1. Khái niệm làng nghề và làng nghề truyền thống

1.2. Phân loại làng nghề và làng nghề truyền thống

1.3. Nguồn gốc hình thành làng nghề

1.4. Tiêu chí làng nghề truyền thống

1.5. Vai trò, vị trí của làng nghề truyền thống trong xã hội hiện nay

1.6. Khái quát về xã Gia Thuỷ

1.6.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên xã Gia Thuỷ

1.6.2. Kinh tế, xã hội xã Gia Thuỷ

1.6.3. Lịch sử, truyền thống xã Gia Thuỷ

1.7. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: LÀNG NGHỀ GỐM GIA THUỶ (XÃ GIA THUỶ, HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH) TỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2023

2.1. Khái quát sự ra đời của gốm Gia Thủy

2.1.1. Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1958

2.1.2. Giai đoạn từ năm 1958 đến năm 1990

2.1.3. Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2007

2.2. Quá trình phát triển của làng nghề gốm Gia Thủy từ năm 2007 đến năm 2023

2.2.1. Giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2012

2.2.2. Giai đoạn từ năm 2012 đến nay

2.3. Giá trị, vai trò của làng nghề gốm Gia Thủy đối với sự phát triển của địa phương

2.3.1. Giá trị văn hóa làng nghề

2.3.2. Vai trò của làng nghề gốm Gia Thủy đối với sự phát triển của địa phương

2.4. Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề gốm Gia Thuỷ

2.5. Tiểu kết chương 2

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám phá Làng Nghề Gốm Gia Thủy Tổng quan 2007 2023

Việt Nam tự hào với hệ thống làng nghề phong phú, chứa đựng giá trị văn hóa và kinh tế sâu sắc. Nghiên cứu, bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống luôn là ưu tiên hàng đầu. Làng nghề gốm Gia Thủy, Ninh Bình, với lịch sử hơn 60 năm, là minh chứng cho sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và sáng tạo. Nghiên cứu này tập trung vào giai đoạn 2007-2023, giai đoạn có nhiều biến động và thách thức đối với làng nghề. Các công trình nghiên cứu trước đây đã đề cập đến một số khía cạnh của làng nghề nói chung và làng nghề gốm Gia Thủy nói riêng. Nhóm nghiên cứu coi những công trình trên là tư liệu quan trọng để kế thừa. Tuy nhiên, cần có một nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện hơn về quá trình phát triển, các giá trị văn hóa, kinh tế và các giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề trong bối cảnh hiện đại. Theo Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Ninh Bình, làng nghề gốm có vai trò quan trọng trong việc gìn giữ di sản văn hóa địa phương.

1.1. Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên của làng gốm Gia Thủy

Làng gốm Gia Thủy thuộc xã Gia Thủy, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Vị trí này có ý nghĩa quan trọng trong việc tiếp cận nguồn nguyên liệu nguyên liệu làm gốm Gia Thủy đất sét, nguồn nước. Điều kiện tự nhiên của khu vực cũng ảnh hưởng đến quy trình làm gốm Gia Thủy, từ phơi khô đến nung đốt. Nghiên cứu cần làm rõ mối liên hệ giữa địa lý, tự nhiên và sự hình thành, phát triển của làng nghề.

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của làng nghề gốm Gia Thủy

Lịch sử làng gốm Gia Thủy trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm. Từ những năm đầu hình thành sau năm 1954, đến giai đoạn phát triển mạnh mẽ từ 1990-2007, và giai đoạn từ 2007-2023. Nghiên cứu cần làm rõ các mốc lịch sử quan trọng, những biến đổi về kỹ thuật, sản phẩm và thị trường tiêu thụ, đặc biệt là trong giai đoạn 2007-2023.

1.3. Giá trị văn hóa và kinh tế của làng nghề gốm Gia Thủy

Làng gốm Gia Thủy không chỉ là nơi sản xuất sản phẩm gốm Gia Thủy, mà còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa làng nghề Việt Nam truyền thống. Nghề gốm tạo công ăn việc làm, thu nhập cho người dân địa phương, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của xã Gia Thủy. Nghiên cứu cần đánh giá đúng mức những đóng góp của làng nghề đối với địa phương.

