Chương 1: Khái quát một số vấn đề lí luận và địa bàn nghiên cứu 5 Chương 2: Làng nghề gốm Gia Thuỷ (xã Gia Thuỷ, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình) từ năm 2007 đến năm 2023. KHÁI QUÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Lí luận chung về làng nghề và làng nghề truyền thống 1. Khái niệm làng nghề và làng nghề truyền thống Người Việt Nam xưa chủ yếu sống dựa vào việc trồng lúa, mà loại cây trồng này lại phụ thuộc vào tính mùa vụ, phụ thuộc vào thiên nhiên,…nên từ đó, các ngành nghề thủ công cũng bắt đầu ra đời.
Ban đầu, các nghề thủ công ở nước ta thường theo quy mô nhỏ, chủ yếu sản xuất ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu hằng ngày. Nghề truyền thống có nhiều giá trị về tinh thần, về kinh tế - xã hội,… vô cùng to lớn và độc đáo, giúp cải thiện được cuộc sống của người dân, tạo ra được những sản phẩm lưu giữ những giá trị văn hoá tốt đẹp,…. Vì vậy, từ việc sản xuất thủ công ở từng nhà lan ra các nhà trong làng. * Làng nghề Làng nghề ở Việt Nam đã có từ rất lâu đời và có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của người Việt.
Hiện nay, đã có nhiều chuyên gia nghiên cứu về làng nghề của Việt Nam, mỗi chuyên gia lại có khái niệm về làng nghề khác nhau. Dưới đây là một số khái niệm: Theo GS Nguyễn Lân trong: “Từ điển từ và ngữ Việt - Nam” (2000), NXB TP. Hồ Chí Minh: “Làng là đơn vị quần cư ở một nơi nhất định trong nông thôn. Nghề là công việc hằng ngày làm để sinh nhai” [15, tr.
Làng nghề là khái niệm chỉ một đơn vị quần cư nhất định ở nông thôn, ở đó có một nghề hoặc nhiều nghề tạo ra thu nhập cho người dân.TS Nguyễn Trí Dĩnh trong Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của Viện đào tạo công nghệ và quản lí quốc tế “Những giải pháp nhằm phát triển làng nghề ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng” (2005) nghiêng về ủng hộ quan niệm: “Làng nghề là những làng ở nông thôn có những nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và thu nhập so với nghề nông. Hiện nay, thì làng nghề không chỉ bó hẹp ở quy mô một làng mà gồm một hoặc một số làng và hiện nay các làng nghề không chỉ có các hộ chuyên làm nghề thủ công, nhiều 7 làng nghề đã áp dụng công nghệ. Trong các làng nghề khi sản xuất phát triển sẽ thúc đẩy các ngành nghề khác phát triển để phục vụ nó” [8, tr. Bùi Văn Vượng trong: “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” (2002): “Làng nghề là làng cổ truyền làm nghề thủ công.
Ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề nông (nông dân). Nhưng yêu cầu chuyên môn hoá cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng quê của mình, hay ở làng nghề, phố nghề nơi khác” [33, tr. Hiện nay, khi cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ, các thành tựu khoa học kĩ thuật được áp dụng vào lao động, sản xuất, nhiều làng nghề đã áp dụng các công nghệ cơ khí, bán cơ khí vào trong lao động, sản xuất; dẫn đến sản xuất trong các làng nghề phát triển, góp phần thúc đẩy các ngành nghề khác phát triển để phục vụ cho mình.
Từ đó, tạo thêm công ăn việc làm ổn định, tăng thêm thu nhập cho người dân, đồng thời cũng đóng góp một phần không nhỏ vào nền kinh tế quốc gia. Theo khoản 2 Điều 3 Nghị định 52/2018/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông thôn: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn quy định tại Điều 4 Nghị định này” [5]. Dựa vào việc xem xét các khái niệm về làng nghề, chúng tôi có thể đưa ra định nghĩa sau đây: Làng nghề là một điểm quần cư nhất định ở nông thôn hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn trong đó người dân chủ yếu sống bằng nghề thủ công. Hiện nay, có một số làng nghề đã áp dụng khoa học công nghệ, máy móc vào trong sản xuất, góp phần thúc đẩy các ngành nghề khác phát triển tạo việc làm cho người dân, góp phần vào sự phát triển bền vững của làng nghề.
* Làng nghề truyền thống Theo ThS. Bùi Văn Vượng trong: “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” (2002): “Làng nghề truyền thống là thực thể vật chất và tinh thần tồn tại 8 cố định của một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống… Làng nghề truyền thống là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu doanh nghiệp vừa và nhỏ, có cùng tổ nghề và các thành viên luôn có ý thức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc. Sự liên kết, hỗ trợ nhau về nghề, kinh tế, kỹ thuật, đào tạo thợ trẻ giữa các gia đình cùng dòng tộc, cùng phường nghề trong quá trình lịch sử hình thành, phát triển nghề nghiệp đã hình thành làng nghề ngay trên đơn vị cư trú, làng xóm truyền thống của họ” [33, tr. Theo khoản 3 Điều 3 Nghị định 52/2018/NĐ-CP, “Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời” [5].
Chúng tôi đưa ra khái niệm về làng nghề truyền thống như sau: Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời. Là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình có sự liên kết, hỗ trợ nhau về nghề, kinh tế, kỹ thuật, đào tạo thợ trẻ, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền. Phân loại làng nghề và làng nghề truyền thống Làng nghề và làng nghề truyền thống tại Việt Nam đã có từ rất lâu đời và vẫn đang phát triển vững mạnh. Những làng nghề này đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa và kinh tế của người dân.