II. Thách thức của Gốm Gia Thủy Giữ nghề truyền thống 2007 2023

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển của công nghiệp hiện đại, các làng nghề truyền thống đang đối mặt với nhiều thách thức. Sự cạnh tranh từ các sản phẩm công nghiệp, sự thay đổi trong thị hiếu của người tiêu dùng, nguy cơ mai một các kỹ thuật truyền thống, vấn đề ô nhiễm môi trường và sự thiếu hụt nguồn nhân lực là những vấn đề bức thiết cần được giải quyết. Để thế hệ trẻ sau này hiểu được và tiếp tục phát triển các làng nghề truyền thống, gìn giữ những giá trị văn hoá của làng nghề thủ công, ngoài ra còn để tạo công ăn việc làm cho nhiều người lao động thì vấn đề tìm hiểu từ đó đưa ra các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề đang rất được quan tâm.

2.1. Cạnh tranh thị trường và sự thay đổi trong thị hiếu tiêu dùng

Sự xuất hiện của các sản phẩm gốm sứ Ninh Bình công nghiệp với mẫu mã đa dạng, giá thành rẻ tạo ra áp lực lớn đối với sản phẩm gốm Gia Thủy. Thị hiếu của người tiêu dùng cũng thay đổi, đòi hỏi các sản phẩm gốm phải có sự đổi mới về thiết kế, tính năng. Cần nghiên cứu kỹ lưỡng thị trường và nhu cầu của người tiêu dùng để có những điều chỉnh phù hợp.

2.2. Nguy cơ mai một kỹ thuật làm gốm truyền thống

Các kỹ thuật làm gốm truyền thống được truyền từ đời này sang đời khác. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố, như sự thiếu quan tâm của thế hệ trẻ, sự khó khăn trong việc tìm kiếm nguyên liệu, nhiều kỹ thuật đang dần bị mai một. Cần có các biện pháp bảo tồn, phục hồi và truyền dạy các kỹ thuật này.

2.3. Vấn đề ô nhiễm môi trường trong sản xuất gốm

Quá trình sản xuất gốm Gia Thủy có thể gây ra ô nhiễm môi trường do khí thải từ lò nung, nước thải từ quá trình sản xuất. Cần có các giải pháp xử lý chất thải, sử dụng nhiên liệu sạch hơn để giảm thiểu tác động đến môi trường.

III. Phương pháp Bảo tồn Bí quyết giữ hồn Gốm Gia Thủy 2023

Bảo tồn và phát triển làng nghề gốm Gia Thủy đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa bảo tồn những giá trị truyền thống và đổi mới sáng tạo để thích ứng với bối cảnh hiện đại. Cần có một chiến lược toàn diện, bao gồm các giải pháp về bảo tồn văn hóa, phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu và phát triển du lịch. Để thế hệ trẻ sau này hiểu được và tiếp tục phát triển các làng nghề truyền thống, gìn giữ những giá trị văn hoá của làng nghề thủ công, ngoài ra còn để tạo công ăn việc làm cho nhiều người lao động thì vấn đề tìm hiểu từ đó đưa ra các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề đang rất được quan tâm.

3.1. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của làng nghề

Các giá trị văn hóa phi vật thể như các nghi lễ, phong tục, tập quán liên quan đến nghề gốm cần được bảo tồn, ghi chép, phục dựng. Tổ chức các hoạt động văn hóa, lễ hội để quảng bá văn hóa làng nghề Ninh Bình.

3.2. Nâng cao chất lượng sản phẩm và đa dạng hóa mẫu mã

Cần đầu tư vào công nghệ sản xuất, nâng cao tay nghề cho người lao động để tạo ra những sản phẩm gốm mỹ nghệ chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của thị trường. Đồng thời, cần đa dạng hóa mẫu mã, thiết kế để tạo ra những sản phẩm độc đáo, mang bản sắc riêng của gốm Gia Thủy.

3.3. Xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường

Xây dựng thương hiệu gốm Gia Thủy gắn liền với câu chuyện lịch sử, văn hóa của làng nghề. Sử dụng các kênh truyền thông, quảng bá để giới thiệu sản phẩm đến thị trường trong nước và quốc tế. Phát triển các kênh phân phối đa dạng, từ cửa hàng truyền thống đến bán hàng trực tuyến.

IV. Phát triển Du lịch Hướng đi mới cho Làng Gốm Gia Thủy

Phát triển du lịch làng nghề Ninh Bình là một hướng đi tiềm năng để bảo tồn và phát triển làng nghề gốm Gia Thủy. Du lịch không chỉ mang lại nguồn thu nhập cho người dân địa phương mà còn giúp quảng bá văn hóa, sản phẩm của làng nghề đến du khách trong và ngoài nước. Sở Du lịch Ninh Bình đánh giá cao tiềm năng phát triển du lịch tại các làng nghề truyền thống.

4.1. Xây dựng các tour du lịch trải nghiệm làng nghề gốm Gia Thủy

Thiết kế các tour du lịch cho phép du khách tham quan xưởng sản xuất, tham gia vào quá trình làm gốm, gặp gỡ các nghệ nhân làng gốm Gia Thủy. Tạo ra những trải nghiệm thú vị, độc đáo để thu hút du khách.

4.2. Phát triển các sản phẩm du lịch đặc trưng từ gốm Gia Thủy

Sản xuất các sản phẩm quà tặng, đồ lưu niệm từ gốm Gia Thủy để phục vụ nhu cầu của du khách. Tổ chức các lớp học làm gốm để du khách tự tay tạo ra những sản phẩm độc đáo.

4.3. Kết nối làng gốm Gia Thủy với các điểm du lịch khác ở Ninh Bình

Xây dựng các tuyến du lịch kết nối làng gốm Gia Thủy với các điểm du lịch nổi tiếng khác ở Ninh Bình như Tràng An, Bái Đính, Tam Cốc - Bích Động để tạo ra một chuỗi sản phẩm du lịch hấp dẫn.

V. Ứng dụng Thực tiễn Thành công Bài học từ Gốm Gia Thủy

Nghiên cứu giai đoạn 2007-2023 cần đánh giá những thành công và hạn chế trong quá trình bảo tồn và phát triển làng nghề gốm Gia Thủy. Phân tích các yếu tố tác động đến sự phát triển của làng nghề, rút ra những bài học kinh nghiệm để có thể áp dụng cho các làng nghề khác. Tình hình kinh tế làng nghề có nhiều biến động trong giai đoạn này. Báo cáo của UBND xã Gia Thủy ghi nhận sự tăng trưởng ổn định nhờ các chính sách hỗ trợ.

5.1. Phân tích hiệu quả của các chính sách hỗ trợ làng nghề

Đánh giá hiệu quả của các chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với làng nghề gốm Gia Thủy. Xác định những chính sách nào hiệu quả, những chính sách nào cần điều chỉnh để phù hợp với thực tế.

5.2. Đánh giá tác động của du lịch đến sự phát triển của làng nghề

Đánh giá tác động của du lịch đến kinh tế, xã hội và văn hóa của làng nghề gốm Gia Thủy. Xác định những lợi ích và thách thức do du lịch mang lại.

5.3. Bài học kinh nghiệm từ các làng nghề gốm khác

Nghiên cứu kinh nghiệm của các làng nghề gốm nổi tiếng khác trong việc bảo tồn và phát triển. Rút ra những bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho làng gốm Gia Thủy.