Với sự đa dạng về lịch sử hình thành, ngành nghề, quy mô và sản phẩm, các làng nghề có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Dưới đây là một số cách phân loại chính: Phân loại làng nghề - Theo lịch sử hình thành: + Làng nghề truyền thống: đã tồn tại từ rất lâu, phát triển và duy trì truyền thống như: làng gốm Bát Tràng (Hà Nội), làng thêu Văn Lâm (Ninh Bình),. + Làng nghề mới: là làng nghề xuất hiện gần đây do sự du nhập và hội nhập. - Theo ngành nghề sản xuất kinh doanh: 9 + Làng nghề thủ công mỹ nghệ: làng gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội), làng nón Tây Hồ (Huế),.
+ Làng nghề công nghiệp, cơ khí, chế tác: làng chạm bạc Đồng Xuân (Thái Bình), dát vàng Kiêu Kỵ (Hà Nội),… + Làng nghề chăn nuôi: làng nghề rắn Vĩnh Sơn (Vĩnh Phúc), làng nghề cá cảnh Yên Phụ (Hà Nội),. + Làng nghề trồng trọt: làng trồng cây cảnh Vị Khê (Nam Định), làng trồng hoa đào Nhật Tân (Hà Nội),. - Theo quy mô: + Làng nghề quy mô lớn: nhiều hộ gia đình cùng tham gia, tập trung sản xuất trong một lĩnh vực. + Làng nghề quy mô vừa và nhỏ: hoạt động sản xuất thủ công, cung cấp dịch vụ cá nhân.
- Theo loại hình kinh doanh: + Chuyên sản phẩm: làng mây tre đan Phú Vinh, Phú Nghĩa (Hà Tây),… + Sản phẩm truyền thống tổng hợp: Kiêu Kỵ, Đồng Kỵ,… + Kết hợp sản phẩm truyền thống với ngành nghề mới như: dịch vụ, xây dựng. - Theo phương pháp và công nghệ sản xuất: + Mang bản sắc văn hóa: làm tranh dân gian, dệt thổ cẩm, đồ sơn mài;… + Sản phẩm thông dụng: thủ công mỹ nghệ, dệt may, làm gỗ, thực phẩm;… - Theo tính chất kinh tế có: + Các làng nghề kết hợp nông nghiệp và phi nông nghiệp + Các làng nghề thủ công chuyên nghiệp như: nghề dệt,… - Theo khả năng phát triển của làng nghề có: + Làng nghề phát triển mạnh: là những làng nghề có cơ sở hạ tầng tốt và khả năng cạnh tranh. + Làng nghề phát triển cầm chừng: là những làng nghề gặp khó khăn về nguyên liệu, tiêu thụ. 10 + Làng nghề đang bị mai một: là những làng nghề đang gặp phải tình trạng suy thoái, suy giảm hoặc đang đối mặt với nguy cơ mất đi.
Phân loại làng nghề truyền thống Làng nghề truyền thống đã xuất hiện ở nước ta từ rất sớm và có nhiều làng nghề truyền thống vẫn luôn tồn tại và phát triển đến ngày nay, đến nay đã có rất nhiều các nhà nghiên cứu đã đưa ra các cách phân loại làng nghề truyền thống. Bùi Văn Vượng trong: “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” (2002): Ở nước ta có các làng nghề chủ yếu thuộc các nhóm nghề: * Thủ công mỹ nghệ: nghề gốm, chạm khắc, đúc đồng, rèn, dệt (vải, lụa), đóng thuyền, kim hoàn, may mặc, thêu, làm nón, giày dép, dệt thảm, … * Công cụ sản xuất, vũ khí: nghề làm cày bừa; nghề làm súng, cung, nỏ. * Làm thuốc và chế biến thực phẩm: nghề đông y, thuốc Nam, nấu rượu, làm tương, nước mắm, muối, đậu phụ, ép dầu thực vật, yến sào. Ngoài ra, ta cũng có thể phân chia các làng nghề truyền thống theo cách sau: nghề thủ công mỹ nghệ, nghề chế biến, làm thuốc, nghề dệt - nhuộm, nghề sản xuất kim loại, công cụ sản xuất, vũ khí, nghề khác… 1.
Nguồn gốc hình thành làng nghề Các làng nghề Việt Nam đã tồn tại và phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử. Chúng đại diện cho những thành quả văn hóa và kỹ thuật với các sản phẩm, công cụ và kinh nghiệm sản xuất được gìn giữ đến hiện tại. Những yếu tố này đóng vai trò nền tảng và động lực cho sự phát triển lâu dài và bền vững của các làng nghề trong nước. “Ngay từ thời kỳ cộng sản nguyên thủy, khi làng xã Việt Nam chưa hình thành, bước vào giai đoạn đồ đá cũ xuất hiện cách đây khoảng 30 vạn năm với đặc trưng là nền văn hóa núi Đọ (Thanh Hóa ngày nay).
Đây là địa bàn cư trú đầu tiên của người nguyên thủy Việt Nam. Ngay từ buổi đầu của lịch sử, khi con người vừa xuất hiện, họ đã biết chế tạo các công cụ lao động bằng đá.