VI. Tương lai Gốm Gia Thủy Phát triển bền vững sau 2023

Để làng nghề gốm Gia Thủy phát triển bền vững trong tương lai, cần có sự chung tay của các cấp chính quyền, người dân địa phương, các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Phát triển bền vững làng nghề phải gắn liền với bảo tồn văn hóa, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Nghiên cứu cần đưa ra những khuyến nghị cụ thể để định hướng cho sự phát triển của làng nghề trong giai đoạn tiếp theo. Cần đảm bảo phát triển bền vững làng nghề trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa.

6.1. Khuyến nghị về chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề

Đề xuất các chính sách hỗ trợ cụ thể, thiết thực để giúp làng nghề gốm Gia Thủy vượt qua khó khăn, phát triển bền vững. Chú trọng đến các chính sách về vốn, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và xúc tiến thương mại.

6.2. Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề

Đề xuất các giải pháp sáng tạo để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa làng nghề trong bối cảnh hiện đại. Kết hợp giữa bảo tồn truyền thống và đổi mới sáng tạo.

6.3. Định hướng phát triển du lịch bền vững tại làng gốm Gia Thủy

Đề xuất các giải pháp để phát triển du lịch một cách bền vững, đảm bảo không gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và văn hóa của làng gốm Gia Thủy.

24/04/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Khái quát một số vấn đề lí luận và địa bàn nghiên cứu 5 Chương 2: Làng nghề gốm Gia Thuỷ (xã Gia Thuỷ, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình) từ năm 2007 đến năm 2023. KHÁI QUÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Lí luận chung về làng nghề và làng nghề truyền thống 1. Khái niệm làng nghề và làng nghề truyền thống Người Việt Nam xưa chủ yếu sống dựa vào việc trồng lúa, mà loại cây trồng này lại phụ thuộc vào tính mùa vụ, phụ thuộc vào thiên nhiên,…nên từ đó, các ngành nghề thủ công cũng bắt đầu ra đời.

Ban đầu, các nghề thủ công ở nước ta thường theo quy mô nhỏ, chủ yếu sản xuất ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu hằng ngày. Nghề truyền thống có nhiều giá trị về tinh thần, về kinh tế - xã hội,… vô cùng to lớn và độc đáo, giúp cải thiện được cuộc sống của người dân, tạo ra được những sản phẩm lưu giữ những giá trị văn hoá tốt đẹp,…. Vì vậy, từ việc sản xuất thủ công ở từng nhà lan ra các nhà trong làng. * Làng nghề Làng nghề ở Việt Nam đã có từ rất lâu đời và có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của người Việt.

Hiện nay, đã có nhiều chuyên gia nghiên cứu về làng nghề của Việt Nam, mỗi chuyên gia lại có khái niệm về làng nghề khác nhau. Dưới đây là một số khái niệm: Theo GS Nguyễn Lân trong: “Từ điển từ và ngữ Việt - Nam” (2000), NXB TP. Hồ Chí Minh: “Làng là đơn vị quần cư ở một nơi nhất định trong nông thôn. Nghề là công việc hằng ngày làm để sinh nhai” [15, tr.

Làng nghề là khái niệm chỉ một đơn vị quần cư nhất định ở nông thôn, ở đó có một nghề hoặc nhiều nghề tạo ra thu nhập cho người dân.TS Nguyễn Trí Dĩnh trong Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của Viện đào tạo công nghệ và quản lí quốc tế “Những giải pháp nhằm phát triển làng nghề ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng” (2005) nghiêng về ủng hộ quan niệm: “Làng nghề là những làng ở nông thôn có những nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và thu nhập so với nghề nông. Hiện nay, thì làng nghề không chỉ bó hẹp ở quy mô một làng mà gồm một hoặc một số làng và hiện nay các làng nghề không chỉ có các hộ chuyên làm nghề thủ công, nhiều 7 làng nghề đã áp dụng công nghệ. Trong các làng nghề khi sản xuất phát triển sẽ thúc đẩy các ngành nghề khác phát triển để phục vụ nó” [8, tr. Bùi Văn Vượng trong: “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” (2002): “Làng nghề là làng cổ truyền làm nghề thủ công.

Ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề nông (nông dân). Nhưng yêu cầu chuyên môn hoá cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng quê của mình, hay ở làng nghề, phố nghề nơi khác” [33, tr. Hiện nay, khi cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ, các thành tựu khoa học kĩ thuật được áp dụng vào lao động, sản xuất, nhiều làng nghề đã áp dụng các công nghệ cơ khí, bán cơ khí vào trong lao động, sản xuất; dẫn đến sản xuất trong các làng nghề phát triển, góp phần thúc đẩy các ngành nghề khác phát triển để phục vụ cho mình.

Từ đó, tạo thêm công ăn việc làm ổn định, tăng thêm thu nhập cho người dân, đồng thời cũng đóng góp một phần không nhỏ vào nền kinh tế quốc gia. Theo khoản 2 Điều 3 Nghị định 52/2018/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông thôn: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn quy định tại Điều 4 Nghị định này” [5]. Dựa vào việc xem xét các khái niệm về làng nghề, chúng tôi có thể đưa ra định nghĩa sau đây: Làng nghề là một điểm quần cư nhất định ở nông thôn hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn trong đó người dân chủ yếu sống bằng nghề thủ công. Hiện nay, có một số làng nghề đã áp dụng khoa học công nghệ, máy móc vào trong sản xuất, góp phần thúc đẩy các ngành nghề khác phát triển tạo việc làm cho người dân, góp phần vào sự phát triển bền vững của làng nghề.

* Làng nghề truyền thống Theo ThS. Bùi Văn Vượng trong: “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” (2002): “Làng nghề truyền thống là thực thể vật chất và tinh thần tồn tại 8 cố định của một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống… Làng nghề truyền thống là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu doanh nghiệp vừa và nhỏ, có cùng tổ nghề và các thành viên luôn có ý thức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc. Sự liên kết, hỗ trợ nhau về nghề, kinh tế, kỹ thuật, đào tạo thợ trẻ giữa các gia đình cùng dòng tộc, cùng phường nghề trong quá trình lịch sử hình thành, phát triển nghề nghiệp đã hình thành làng nghề ngay trên đơn vị cư trú, làng xóm truyền thống của họ” [33, tr. Theo khoản 3 Điều 3 Nghị định 52/2018/NĐ-CP, “Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời” [5].

Chúng tôi đưa ra khái niệm về làng nghề truyền thống như sau: Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời. Là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình có sự liên kết, hỗ trợ nhau về nghề, kinh tế, kỹ thuật, đào tạo thợ trẻ, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền. Phân loại làng nghề và làng nghề truyền thống Làng nghề và làng nghề truyền thống tại Việt Nam đã có từ rất lâu đời và vẫn đang phát triển vững mạnh. Những làng nghề này đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa và kinh tế của người dân.

Với sự đa dạng về lịch sử hình thành, ngành nghề, quy mô và sản phẩm, các làng nghề có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Dưới đây là một số cách phân loại chính: Phân loại làng nghề - Theo lịch sử hình thành: + Làng nghề truyền thống: đã tồn tại từ rất lâu, phát triển và duy trì truyền thống như: làng gốm Bát Tràng (Hà Nội), làng thêu Văn Lâm (Ninh Bình),. + Làng nghề mới: là làng nghề xuất hiện gần đây do sự du nhập và hội nhập. - Theo ngành nghề sản xuất kinh doanh: 9 + Làng nghề thủ công mỹ nghệ: làng gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội), làng nón Tây Hồ (Huế),.

+ Làng nghề công nghiệp, cơ khí, chế tác: làng chạm bạc Đồng Xuân (Thái Bình), dát vàng Kiêu Kỵ (Hà Nội),… + Làng nghề chăn nuôi: làng nghề rắn Vĩnh Sơn (Vĩnh Phúc), làng nghề cá cảnh Yên Phụ (Hà Nội),. + Làng nghề trồng trọt: làng trồng cây cảnh Vị Khê (Nam Định), làng trồng hoa đào Nhật Tân (Hà Nội),. - Theo quy mô: + Làng nghề quy mô lớn: nhiều hộ gia đình cùng tham gia, tập trung sản xuất trong một lĩnh vực. + Làng nghề quy mô vừa và nhỏ: hoạt động sản xuất thủ công, cung cấp dịch vụ cá nhân.

- Theo loại hình kinh doanh: + Chuyên sản phẩm: làng mây tre đan Phú Vinh, Phú Nghĩa (Hà Tây),… + Sản phẩm truyền thống tổng hợp: Kiêu Kỵ, Đồng Kỵ,… + Kết hợp sản phẩm truyền thống với ngành nghề mới như: dịch vụ, xây dựng. - Theo phương pháp và công nghệ sản xuất: + Mang bản sắc văn hóa: làm tranh dân gian, dệt thổ cẩm, đồ sơn mài;… + Sản phẩm thông dụng: thủ công mỹ nghệ, dệt may, làm gỗ, thực phẩm;… - Theo tính chất kinh tế có: + Các làng nghề kết hợp nông nghiệp và phi nông nghiệp + Các làng nghề thủ công chuyên nghiệp như: nghề dệt,… - Theo khả năng phát triển của làng nghề có: + Làng nghề phát triển mạnh: là những làng nghề có cơ sở hạ tầng tốt và khả năng cạnh tranh. + Làng nghề phát triển cầm chừng: là những làng nghề gặp khó khăn về nguyên liệu, tiêu thụ. 10 + Làng nghề đang bị mai một: là những làng nghề đang gặp phải tình trạng suy thoái, suy giảm hoặc đang đối mặt với nguy cơ mất đi.

Phân loại làng nghề truyền thống Làng nghề truyền thống đã xuất hiện ở nước ta từ rất sớm và có nhiều làng nghề truyền thống vẫn luôn tồn tại và phát triển đến ngày nay, đến nay đã có rất nhiều các nhà nghiên cứu đã đưa ra các cách phân loại làng nghề truyền thống. Bùi Văn Vượng trong: “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” (2002): Ở nước ta có các làng nghề chủ yếu thuộc các nhóm nghề: * Thủ công mỹ nghệ: nghề gốm, chạm khắc, đúc đồng, rèn, dệt (vải, lụa), đóng thuyền, kim hoàn, may mặc, thêu, làm nón, giày dép, dệt thảm, … * Công cụ sản xuất, vũ khí: nghề làm cày bừa; nghề làm súng, cung, nỏ. * Làm thuốc và chế biến thực phẩm: nghề đông y, thuốc Nam, nấu rượu, làm tương, nước mắm, muối, đậu phụ, ép dầu thực vật, yến sào. Ngoài ra, ta cũng có thể phân chia các làng nghề truyền thống theo cách sau: nghề thủ công mỹ nghệ, nghề chế biến, làm thuốc, nghề dệt - nhuộm, nghề sản xuất kim loại, công cụ sản xuất, vũ khí, nghề khác… 1.

Nguồn gốc hình thành làng nghề Các làng nghề Việt Nam đã tồn tại và phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử. Chúng đại diện cho những thành quả văn hóa và kỹ thuật với các sản phẩm, công cụ và kinh nghiệm sản xuất được gìn giữ đến hiện tại. Những yếu tố này đóng vai trò nền tảng và động lực cho sự phát triển lâu dài và bền vững của các làng nghề trong nước. “Ngay từ thời kỳ cộng sản nguyên thủy, khi làng xã Việt Nam chưa hình thành, bước vào giai đoạn đồ đá cũ xuất hiện cách đây khoảng 30 vạn năm với đặc trưng là nền văn hóa núi Đọ (Thanh Hóa ngày nay).

Đây là địa bàn cư trú đầu tiên của người nguyên thủy Việt Nam. Ngay từ buổi đầu của lịch sử, khi con người vừa xuất hiện, họ đã biết chế tạo các công cụ lao động bằng đá.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